GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Pháp luật Việt Nam và Công ước Lahaye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác
trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế
1. Các văn bản pháp luật quốc gia
Những văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này có thể được kể đến, đó là: Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000; Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật HN&GĐ về quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài; Nghị
định số 69/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐCP; Thông tư 07/2002/TT-BTP của Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị định 68. Và
hiện nay, văn bản đang điều chỉnh trực tiếp vấn đề nuôi con nuôi, và cũng là văn bản
quan trọng nhất, chính là Luật nuôi con nuôi năm 2010 và Nghị định số 19/2011/NĐCP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi.
2. Các điều ước quốc tế song phương
Ngày 01/02/2000 nước ta đã kí với Cộng hòa Pháp Hiệp định hợp tác nuôi con
nuôi (HĐHTNCN). Đây là điều ước quốc tế song phương đầu tiên trong lĩnh vực
nuôi con nuôi mà Việt Nam kí kết với các nước.
Sau Pháp, Việt Nam đã tích cực tiến hành đàm phán và kí kết một loạt các
HĐHTNCN với các nước, đến nay VN đã kí 16 HĐHTNCN với các quốc gia và
vùng lãnh thổ bao gồm: Cộng hòa Pháp, Vương quốc Đan Mạch, Cộng hòa Ailen,
Vương quốc Thụy Điển, Hoa Kỳ, Canada, Thụy Sĩ... Đến thời điểm này thì
HĐHTNCN giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, Ailen và Thụy Điển đã chấm dứt hiệu lực.
Vấn đề hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn
được đề cập trong các Hiệp định tương trợ tư pháp (đã ký kết 18 Hiệp định), các Hiệp
định lãnh sự (đã ký kết 17 Hiệp định).
3. Công ước Lahaye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con
nuôi quốc tế
Công ước Lahaye 1993 được thông qua ngày 29/5/1993 tại Lahaye (Hà Lan) và
có hiệu lực từ ngày 01/5/1995. Ngày 7/12/2010, được ủy quyền của Chính phủ nước
CHXHCNVN, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước CHXHCNVN tại Vương quốc Hà
Lan – Huỳnh Minh Chính, đã ký Công ước Lahaye về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong
sóc; Nếu vì lý do nào đó mà trẻ em không được cha mẹ đẻ chăm sóc thì cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền có trách nhiệm bảo vệ trẻ em và xem xét tất cả những giải pháp
khác nhau để trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng tại quốc gia mình; nếu các giải pháp
này không thực hiện được thì có thể tìm kiếm giải pháp thay thế như nuôi coi nuôi,
giám hộ hoặc chăm sóc ở trung tâm bảo trợ xã hội; Chỉ cho phép những người ngoài
gia đình ruột thịt của trẻ em nhận trẻ em làm con nuôi, nếu không có khả năng tìm
thấy một nơi ở phù hợp cho trẻ em ngay từ gia đình gốc của mình; Việc nuôi con nuôi
phải làm phát sinh đầy đủ quan hệ cha mẹ và con theo pháp luật; Ưu tiên thu xếp cho
trẻ em làm con nuôi trong nước; việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài chỉ được
coi là giải pháp cuối cùng, sau khi chắc chắn không thể tìm được gia đình thay thế
cho trẻ em ngay tại nước mình; Nghiêm cấm mọi việc thu lợi bất minh từ việc cho trẻ
em làm con nuôi; mọi hành vi lạm dụng và buôn bán trẻ em phải bị xử lý nghiêm
minh.
Điều 4 Luật nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi được thực hiện theo nguyên tắc
sau, và phù hợp với các nguyên tắc của Công ước: “1. Khi giải quyết việc nuôi con
nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc. 2.
Việc nuôi con nuôi phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm
con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và
2
đạo đức xã hội. 3. Chỉ cho làm con nuôi người nước ngoài khi không thể tìm được
gia đình thay thế ở trong nước”.
Đồng thời, để đảm bảo thực hiện việc nuôi con nuôi vì lợi ích tốt nhất của đứa
trẻ, pháp luật Việt Nam còn đưa ra nguyên tắc trong việc xác định thứ tự ưu tiên lựa
chọn gia đình thay thế cho trẻ, cụ thể tại Điều 5 Luật nuôi con nuôi.
1.2. Về điều kiện người nhận nuôi con nuôi
Điều 2 Công ước quy định điều kiện đối với người nhận nuôi được áp dụng khi
trẻ em và cha mẹ nuôi thường trú tại các quốc gia thành viên khác nhau mà không áp
3
Các yêu cầu về trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi được quy định ở
chương IV của Công ước. Các quy định này được xây dựng theo hướng đơn giản hóa
các thủ tục hành chính và hạn chế tối đa các trường hợp trẻ em vô gia cư. Pháp luật,
về cơ bản cũng tương thích với các quy định tương ứng trong Công ước.
Về thủ tục nộp hồ sơ, tại Điều 14 Công ước thì người thường trú ở một quốc
gia thành viên (nước nhận) muốn xin nhận trẻ em thường trú ở một quốc gia thành
viên khác (nước gốc) thì phải liên hệ với cơ quan trung ương có thẩm quyền của
nước nhận. Đây là quy định có tính bắt buộc. Tuy nhiên, đơn xin phép nuôi con nuôi
không nhất thiết phải nộp tại cơ quan trung ương mà có thể nộp tại cơ quan nhà nước
khác hoặc cho một tổ chức được chỉ định tại nước nhận nếu pháp luật cho phép. Theo
Luật nuôi con nuôi, toàn bộ hồ sơ của người xin nhận con nuôi được nộp tại Cục con
nuôi. Trường hợp nhận con nuôi đích danh thì người nhận con nuôi trực tiếp nộp hồ
sơ tại Cục con nuôi. Trường hợp nhận con nuôi không đích danh thì người nhận con
nuôi thường trú tại nước là thành viên của Điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi
với Việt Nam nộp hồ sơ cho Cục con nuôi thông qua tổ chức con nuôi của nước đó
được cấp phép hoạt động tại Việt Nam, nếu nước đó không có tổ chức con nuôi được
cấp phép hoạt động tại Việt Nam thì người nhận con nuôi nộp hồ sơ cho Cục Con
nuôi thông qua Cơ quan đại diện ngoại giao hoặc Cơ quan lãnh sự của nước đó tại
Việt Nam.
Về trình tự, thủ tục để nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, cơ quan trung
ương nước nhận có trách nhiệm kiểm tra các điều kiện để được nhận con nuôi, nếu
những người xin con nuôi đáp ứng các điều kiện và thích hợp để nuôi con nuôi thì cơ
quan này phải làm một báo cáo bao gồm những thông tin về người xin nhận con nuôi
và sự phù hợp để nuôi con nuôi, về khả năng đảm bảo việc nuôi con nuôi quốc tế
cũng như các đặc điểm của trẻ em mà họ thấy thích hợp để nhận nuôi. Báo cáo đó
phải được chuyển cho cơ quan trung ương của nước gốc. Sau khi nhận báo cáo của
cơ quan trung ương nước nhận, cơ quan trung ương nước gốc nếu nhận thấy trẻ em
nuôi con nuôi theo đúng chuẩn mực Công ước như: chưa có quy định đảm bảo đầy đủ
quyền quyết định của Cục con nuôi với tư cách là cơ quan trung về nuôi con nuôi
quốc tế.
2. Những quy định còn chưa tương thích
2.1. Về điều kiện người được nhận nuôi
Theo Điều 3 Công ước Lahaye thì người được nhận nuôi là trẻ em dưới 18
tuổi. Theo hướng dẫn của Ủy ban thường trực Công ước Lahaye thì quy định này chỉ
nhằm mục đích xác định phạm vi áp dụng của Công ước chứ không có ý tạo lập độ
tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi; tức nếu nước gốc cho trẻ em làm con nuôi ở
độ tuổi thấp hơn, ví dụ như 15 tuổi thì pháp luật nước gốc sẽ được áp dụng mà không
tính đến Điều 3 Công ước.
Theo pháp luật Việt Nam, Điều 8 Luật nuôi con nuôi, người được nhận làm con
nuôi là: “1. Trẻ em dưới 16 tuổi. 2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc
một trong các trường hợp sau đây :a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; b)
Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi”.Nhận thấy, phạm vi trẻ em có thể
được nhận làm con nuôi theo pháp luật Việt Nam hẹp hơn so với công ước Lahaye.
Trẻ em Việt Nam dưới 16 tuổi và một số trường hợp nhỏ từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi
mới có thể được nhận làm con nuôi trong khi theo công ước Lahay thì người có thể
được nhận làm con nuôi là người dưới 18 tuổi. Nên chăng cần mở rộng phạm vi trẻ
em có thể được làm con nuôi theo pháp luật Việt Nam cho phù hợp với thông lệ quốc
tế. Mặt khác việc quy định trẻ em từ 16 đến dưới 18 tuổi có thể được làm con nuôi sẽ
mang đến nhiều cơ hội hơn cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn bởi phần lớn trẻ em
trong độ tuổi này ở nước ta khó có thể tìm được một công việc ổn định để tự nuôi
5
sống bản thân, việc phải bươn chải kiếm sống quá sớm có thể khiến các em dễ bị lôi
kéo, dụ dỗ vào con đường phạm pháp.
2.2. Về thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi
nhiều trường hợp, Bộ tư pháp đã hoàn tất các thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi
nhưng cuối cùng UBND cấp tỉnh lại không ra quyết định cho trẻ em Việt Nam làm
con nuôi, hoặc thời hạn chờ đợi để ra quyết định ở địa phương là rất lâu. Điều này có
ảnh hưởng đến việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em, nhất là đối với những trẻ cần sự
chăm sóc đặc biệt. Bộ Tư pháp chưa chủ động quyết định cho trẻ em làm con nuôi
người nước ngoài, vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em.
6
Như vậy, có thể nhận thấy là ở Việt Nam có nhiều cơ quan tham gia vào việc
giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Cục con nuôi thuộc Bộ tư pháp với tư
cách là cơ quan trung ương về con nuôi quốc tế của Việt Nam chưa phát huy được
chức năng của mình, chưa có đầy đủ khả năng và thẩm quyền cần thiết giống như ở
các nước thành viên Công ước Lahaye. Trên thực tế, Cục con nuôi mới chỉ thực hiện
chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi con nuôi và tham gia một số khâu
trong quá trình giải quyết hồ sơ mà chưa được trao quyền quyết định việc cho nhận
con nuôi. Cục con nuôi chưa xứng tầm với cơ quan trung ương theo Công ước
Lahaye. Để tăng cường vị thế, vai trò của cơ quan trung ương của Việt Nam khi tham
gia Công ước Lahaye, Cục con nuôi phải được tăng thẩm quyền, kiện toàn tổ chức và
hoạt động. Thêm nữa, hình thức về tổ chức ủy quyền cũng chưa được quy định trong
các văn bản pháp luật, mặc dù không có quy định cấm.
2.3. Về hệ quả pháp lý
Tại Điều 26 và Điều 27, Công ước Lahaye ghi nhận hệ quả việc nuôi con nuôi
bao gồm công nhận mối quan hệ pháp lí giữa cha mẹ – con, trách nhiệm của cha mẹ
nuôi đối với trẻ em, công nhận việc cắt đứt hay không mối liên hệ tồn tại trước đó
giữa đứa trẻ và cha mẹ đẻ theo pháp luật của nước nơi thực hiện việc nuôi con nuôi.
Trong các hệ quả pháp lí nêu trên thì nội dung quan trọng nhất là xác định việc
chấm dứt hay không chấm dứt quan hệ giữa đứa trẻ với cha mẹ đẻ tương ứng với hai
hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn và nuôi con nuôi đơn giản phụ thuộc vào quy định
của pháp luật quốc gia. Hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn được áp dụng chủ yếu với