Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế tại chi cục thuế quận ba đình - Pdf 34

Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình
hình thực tế tại Chi cục thuế quận Ba Đình

Sinh viên
Bùi Đức Cảnh

Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

i

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt
MỤC LỤC

Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

ii

Lớp: CQ47/02.02

Nghị định Chính phủ

NNT :

Người nộp thuế

NSNN :

Ngân sách Nhà nước

QĐ - TCT :

Quyết định Tổng cục thuế

TT - BTC :

Thông tư Bộ Tài chính

TNCN :

Thu nhập cá nhân

TNDN :

Thu nhập DN

TTHT :

Tuyên truyền hỗ trợ



iv

31

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang

Sơ đồ 2.3.

Quy trình hỗ trợ NNT theo cơ chế một cửa

Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

v

33

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp


1

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt

Xuất phát từ những nhận thức ở trên, em đã đi sâu nghiên cứu và chọn
đề tài: “Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên
truyền và hỗ trợ người nộp thuế tại Chi cục thuế quận Ba Đình” làm đề
tài luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về công tác tuyên
truyền và hỗ trợ người nộp thuế
- Đánh giá thực trạng công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT ở chi cục thuế
Ba Đình từ đó xây dựng các biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả công tác
tuyên truyền và hỗ trợ NNT tại Chi cục thuế Ba Đình.
3. Đối tượng , phạm vi và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được giới hạn phạm vi và đối tượng nghiên cứu về công tác
tuyên truyền và hỗ trợ NNT tại Chi cục thuế Ba Đình
- Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận và những quan
điển của chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm phát triển kinh tế của Đảng
kết hợp vận dụng với các phương pháp tổng hợp lý luận, quan sát trực tiếp,
phân tích thực trạng nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
tuyên truyền và hỗ trợ NNT.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các anh chị tại Đội tuyên
truyền và hỗ trợ chi cục thuế Ba Đình và sự chỉ bảo tận tình của cô giáo,
PGS.TS. Nguyễn Thị Liên đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành bài
luận văn này

Hà Nội, tháng 4 năm 2013
Sinh viên
Bùi Đức Cảnh

Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

3

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt
CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TUYÊN TRUYỀN VÀ HỖ TRỢ NNT
1.1.

Khái niệm công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT
Mục tiêu của quản lý thuế trong xã hội hiện đại là tăng tính tuân thủ tự

nguyện của NNT chứ không phải đưa ra những hình thức xử phạt các đối
tượng trốn và tránh thuế. Để thực hiện mục tiêu này, cơ quan thuế không chỉ

Luận văn tốt

Hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật về thuế là nhiệm vụ của cán
bộ thuế, bằng nhiều hình thức và phương pháp phù hợp để tuyên truyền về
chính sách thuế một cách hiệu quả đến NNT và các tầng lớp dân cư.
Nội dung hoạt động tuyên truyền về thuế thường bao gồm các vấn đề
sau:
- Tuyên truyền giải thích về bản chất, vai trò của thuế, các lợi ích xã hội
có được từ việc sử dụng tiền thuế.
- Tuyên truyền phổ biến nội dung các chính sách, pháp luật về thuế.
- Phổ biến các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ
quan thuế, của người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội,
trong việc cung cấp thông tin và phối hợp trong việc thực hiện các luật thuế.
- Phổ biến các thủ tục về thuế, quy định về việc xử lý các vi phạm pháp
luật thuế .
- Tuyên dương khen thưởng NNT chấp hành tốt pháp luật về thuế.
1.2.1.2. Nội dung dịch vụ hỗ trợ NNT
Hỗ trợ NNT tức là việc hướng dẫn, giải thích, tư vấn cho NNT hiểu rõ
các vấn đề liên quan đến chính sách, chế độ thuế đã được quy định. Nếu như
hoạt động tuyên truyền thuế thường được thực hiện theo ý muốn chủ quan của
cơ quan thuế thì các dịch vụ hỗ trợ NNT thường được thực hiện theo nguyện
vọng và yêu cầu từ phía NNT. Khi người nộp thuế có vướng mắc trong quá
trình kê khai, tính thuế, quyết toán thuế hoặc các vấn đề có liên quan khác, họ
có thể đề nghị cán bộ thuế tư vấn.
Hoạt động hỗ trợ NNT có thể bao gồm các nội dung sau đây:
- Hướng dẫn, tư vấn các nội dung về chính sách, chế độ thuế.
- Hướng dẫn, tư vấn các thủ tục, quy trình chấp hành nghĩa vụ thuế như
thủ tục đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, xin miễn giảm thuế …
- Hướng dẫn tư vấn cách lập các mẫu biểu báo cáo về thuế
Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

Hình thức hỗ trợ bằng việc trực tiếp tiếp xúc với NNT, trả lời các
vướng mắc, hướng dẫn NNT các thủ tục liên quan đến thuế có tác dụng là có
thể đáp ứng được mọi yêu cầu NNT một cách nhanh nhất
- Tổ chức các buổi hội thảo, toạ đàm với các doanh nghiệp.
Tuỳ từng đối tượng khác nhau để tổ chức các buổi hội thảo phù hợp với
những loại hình đối tượng đó nhằm nâng cao chất lượng của các buổi hội
thảo, hội nghị. Thông qua các buổi hội thảo, hội nghị đối thoại không những
NNT hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với nhà nước, hiểu rõ
Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

6

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt

hơn về việc áp dụng chính sách thuế đối với doanh nghiệp mình; bên cạnh đó
cơ quan thuế có thể phổ biến chính sách thuế mới, nắm bắt được những
vướng mắc, khó khăn của cơ sở kinh doanh trong việc chấp hành luật thuế,
tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn cho NNT, nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện
chính sách thuế, đặc biệt cần lưu ý các cơ sở mới thành lập, có quy mô lớn,...
- Tổ chức tập huấn về thuế, về các vấn đề liên quan đến thuế cho NNT
nhất là các vấn đề mới. Việc tập huấn cho NNT có thể kết hợp cùng với các
buổi hội thảo, hội nghị đối thoại. Thông thường các cơ quan thuế chủ động tổ
chức các buổi hội thảo, tập huấn khi có chính sách thuế mới để NNT hiểu các
thay đổi về quy định và thủ tục khi thực hiện nghĩa vụ thuế. Với các doanh

thuế
- Phát tờ rơi hướng dẫn
- Niêm yết thông tin tại trụ sở cơ quan thuế: Những điểm mới trong quy
định về thuế hay thông báo của cơ quan thuế đều được niêm yết công khai tại
trụ sở cơ quan thuế để người dân có thể tìm hiểu khi đến liên hệ với cơ quan
thuế.
- Tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài
phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí, các gameshow với chủ đề thuế… để đưa
hình ảnh của cơ quan thuế tiếp xúc rộng rãi với công chúng. Tuyên truyền các
khẩu hiệu trên các panô, áp phích được đặt ở các khu trung tâm, đường giao
thông lớn, phát hành các ấn phẩm tuyên truyền, các tài liệu, sách hướng dẫn
về thuế cũng là một trong những hình thức tuyên truyền được áp dụng rộng
rãi. Thông thường các ấn phẩm tuyên truyền này được biên soạn và in ấn dưới
dạng các tờ rơi quảng cáo với những nội dung đơn giản, gần gũi với NNT.
- Một trong những hình thức TTHT tiện ích khá phổ biến hiện nay, đó
là việc cung cấp thông tin qua mạng Internet. Để sử dụng dịch vụ hỗ trợ này
thì NNT cần đăng ký sử dụng với cơ quan thuế để được cấp tên truy cập và
mật khẩu sau đó sẽ phải tự chịu trách nhiệm trong việc giữ gìn tài khoản
thông tin của mình. Qua hình thức hỗ trợ này, những vướng mắc của NNT
liên quan đến tình hình thu nhập, tình hình kê khai, thanh toán nợ… có liên
quan đến bí quyết kinh doanh sẽ được cơ quan bảo đảm bí mật. Ngoài ra,
NNT có thể tra cứu các thông tin hiểu biểu biết chung về chính sách, thủ tục,
các sắc thuế thông qua trang web của Tổng cục Thuế, qua các diễn đàn trên
mạng về thuế.

Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

8

Lớp: CQ47/02.02

Thứ nhất, hệ thống các văn bản chính sách pháp luật thuế. Chính sách
thuế ổn định sẽ làm cho nội dung, tài liệu tuyên truyền, hỗ trợ không phải
thay đổi thường xuyên, vừa tiết kiệm chi phí vừa tạo tâm lý yên tâm cho
NNT. Hệ thống pháp luật thuế chặt chẽ, rõ ràng và có sự thống nhất giữa
Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

9

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt

thông tư, nghị định với luật, giữa các sắc thuế với nhau sẽ giúp cán bộ thuế trả
lời vướng mắc của NNT được nhanh chóng, thuận tiện, nhất quán, hạn chế
tình trạng trả lời bằng công văn riêng của cấp trên.
+ Những văn bản về thuế có tác động trực tiếp đến quyền lợi của
NNT càng quy định rõ ràng, cụ thể bao nhiêu thì việc tuyên truyền hỗ trợ của
cơ quan thuế càng thuận lợi, dễ dàng hơn. Đơn cử như quy định về thuế
Thu nhập cá nhân, tự in/đặt in hóa đơn. Việc tập huấn trong nội bộ ngành
Thuế diễn ra chậm dẫn đến việc triển khai chính sách mới đến NNT cũng
cập rập. Trong quá trình thực hiện, nhiều tình huống thực tế xảy ra không
có quy định trong văn bản mới hoặc quy định chưa rõ khiến cả NNT lẫn cơ
quan thuế lúng túng, chưa biết hướng xử lý.
+ Nhiều văn bản sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn, tháo gỡ vướng mắc từ
Bộ Tài chính xuống đến Cục Thuế cấp Tỉnh, Thành phố. NNT không thể cập
nhật kịp các văn bản này, ngay cả bản thân cán bộ thuế cũng không thể nhớ

là người hành nghề xe ôm được thuê đi nộp hộ hồ sơ. Khi hồ sơ khai thuế có
sai sót, cán bộ thuế dù có tận tình hướng dẫn thì họ cũng không thể hiểu để
truyền đạt lại cho nhân viên kế toán về nội dung cần điều chỉnh, bổ sung.
Thế là vừa không hiệu quả vửa mất thời gian cho cả đôi bên.
Thứ tư, sự quan tâm của xã hội. Hoạt động HTNNT tuy là của ngành
thuế nhưng rất cần sự phối hợp của các cơ quan ban ngành khác như đài
truyền hình, đài phát thanh, báo chí… Chính vì thế, sự quan tâm, ủng hộ của
cấp lãnh đạo, của các ban ngành có liên quan, sự chú ý của công chúng là chất
xúc tác quan trọng đảm bảo thực hiện và thực hiện có hiệu quả công tác tuyên
truyền, hỗ trợ NNT.
Ngoài ra, còn phải kể đến điều kiện cơ sở vật chất vì nó góp phần hỗ
trợ hoạt động được tốt hơn. Phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động
tuyên truyền hỗ trợ NNT thiếu thốn hay không phù hợp thì cũng khiến nhân
viên thuế gặp khó khăn trong công viêc. Mặt bằng nơi tổ chức tuyên truyền
hỗ trợ chật hẹp, không thoáng mát, không đủ máy móc hỗ trợ tra cứu tài liệu
hoặc soạn thảo văn bản hướng dẫn, đường truyền mạng trục trặc, vv… thì
không thể cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt được.
Với điều kiện nguồn lực cho công tác tuyên truyền hỗ trợ còn thiếu,
cơ quan thuế cần biết phối hợp với các ban ngành, đoàn thể ở địa phương
cùng thực hiện. Sự phối hợp, hỗ trợ tích cực, kịp thời của những đơn vị này
sẽ giúp cơ quan thuế phổ biến chính sách thuế được sâu rộng hơn đến mọi
tầng lớp nhân dân trong xã hội. Do đó, nếu cơ quan thuế không biết sử dụng
Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

11

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính

vụ thuế điện tử. Qua đó, NNT có thể truy cập vào các tài khoản cá nhân của
Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

12

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt

mình để thực hiện kê khai, nộp thuế, yêu cầu giải đáp vướng mắc qua mạng
Internet. Nhờ việc triển khai các ứng dụng này, NNT có thể giảm đáng kể chi
phí đi lại cũng như sự phiền hà trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế.
Thứ ba, với các dịch vụ tư vấn cho NNT, cơ quan thuế đã kịp thời giải
quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc của NNT, giúp họ hiểu các quy định
về thuế đối với trường hợp của mình, từ đó có các định hướng, chiến lược
kinh doanh cho phù hợp.
Thứ tư, công tác TTHT trong cơ quan thuế bảo vệ quyền lợi chính đáng
của NNT. Trước hết, cơ quan thuế cần nâng cao hiểu biết của người dân và
các tổ chức, cá nhân nộp thuế về quyền lợi và nghĩa vụ của mình thông qua
các hoạt động tuyên truyền qua báo chí, tờ rơi, sách hướng dẫn… Khi NNT
không hài lòng với các quyết định của cơ quan thuế, họ có thể gửi khiếu nại
đến cơ quan thuế và bộ phận Bảo vệ quyền lợi cho NNT có trách nhiệm tiếp
nhận và giải quyết các khiếu nại của NNT một cách khách quan và công bằng.
Thứ năm, công tác TTHT góp phần ngăn ngừa rủi ro cho NNT. Thông
qua việc công bố công khai các thông tin cảnh báo về các trường hợp NNT đã
bỏ trốn khỏi địa điểm kinh doanh; các doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; các

và cải thiện hình ảnh của cơ quan thuế trong con mắt NNT và cả cộng đồng.
Nếu cơ quan thuế khi đặt nhiệm vụ chỉ tập trung vào số thu thì các chức năng
quản lý, cưỡng chế thu nợ, thanh tra, kiểm tra để tận thu tiền thuế. Và như thế,
khoảng cách giữa cơ quan thuế và NNT ngày càng nới rộng. Khi đó, hình ảnh
về cơ quan thuế chỉ còn được nhắc đến với những công việc mang tính quản
lý hành chính mà không cần biết đến quyền lợi chính đáng của NNT. Tuy
nhiên, việc chủ động cung cấp các dịch vụ TTHT cho NNT, cơ quan thuế sẽ
đóng vai trò là người bạn đồng hành, người trợ giúp cho NNT hiểu về bản
chất tốt đẹp của tiền thuế, hiểu về chính sách thuế và biết làm thế nào để thực
hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Qua đó, nâng cao vai trò, vị thế và cải thiện hình
ảnh của cơ quan thuế trong con mắt NNT và cả cộng đồng.
Thứ ba, công tác TTHT NNT là một trong những phương pháp, công
cụ quan trọng nhất để đạt tới mục đích là sự tuân thủ tự nguyện cao nhất của
NNT. Một trong các biện pháp quản lý thuế hiện đại là căn cứ theo mức độ
tuân thủ, chấp hành pháp luật thuế của NNT để đánh giá, phân chia NNT ra 4
nhóm sau:
- Nhóm NNT có ý thức tự giác tuân thủ : Đây là nhóm chiếm số lượng
lớn nhất trong tổng số NNT. Nhóm này luôn có xu hướng chấp hành nghiêm

Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

14

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt

15

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt

thực hiện thường xuyên, chưa có định hướng rõ rệt, hình thức còn nghèo nàn,
lượng thông tin cung cấp còn ít ỏi, chưa đáp ứng được yêu cầu của NNT và
xã hội, làm cho nhận thức và hiểu biết của người dân nói chung và của NNT
nói riêng về thuế còn hạn chế.
Bên cạnh đó, hiện nay, chính sách thuế của nước ta cũng tương đối
phức tạp: một luật thuế ra đời, kèm theo cả nghị định và thông tư, dẫn đến
chồng chéo… Một trong những tiêu thức để đánh giá một hệ thống thuế tốt là
tính hiệu quả của hệ thống đó mà thể hiện rõ nét là tính tự giác tuân thủ cao
trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước của NNT. Trên cơ sở
các thông tin và dịch vụ hỗ trợ do cơ quan thuế cung cấp, NNT tiết kiệm được
chi phí, thời gian, công sức dành cho việc nghiên cứu, tìm hiểu và chấp hành
pháp luật thuế, từ đó giảm dần những sai phạm không cố ý trong quá trình
thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Sự tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế
và chấp hành đúng không những sẽ làm giảm chi phí quản lý của cơ quan
thuế như chi phí cho công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, truy thu, cưỡng
chế mà còn giảm tỷ lệ thất thu cho NSNN.
Mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế kéo theo sự gia tăng về số lượng
NNT với quy mô lớn hơn và mức độ sai phạm nghiêm trọng hơn, tinh vi hơn.
Vì vậy, càng cần thiết phải đẩy mạnh công tác TTHT NNT nhằm làm cho các
tổ chức, mọi cá nhân và toàn xã hội kịp thời nắm bắt các quy định về thuế,

xuyên diễn ra các hội quan trọng của Nhà nước, quốc tế và khu vực. Nhắc đến
Ba Đình lịch sử là nghĩ ngay đến một vùng đất địa linh nhân kiệt với nhiều
làng nghề cổ truyền đậm dấu ấn lịch sử như hoa Ngọc Nhà, Lĩnh Bưởi, lụa
Trúc Bạch, giấy gió Yên thái, Hồ Khẩu, đúc đồng Ngũ Xã, bánh cốm Yên
Ninh, rượu sen Thụy Khuê...
Qua bao năm tháng, Đảng bộ và nhân dân Ba Đình luôn giữ vững, kế
thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp ấy để xây dựng thủ đô Hà Nội công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Đặc điểm về điều kiện tự nhiên:
Quận Ba Đình thành lập ngày 31/5/1961, diện tích 9,29 km2, gồm 14 phường
với dân số trên 23 vạn người; phía bắc giáp quận Tây Hồ, nam giáp
quận Đống Đa, đông giáp sông Hồng, đông nam giáp quận Hoàn Kiếm, tây
giáp quận Cầu Giấy.
- Đặc điểm văn hóa – xã hội: Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, Ba Đình
là quận đầu tiên trong cả nước đạt phổ cập giáo dục tiểu học và THCS, xóa
xong lớp học ca 3, phòng học cấp 4. Đến nay, quận đã có 10 trường đạt chuẩn
quốc gia, 100% đội ngũ cán bộ giáo viên đều đạt và vượt chuẩn. Công tác xã
hội hóa giáo dục từng bước được mở rộng về quy mô và loại hình, tạo ra
Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

17

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt


( Nguồn : Chi cục Thuế Ba Đình)
Loại hình doanh nghiệp

Sinh viên: Bùi Đức Cảnh

Số lượng NNT

18

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt

Công ty nước ngoài không theo luật ĐTNN
Công ty hợp danh
Công ty cổ phần
Doanh nghiệp tư nhân
Hộ kinh doanh cá thể
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Hợp tác xã
Nhà nước
Đầu tư nước ngoài
Cá nhân có thu nhập cao
Khác

36

19

Lớp: CQ47/02.02


Học viện Tài chính
nghiệp

Luận văn tốt

đã gây ra những gánh nặng về mặt thủ tục cho NNT, đồng thời cũng không
đảm bảo yếu tố công bằng trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế. Do vậy, trong
thời gian tới để có các sản phẩm tuyên truyền, hỗ trợ phù hợp với đối tượng
này thì cũng cần phải có những cải cách về cả mặt chính sách cũng như công
tác quản lý thuế giúp cho việc tuân thủ của đối tượng này được dễ dàng và
thuận lợi thì cơ quan thuế cần có những biện pháp quản lý ưu tiên nhất định
và nhất là ưu tiên trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn, hỗ trợ cho nhóm này.
2.1.2. Cơ cấu quản lý thuế tại chi cục thuế quận Ba Đình
2.1.2.1. Cơ cấu bộ máy quản lý thuế tại chi cục
Thực hiện quyết định 503/QĐ-TCT ngày 29/03/2010 của Tổng cục
thuế quy định chức năng nhiệm vụ cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục thuế,
Chi cục đã thực hiện các quyết định của Cục Thuế kiện toàn tổ chức bộ máy
theo cơ cấu tổ chức bộ máy mới.
Đến thời điểm hiện nay, tổ chức bộ máy của Chi cục gồm 15 đội với
biên chế 165 CBCC và 9 cán bộ hợp đồng theo Nghị định 68.Trong đó có 1
chi cục trưởng và 3 phó chi cục trưởng,số lượng cán bộ thuế của các đội:
+ Đội tuyên truyền - Hỗ trợ thuế - Ấn chỉ: 11
+ Đội Kê khai & Kế toán thuế: 27
+ Đội Kiểm tra thuế (3 đội): 45
+ Đội Kiểm tra nội bộ: 9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status