Sự tương thích của pháp luật việt nam với công ước lahaye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế - Pdf 53

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã
trở thành vấn đề nhân đạo mang tính toàn cầu và đã được thể chế hóa trong pháp luật
quốc tế và pháp luật trong nước của nhiều quốc gia. Vấn đề này cũng được Đảng và
Nhà nước ta quan tâm sâu sắc, biểu hiện cụ thể ở việc quốc hội ban hành Luật nuôi
con nuôi 2010 và việc Việt Nam gia nhập công ước Lahay 2010.
Trong bài viết dưới đây, xin được làm rõ vấn đề “Sự tương thích của pháp luật
Việt Nam với Công ước Lahaye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực
nuôi con nuôi quốc tế”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái niệm về chế định nuôi con nuôi
1.1 Nuôi con nuôi
Với ý nghĩa là một chế định pháp luật, nuôi con nuôi là hệ thống tổng hợp các
qui phạm pháp luật, do nhà nước ban hành điều chỉnh việc xác lập, thực hiện, thay
đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể có liên quan trong việc
cho nhận con nuôi, trên cơ sở hình thành quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận
nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi.
Tại Khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi ghi nhận khái niệm nuôi con nuôi như
sau: “nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con
nuôi và người được nhận làm con nuôi”.
1.2 Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Trong Luật Nuôi con nuôi, tại Khoản 5 Điều 3 có qui định: “Nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt
Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài”.
Từ đó ta có thể hiểu nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là:
- Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;
- Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ở nước ngoài;
1



2


với sự ra đời của Luật Nuôi con nuôi, vấn đề này đã được giải quyết. Điều 4 luật
Nuôi con nuôi ghi nhận nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi như sau:
“1. Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống
trong môi trường gia đình gốc.
2. Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận
làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam
nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
3. Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế
ở trong nước.”
Sở dĩ có sự phù hợp giữa các nguyên tắc giải quyết nuôi con nuôi của pháp luật
Việt Nam và Công ước Lahay là bởi luật nước ta cũng như luật quốc tế đều nhìn nhận
trẻ em là đối tượng cần ược quan tâm đặc biệt, đây là lứa tuổi dễ bị tổn thương nhất vì
nhận thức của các em còn non dại, việc để các em sống trong những môi trường
không phù hợp có thể dẫn đến việc các em có nhận thức lệch lạc về cuộc sống, cái
đúng, cái sai mà từ đó dẫn đến sa ngã. Mặt khác, Việt Nam cũng như các quốc gia
đang phát triển khác đang tiến hành nội luật hóa pháp luật quốc tế do vậy việc xây
dựng, sửa đổi pháp luật quốc gia phải phù hợp với pháp luật quốc tế là điều hiển
nhiên.
2.1.2 Điều kiện người nhận nuôi con nuôi
Xuất phát từ bản chất của việc cho – nhận con nuôi là xác lập quan hệ cha mẹ
và con giữa người nhận nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi nên việc nuôi con
nuôi phải đáp ứng được các điều kiện nhất định do pháp luật quy định. Các điều kiện
đó vừa phải đảm bảo việc cho – nhận con nuôi là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, đồng
thời đảm bảo tạo ra môi trường gia đình tốt nhất cho việc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em
được nhận làm con nuôi.
Điều 21 Luật Nuôi con nuôi quy định về sự đồng ý cho làm con nuôi:
“ 1. Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được

chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp
người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng
làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp
dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này”.
4


Các điều kiện của pháp luật Việt Nam đã cụ thể hóa hai yêu cầu: “đủ tư cách”
và “thích hợp” của Công ước Lahay đối với người xin con nuôi. Như vậy, ta thấy các
điều kiện đối với người xin nhận con nuôi theo pháp luật Việt Nam đã tương thích với
Công ước Lahay. Cả công ước Lahay và pháp luật Việt Nam đều ghi nhận điều kiện
đối với người nhận nuôi con nuôi do pháp luật nước người đó thường trú quy định và
người nhận nuôi con nuôi phải có đủ khả năng nuôi dưỡng các em.
2.1.3 Trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi
Các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài được quy định cụ thể từ Điều 31 đến Điều 37 Luật nuôi con nuôi. Về cơ bản,
các quy định này đã phù hợp với Công ước Lahay:
+ Trình tự, thủ tục để nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài: Sở Tư pháp
kiểm tra hồ sơ và lấy ý kiến của những người liên quan bằng văn bản trong 20 ngày
kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Đối với trẻ em bị bỏ rơi cần được xác minh thì Sở
Tư pháp đề nghị công an tỉnh xác minh và trả lời bằng băn bản trong thời hạn 30
ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp. Khi xác minh đủ điều kiện thì
Sở tư pháp xác nhận và gửi Bộ tư pháp.
Bộ tư pháp kiểm tra và xử lý hồ sơ trong 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
Thời hạn nhận nuôi con nuôi đích danh Bộ tư pháp chuyển hồ sơ cho Sở tư pháp, nơi
giới thiệu làm con nuôi thường trú để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xé quyết
định.
+ Trình tự, thủ tục giới thiệu trẻ em làm con nuôi: Trong thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày nhận được hồ sơ của người nhận con nuôi, Sở tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ

nuôi thì phải có ủy quyền cho người kí. Trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn
có thể kéo dài nhưng không quá 90 ngày. Hết thời hạn nêu trên nếu người nhận con
nuôi không đến nhận con nuôi thì UBND cấp tỉnh hủy quyết định cho trẻ em làm con
nuôi nước ngoài.
Sở tư pháp đăng ký việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về đăng ký
hộ tịch và tổ chức lễ giao nhận nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi đại diện cơ sở nuôi dưỡng
đối với trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ cơ sở nuôi dưỡng hoặc cha mẹ đẻ,
người giám hộ của trẻ em đối với trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ gia đình.
Sau khi giao nhận con nuôi, Sở tư pháp có trách nhiệm gửi đến Bộ tư pháp
quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài của UBND cấp tỉnh, lập biên bản giao
6


nhận con nuôi đồng thời gửi UBND cấp xã nơi thường trú của trẻ em được cho làm
con nuôi nước ngoài.
Bộ tư pháp gửi quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài cho Bộ ngoại
giao để thống báo cho Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài về việc trẻ em
được nhận làm con nuôi để thực hiện biện pháp bảo hộ trẻ em trong trường hợp cần
thiết.
Như vậy, pháp luật Việt Nam đã quy định rất chi tiết về trình tự, thủ tục cho
nhận con nuôi. Ta thấy các quy định này cơ bản đã phù hợp với các quy định của
Công ước Lahay về trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi.
2.2 Những điểm chưa phù hợp
2.2.1 Về điều kiện người được nhận nuôi
Theo Điều 8 Luật Nuôi con nuôi, người được nhận làm con nuôi là:
1. Trẻ em dưới 16 tuổi.
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;
b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

UBND Tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, nơi thường trú của người được
nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi, trường hợp trẻ em ở cơ sở
nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi thì UBND cấp Tỉnh, nơi có trụ sở của cơ sở nuôi
dưỡng trẻ em đó quyết định cho trẻ em đó làm con nuôi.
Sở Tư pháp thực hiện đăng kí việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài sau khi có
Quyết định của UBND cấp tỉnh.
Bộ Tư pháp là đầu mối trong việc bảo đảm thực thi, tạo điều kiện trao đổi thông
tin giữa các nước.
Có thể nhận thấy ở Việt Nam có quá nhiều cơ quan tham gia vào việc giải quyết
việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, Cục nuôi con nuôi thuộc Bộ Tư pháp với tư
cách là cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế của Việt Nam chưa phát huy được
chức năng của mình, chưa có đầy đủ khả năng về thẩm quyền cần thiết giống như các
nước thành viên Công ước Lahay.
8


2.2.3 Hệ quả pháp ly
Điều 24 Luật Nuôi con nuôi quy định hệ quả của việc nuôi con nuôi. Ta thấy
đối với vấn đề này thì pháp luật Việt nam vẫn chưa tương thích với các quy định của
Công ước Lahaye. Pháp luật Việt Nam không quy định rõ ràng và đầy đủ về các hình
thức nuôi con nuôi (đơn giản và trọn vẹn), về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi
(chấm dứt hay vẫn còn tồn tại quan hệ pháp lý giữa cha mẹ đẻ và trẻ em đã được cho
làm con nuôi) và không quy định về chuyển đổi hình thức nuôi con nuôi.
3. Một số kiến nghị để Việt Nam thực hiện hiệu quả Công ước Lahay
Thứ nhất, mặc dù Công ước đã quy định về trình tự, thủ tục giải quyết việc
nuôi con nuôi có thể áp dụng trực tiếp nhưng để đảm bảo thuận tiện cho việc thi hành
Công ước, Việt Nam cần “nội luật hóa” vào các văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết
thi hành Luật Nuôi con nuôi.
Thứ hai, pháp luật cần có quy định cụ thể về hình thức nuôi con nuôi để đáp
ứng nguyện vọng của cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi;


Khái niệm về chế định nuôi con nuôi.........................................................................................................1

1.1 Nuôi con nuôi...................................................................................................................................................1
1.2

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài......................................................................................................1

1.3

Pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài..........................................................2

2. Sự tương thích của pháp luật Việt Nam với Công ước Lahay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác
trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế..............................................................................................................2
2.1 Những vấn đề đã phù hợp..........................................................................................................................2
2.1.1 Nguyên tắc giải quyết nuôi con nuôi....................................................................................................2
2.1.2

Điều kiện người nhận nuôi con nuôi............................................................................................3

2.1.3

Trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi...........................................................................5

2.2

Những điểm chưa phù hợp...............................................................................................................7

2.2.1 Về điều kiện người được nhận nuôi........................................................................................................7
2.2.2 Về thẩm quyền giải quyết nuôi con nuôi.................................................................................................8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status