Ôn thi lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
Câu 1: Phân tích điều kiện ra đời và đặc trưng nhà nước Văn Lang- Âu Lạc
1)
Cơ sở kinh tế
_ Kinh tế : 500 – 700 năm TCN, xuất hiện công cụ kim loại, 3 lần phân công lao
động
=> KT Pt mạnh, xuất hiện tư hữu về TLSX, tuy nhiên với nền KT chủ yếu là nn,
ruộng đất vẫn là của chung.
Vào đầu thời kì Hùng Vương tương ứng với giai đoạn Phùng Nguyên, công cụ
bằng đá vẫn hoàn toàn chiếm ưu thế vì lúc này đồng còn rất hiếm và thường để chế
tác đồ trang sức. Săn bắn,
hái lượm vẫn là chủ yếu; trong trồng trọt vẫn phổ biến là làm nương rẫy.
Trải qua các giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, nhất là Đông Sơn do công cụ bằng đá
được thay thế dần bằng công cụ bằng đồng thau và bắt đầu xuất hiện công cụ bằng
sắt, nền kinh tế bao gồm nhiều ngành nghề càng phát triển:
-Về trồng trọt: cư dân hậu kì thời đại đồ đồng và sơ kì thời đại đồ sắt đã mở rộng
địa bàn cư trú tràn xuống chinh phục vùng đồng bằng bắc bộ và bắc trung bộ.Cây
trồng chủ yếu là lúa nước, nghề trồng rau củ, cây ăn quả tiếp tục phát triển.
-Chăn nuôi cũng được đẩy mạnh theo đà của trồng trọt
-Nghề thủ công phát triển mạnh:làm đồ gốm ngày càng theo hướng thực dụng,
nghề dệt khá phổ biến, nghề đúc đồng xuất hiện từ đầu thời Hùng Vương và đạt
đỉnh cao ở giai đoạn Đông Sơn.
Tóm lại trong khoảng 2000 năm TCN sức sản xuất và nền kinh tế thời đại Hùng
Vương từ chỗ còn mang dáng dấp kinh tế tự nhiên nguyên thủy ở giai đoạn đầu trải
qua những bước phát triển lâu dài đến giai đoạn cuối đã có những biến đổi lớn
chuyển dần sang nền kinh tế sản xuất là chủ yếu.
1
vương, con người có thể đạt năng suất lao động cao hơn nhiều so với trước, không
chỉ làm ra được sản phẩm đủ nuôi sống họ hàng ngày mà có cả sản phẩm để dành.
Cuối thời Hùng Vương là giai đoạn sơ kì của sự phân hóa giai cấp, trong xã hội đã
hình thành các giai tầng:
+ Thứ nhất là quý tộc: họ vốn là con cháu của các thủ lĩnh liên minh bộ lạc, tộc
trưởng thị tộc cùng gia đình họ. Họ có quyền thế tập địa vị và quyền lợi của cha
ông. Lợi dụng địa vị, chức năng mà cộng đồng trao cho mình, họ chiếm 1 phần sản
phẩm thặng dư trong xã hội, biến sự đóng góp vì lợi ích chung của cộng đồng
thành hình thức bóc lột người sản xuất…dần dần nắm trong tay nhiều của cải và
quyền lực.
+ Thứ 2 là nông dân công xã nông thôn chiếm đa số trong xã hội, giữ vai trò lực
lượng sản xuất chủ yếu.
Như vậy cuối thời đại Hùng Vương sự phân hóa xã hội tuy chưa cao nhưng cùng
với sự phát triển kinh tế đã tạo nên tiền đề vật chất cần thiết cho khả năng ra đời
của nhà nước.
_ Nhu cầu trị thủy : nền KT nn là chủ yếu, sống nd chủ yếu sống ở vùng hạ lưu
sông hồng, nước chảy mạnh, thường xuyên lũ lụt => nc về trị thủy và làm thủy lợi
=> cần nhiều sức ng => cần ng lãnh đạo, chỉ huy => xhien nhóm ng lãnh đạo.
_ Nhu cầu tự về và chống giặc ngoại xâm : Chức năng đối ngoại hàng đầu của các
tộc ng là mở rộng lãnh thổ, VN nằm trong vùng “ bình Bách việt ” của TQ => cần
số lg ng lớn để đi xâm lược, tự vệ cũng như chống giặc ngoại xâm => Cần sự lãnh
đạo, chỉ huy => xh nhóm ng lãnh đạo.
Nhà nước ra đời trong trạng thái phân hóa xã hội chưa tới mức độ sâu sắc như
những nước khác. Nói cách khác, nhà nước ra đời sớm, sớm cả về mặt thời gian và
không gian là do 2 yếu tố tự vệ và trị thủy-thủy lợi thúc đẩy .
-Cuối thời đại Hùng Vương, dân cư tràn xuống chinh phục các vùng đồng bằng
châu thổ của các con sông lớn và phát triển nông nghiệp trồng lúa nước nên công
3
Câu 2: Phân tích cơ sở hình thành và phát triển của nhà nước và pháp luật
Phong kiến Việt Nam.
1 ) Sở hữu
1.1. Sở
hữu công
Thứ nhất,về chính trị , việc xác lập quyền sở hữu tối cao của nhà nước (mà đại diện
là nhà vua) đối với đất đai nhằm khẳng định chủ quyền, sự độc lập,toàn vẹn lãnh
thổ của các triều đại phong kiến Việt Nam đối với các nước láng giềng. Mặt khác,
nhà nước phong kiến Việt Nam mang đầy đủ đặc trưng của một nhà nước quân chủ
chuyên chế trung ương tập quyền nên việc nắm giữ đất đai-tư liệu sản xuất chủ yếu
của xã hội trong tay sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và củng cố bộ
máy chính quyền phong kiến từ trung ương tới địa phương.
Thứ hai, về kinh tế, nghề trồng lúa nước xuất hiện ở nước ta từ rất sớm và đóng vai
trò là một ngành sản xuất chủ yếu. Tuy nhiên, năng suất lao động, hiệu quả kinh tế
của phương thức canh tác lại phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Để khắc phục sự tàn
phá của thiên nhiên đối với sản xuất nông nghiệp như thiên tai, dịch bệnh thì việc
xây dựng, tu bổ hệ thống thủy lợi, đê điều đóng vai trò vô cùng quan trọng. Với
chức năng quản lý xã hội các nhà nước phong kiến sẽ tổ chức các cuộc khai hoang
cẩn hóa các vùng đất mới, đắp đê xây dựng các hệ thống thủy lợi. Với ý nghĩa đó,
mỗi mảnh đất mà người nông dân canh tác đều hàm chứa sức đầu tư của nhà nước.
1.2. Sở
hữu tư nhân
Sở hữu tư nhân trong thời kỳ phong kiến bị hạn chế và luôn bị sự chi phối lớn
quyền sở hữu tối cao của nhà nước. Sở hữu tư nhân về ruộng đất bao gồm:
1. Sở hữu lớn của quan lại, quý tộc được nhà nước ban cấp ruộng đất.
2. Sở hữu nhỏ của những người nông dân do có sức lao động, có quyền mua ruộng
•
Thủ công nghiệp, thương nghiệp tiếp tục bị khống chế khi triều Nguyễn bế
quan, toả cảng. Với nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc, Việt Nam thời phong
kiến không xuất hiện những thế lực có tiềm năng kinh tế lớn đe doạ tới
chính quyền trung ương và làm cho sự cách biệt giữa các tầng lớp xã hội
6
không quá lớn, tính giai cấp của nhà nước và pháp luật do vậy cũng không
sâu sắc.
2) Cơ sở xã hội
2.1 Cơ cấu giai cấp
Xã hội Việt Nam có 2 giai cấp cơ bản là địa chủ phong kiến và nông dân.
- Địa chủ phong kiến gồm 2 bộ phận :
+) Địa chủ quý tộc quan liêu thưởng có nguồn gốc từ hoàng tộc và quan chức
trong bộ máy nhà nước. Do chính sách đãi ngộ của nhà nước phong kiến, quý tộc,
quan liêu dần được địa chủ hoá. +) Địa chủ bình dân: Thưởng có nguồn gốc từ thợ
thủ công, thương nhân, nông dân tự canh… sống rải rác ở các làng xã.
- Nông dân: Ở Việt Nam, ngoài nông dân lĩnh canh còn có một bộ phận đáng kể
nông dân tự canh
2.2 Quan hệ đẳng cấp ở Việt Nam rất phức tạp.
•
Theo địa vị xã hội, thời phong kiến ở VN có 2 đẳng cấp quý tộc: quan liêu và
bình dân.
Nho giáo là học thuyết chính trị – đạo đức
Nội dung cơ bản về đạo đức của Nho giáo trong hơn 2000 năm phát triển là Ngũ
luân và Ngũ thường (luân thường). Vì vậy, Nho giáo rất chú trọng tới việc tu thân
theo đạo luân thường và coi đó là gốc của chính trị. Tu thân là để tề gia, để thiêt lập
trật tự gia đình gia trưởng phong kiến làm cơ sở cho đạo trị quốc và là tiền đề cho
trật tự xã hội. Như vậy, đạo đức Nho giáo đã xác lập chế độ tông pháp gia trưởng
làm cơ sở cho chế độ quân chủ chuyên chế.
Các triều đại phong kiến Việt Nam đều xuất phát từ tư tưởng nho giáo để xây
dựng các thiết chế nhà nước và pháp luật và hoạch định đường lối cai trị của mình.
Dưới thời Nguyễn vua Thiệu Trị đưa ra bốn phương châm cai trị là: Kính thiên,
Pháp tổ Cần chính, Ái dân.
2. Tư tưởng pháp trị
8
Là học thuyết cai trị ra đời ở Trung Quốc từ thời kì Xuân thu – Chiến quốc, với
ba yếu tố Pháp, Thế, Thuật, nội dung cơ bản của học thuyết pháp trị thể hiện ở
những điểm chính yếu sau:
- Dùng pháp luật làm công cụ trị nước, pháp luật phải phù hợp với điều kiện xã
hội, thực thi pháp luật phải nghiêm minh và công khai, mọi người đều bình đẳng
trước pháp luật.
-Bậc làm vua phải củng cố địa vị độc tôn và đề cao uy quyền, phải thâu tóm toàn
bộ quyền lực nhà nước để bảo đảm cho pháp luật được thi hành.
- Bậc làm vua phải có thuật cai trị như thuật dùng người, thuật kiểm tra giám sát,
thuật thưởng phạt…
Tư tưởng pháp trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc xây dựng các thiết chế Nhà
nước và pháp luật và hoạch định đường lối cai trị của Nhà nước phong kiến Việt
Hình thành từ thực tiễn phát triển của lịch sử Việt Nam, tư tưởng chính trị
pháp lí làng xã cổ truyền bao gồm: Tư tưởng tự trị-tự quản, tư tưởng trọng lệ hơn
trọng luật, tư tưởng lão quyền, tư tưởng, tộc quyền và tư tưởng địa vị quan liêu. Tư
tưởng chính trị-pháp lí làng xã là tư tưởng phi chính thống, nó vừa có mặt mâu
thuẫn song lại có mặt thống nhất với tư tưởng chính trị-pháp lí chính thống và có
ảnh hưởng đáng kể tới quá trình hình thành và phát triển của các thiết chế Nhà
nước và pháp luật phong kiến Việt Nam. Bộ máy tự trị-tự quản làng xã và công cụ
quản lí của nó là hệ thống lệ làng dưới hình thức hương ước được nhà nước phong
kiến thừa nhận là một minh chứng cụ thể.
Đồng thời với các tư tưởng truyền thống, cấu trúc xã hội truyên thống “nhà –
làng – nước” đã góp phần hình thành thế ứng xử chính trị hoà đồng, mềm dẻo giữa
làng và nước.
Như vậy, hình thành trên cơ sở kinh tế-xã hội có những đặc trưng riêng và luôn
có sự tương tác giữa tư tưởng chính trị-pháp lí chính thống với các tư tưởng chính
trị-pháp lí truyền thống và phi chính thống khác, đường lối cai trị của Nhà nước
phong kiến Việt Nam là đường lối cai trị kết hợp giữa đức trị với pháp trị.
10
Câu 3: Trình bày những nội dung cơ bản và ý nghĩa của bộ Quốc triều hình
luật
1)
Nội dung cơ bản của bộ Quốc triều hình luật
Bộ quốc triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức là bộ luật hình chính
thống được hoàn chỉnh ở triều đại Lê Thánh Tông (Hồng Đức) thế kỉ 15, là bộ luật
cổ bằng chữ Hán còn lưu giữ được tương đối đầy đủ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm
(Hà Nội). Bộ luật Hồng Đức được lưu lại đến ngày nay bao gồm 13 chương với
8.
Khuyến khích nuôi dưỡng thuần phong mỹ tục
Trong Bộ luật Hồng Đức còn có những điều đặt ra với mục đích để bảo vệ
thuần phong mỹ tục.
13
Ví dụ: Để khuyến khích tình thương yêu đồng loại, đồng tộc, đồng bào trong Bộ
luật Hồng Đức có quy định các điều luật như: "Thôn, phường phải giúp đỡ kẻ ốm
đau không nơi nương tựa, phải chôn cất những người chết đường (đ.294)"; "Phải
chăm sóc người cô quả tàn tật không nơi nương tựa (đ.295), bắt được trẻ lạc phải
báo quan (đ.604)", có người chết đường, dân sở tại phải chôn cất (đ.607).
9.
Chính sách hình sự nghiêm nhưng độ lượng
Tính nghiêm minh trong chính sách hình sự ở Bộ luật Hồng Đức trước hết
được thể hiện ở chỗ các tội ác nào được coi là tội nặng. Các tội được gọi là "tội ác"
gồm có 10 loại: "Thập ác" bao gồm: Mưu phản, mưu đại nghịch, mưu chống đối,
ác nghịch, bất đạo, đại bất kính, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, nổi loạn.
Như vậy theo chính sách hình sự của nhà vua Lê Thánh Tông đã được thể
hiện trong Bộ luật Hồng Đức thì ngoài các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia,
xâm phạm đến quyền lợi của Nhà Vua, thì các loại tội xâm phạm đến thuần phong
mỹ tục như: Bất đạo, bất kính, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân cũng được
coi là những tội ác, thường bị xử phạt với hình thức cao nhất là tử hình.
2)
Ý nghĩa của bộ Quốc triều hình luật
có hoàn cảnh khó khăn; tôn trọng phong tục và văn hoá của các tộc người thiểu số.
- Thứ tư, mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trọng nam khinh
nữ , nhưng những bộ luật cổ Việt Nam vẫn có một số quy định chú ý phần nào đến
quyền lợi và thân phận của người phụ nữ. Cho đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu
đều thống nhất cho rằng: trong những quy định của các bộ luật cổ thời quân chủ,
địa vị của người phụ nữ về cơ bản là thấp kém. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó,
nhân phẩm của người phụ nữ vẫn được các bộ luật cổ đề cao và tôn trọng.
- Thứ năm, các bộ luật cổ Việt Nam đều đề cao và bảo vệ các giá trị đạo đức tốt
đẹp của con người. Chúng ta đều biết, cho dù có thể có những khác biệt về địa lý,
chế độ chính trị và văn hoá, nhưng từ xưa đến nay, nhân loại vẫn luôn đề cao và
15
tôn trọng những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người như: lòng nhân ái, vị tha, sự
hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, sự thuỷ chung trong quan hệ vợ chồng…
Những tiêu chuẩn đạo đức đó cũng đã được ghi nhận và đề cao trong các quy định
của các bộ luật cổ Việt Nam.. Ngoài ra, trong tất cả các bộ luật đều có những quy
định khoan hồng cho kẻ phạm tội nhưng ra đầu thú, ân xá cho những phạm nhân
biết ăn năn, hối cải. Đó cũng là biểu hiện rõ nét lòng vị tha của dân tộc Việt Nam.
Câu 4: Trình bày điểm tiến bộ của bộ Quốc triều hình luật trong các quy định
về thừa kế.
Trong Quốc triều Hình luật, các quy định về thừa kế không nhiều nhưng nội đung
của các quy định đó rất phong phú, chứa đựng những nguyên tắc cơ bản của việc
phân chia di sản. Ngày nay, các nguyên tắc này chúng ta đang áp dụng. Các quy
định về thừa kế được phân chia thành ba nhóm chính sau:
Các quy định chung về di sản, quyền, nghĩa vụ của người thừa kế, những người
không có quyền thừa kế.
Các quy định về thừa kế theo di chúc, quy định hình thức, nội dung của di chúc, di
chúc vô hiệu và hậu quả pháp lí của di chúc vô hiệu.
Các quy định về thừa kế theo pháp luật, quy định về diện, hàng thừa kế, cách phân
vợ - mẹ cóa tài sản riêng, có quyền định đoạt đối với tài sản ấy, người mẹ có toàn
quyền quyết định ai được thừa kế tài sản. Đặc biệt hơn, người con gái trong gia
đình cũng có quyền thừa kế như con trai và được hưởng kỷ phần bằng với con trai,
con gái còn có thể được giữ hương hỏa để thờ cúng ông bà, cha mẹ. Điều này cho
ta thấy sự bình đẳng giới trong Quốc triều hình luật (một trong những tiêu chuẩn
về nhân quyền quốc tế ngày nay). Bộ luật đã có những quy định tương đối tiến bộ,
công nhận cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến một số quyền lợi và phần nào
17
bảo vệ họ đối với thái độ "trọng nam khinh nữ"... Như vậy, việc để ng` phụ nữ dc
thừa kế là một điểm hết sức đặc sắc và tiến bộ không thể thấy ở các bộ luật phong
kiến khác. Mặc dù Bộ luật ra đời vào khoảng thế kỷ 15 nhưng nó đã có sự vượt trội
hơn hẳn so với thời đại của mình, điều này cho thấy kỹ thuật lập pháp của phong
kiến Việt Nam đã tương đối cao.
4. Chế đinh thừa kế trong Quốc triều hình luật đã phân định về nguồn gốc tài
sản của vợ chồng
Tài sản của vợ chồng bao gồm: tài sản riêng của mỗi người và tài sản chung của cả
hai vợ chồng.Tài sản riêng của chồng do nhà chồng đã cho được nhà làm luật gọi
là phu gia điền sản; tài sản riêng do nhà chồng đã cho nhà làm luật gọi là thê gia
điền sản; tài sản chung hai vợ chồng nhà làm luật gọi là tần tảo điền sản. Cũng
giống như chồng, người phụ nữ Việt Nam xưa có tài sản riêng và tham gia các hoạt
động kinh tế. Đó là điều khác biệt với người phụ nữ Trung Quốc. Việc phân định
này còn góp phần xác định việc phân chia thừa kế cho các con khi cha mẹ đã chết
hoặc chia tài sản cho bên còn sống nếu một trong hai vợ hoặc chồng chết trước.
Chính vì sự đặc sắc và tính thực tiễn của kỹ thuật lập pháp như vậy, sau này, các
tòa án Nam triều thời Pháp thuộc, Tòa thượng thẩm Sài Gòn thời Mỹ ngụy hay dựa
theo các điều luật này của Quốc triều hình luật để phân xử các vụ kiện liên quan
đến tài sản vợ chồng.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm hết sức đặc sắc đó, chế định thừa kế trong QTHL
-Hình thức chính thể cơ bản của nhà nước phong kiến Việt Nam
Xét về hình thức chính thể thì các nhà nước phong kiến nói chung đều có một hình
thức chính thể là Quân chủ phong kiến. Chính thể quân chủ ở các nhà nước phong
kiến Việt Nam trải qua hai giai đoạn phát triển.
Trong giai đoạn đầu từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XV (trước thời Lê sơ), sự tập chung
quyền lực nhà nước vào tay vua mới ở mức độ hạn chế. Tổ chức bộ máy nhà nước
của mấy triều đại đầu tiên còn rất đơn giản, với những vị vua còn mang đậm dáng
dấp của những vị thủ lĩnh và phong cách cai trị đậm màu dân dã.
19
Đến giai đoạn cuối thế kỉ XV trở đi, chính thể Quân chủ đã phát triển thành Quân
chủ chuyên chế. Từ đầu thời Lê sơ, cùng với việc Nho giáo trở thành nền tảng lí
luận của nhà nước Quân chủ chuyên chế, trở thành hệ tư tưởng chính thống, giai
cấp phong kiến đã bắt tay vào xây dựng chính thể Quân chủ chuyên chế của mình.
Với cuộc cải tổ thành công của Lê Thánh Tông, nhà nước Quân chủ chuyên chế
được hoàn thiện. Đến triều Nguyễn tính chuyên chế của nền Quân chủ được tăng
cường một bước mới.
Cùng với sự phát triển của nhà nước Quân chủ chuyên chế thì hệ thống Quân chủ
phong kiến Việt Nam càng ngày càng được hoàn thiện và mang những đặc điểm rất
khác biệt, và cũng chính là những đặc điểm của các yếu tố cấu thành nên hệ thống
Quân chủ ấy đó là: Vua – nhân vật trung tâm; Quan lại, quý tộc và hệ thống pháp
luật lễ nghi.
Cũng như nhà nước phong kiến khác, nhà nước phong kiến Việt Nam là thể chế
chính trị bảo vệ quyền lực và quyền lợi của giai cấp thống trị. Trong đó vua là
nguời nắm mọi quyền lực nhà nước, là chủ sở hữu tối cao ruộng đất công trong cả
nước. Trong thể chế chính trị đó có hai mối quan hệ cơ bản: Vua –bầy tôi (quý tộc,
quan lại); Vua – thần dân. Quyền lợi và quyền lực của giai cấp phong kiến, của nhà
nước và các vị quân vương được thể hiện và thực hiện bằng quân đội, đội ngũ quý
tộc quan liêu, lễ nghi và luật pháp.
Về vị trí, chức năng của Quốc hội: Điều 69 của Hiến pháp 2013 quy định
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền
lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám
sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã xác
định rõ Quốc hội thực hiện quyền lập pháp.
2) Cơ cấu tổ chức của Quốc hội
1. Chủ tịch Quốc hội chủ tọa các phiên họp của Quốc hội; ký chứng thực Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo công tác của Ủy ban thường vụ
Quốc hội; tổ chức thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; giữ quan hệ với
các đại biểu Quốc hội.Các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch Quốc hội làm
nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch Quốc hội.
2. Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội.Ủy ban
thường vụ Quốc hội gồm Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các
Ủy viên.Số thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định.
21
Thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viên
Chính phủ.Ủy ban thường vụ Quốc hội của mỗi khóa Quốc hội thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Ủy ban
thường vụ Quốc hội.
3. Hội đồng dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Chủ tịch Hội
đồng dân tộc do Quốc hội bầu; các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng dân
tộc do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.Hội đồng dân tộc nghiên cứu và
kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi
Câu 7: Nêu vị trí, chức năng, cơ cấu tổ chức của Chính phủ nước CHXHCN
VN theo Hiến pháp năm 2013
1)
Vị trí chức năng của chính phủ
Về vị trí, chức năng của Chính phủ: Điều 94 của Hiến pháp 2013 quy định
“Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc
hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước”. Như vậy, Hiến pháp năm 2013
đã xác định rõ Chính phủ thực hiện quyền hành pháp.
Chính phủ có chức năng cơ bản là thực thi Hiến pháp và pháp luật, hoạch
định và điều hành chính sách quốc gia, tổ chức thực hiện phân bổ ngân sách,
quản lý và phát huy tất cả các nguồn lực của quốc gia. Là cơ quan có trách
nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật, Chính phủ bảo đảm quản lý thị trường, quản
lý xã hội, bảo đảm quyền tự do, dân chủ, quyền con người, quyền công dân; duy
trì và bảo đảm trật tự cộng cộng.
1. Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp
Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ thực hiện quyền hành pháp bao hàm cả
vị trí của Chính phủ trong phân công thực hiện quyền lực nhà nước, và chức năng
hành pháp của Chính phủ.
Nói Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, trước hết là nói đến việc phân công
quyền lực (phân quyền) giữa các nhánh quyền lực nhà nước, theo đó, Quốc hội
23
thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp,
Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp. Giữa 3 cơ quan (3 nhánh quyền lực) này
có sự phối hợp và kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện quyền lực được trao.
máy nhà nước tôn trọng và chấp hành nghiêm túc.
Quy định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất là phản ánh
một trật tự trong tổ chức và hoạt động của nền hành chính nhà nước, đề cao tính
thống nhất, thông suốt, có hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý, điều hành
mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Chính phủ là thiết chế có thẩm quyền cao nhất
đối với hệ thống hành chính nhà nước.
3. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội
Tính chất, vị trí và chức năng của Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội
suy cho cùng là việc Chính phủ chấp hành và tổ chức thi hành các đạo luật, các
nghị quyết của Quốc hội; là thể hiện tính chịu trách nhiệm của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ trước Quốc hội; là cơ sở cho việc
thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với Chính phủ; là bảo đảm sự
gắn bó chặt chẽ giữa Chính phủ và Quốc hội, bảo đảm tính thống nhất trong việc
thực hiện quyền lập pháp và hành pháp. Và trên hết là thể hiện đúng nguyên tắc
quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các
cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quốc hội
là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra,
là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Chính phủ có trách nhiệm phải tuân thủ
và thực hiện các luật, nghị quyết của Quốc hội, báo cáo công tác trước Quốc hội,
chịu trách nhiệm giải trình trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
được phân công.
Với quy định khái quát “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất
nước Cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, cơ quan
chấp hành của Quốc hội”, Hiến pháp đã đồng thời thể hiện tính chất, vị trí, chức
25