PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RAU AN
TOÀN VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỊ TRƯỜNG RAU AN
TOÀN
1.1. Một số lý luận về rau an toàn
1.1.1. Khái niệm rau an toàn
Lâu nay, người tiêu dùng đã quen với cụm từ “RAT”. Nhưng, thế nào là
RAT, chắc hẳn không nhiều người tường tận. Chúng ta cần phân biệt ba
loại rau: Rau đại trà, RAT và rau sạch.
Rau đại trà: là các loại rau đang sử dụng truyền thống, được tổ chức
sản xuất theo các tập quán khác nhau từng địa phương, không có quy
trình thống nhất và chất lượng cũng rất khác nhau.
Rau an toàn:
Có hai quan điểm về RAT:
Theo quyết định 106/2007 của Bộ NN & PTNT, RAT là những sản phẩm
rau
tươi được sản xuất, thu hoạch, sơ chế phù hợp quy trình sản xuất RAT,
gồm các loại rau ăn: lá, thân, củ, hoa, quả, hạt; rau mầm, nấm thực
phẩm. Đồng thời, RAT được sản xuất từ đất trồng, nguồn nước, môi
trường, dinh dưỡng… tất cả đều phải sạch và đúng quy trình GAP (Good
Agricultural Practices). Nguồn nước tưới rau không bị ô nhiễm bởi các
sinh vật và hoá chất độc hại, hàm lượng một số hoá chất không vượt quá
mức cho phép...Từ đó, rau quả được coi là an toàn khi có dư lượng
nitrat, kim loại nặng và thuốc BVTV, mức độ nhiễm vi sinh vật dưới
ngưỡng quy định của Bộ NN & PTNT ban hành với từng loại rau quả.
Theo các chuyên gia, RAT là loại rau mà ngay từ khâu gieo trồng không
bị bón phân đạm, hoặc bón rất ít phân đạm để tránh ô nhiễm muối
nitrat, thay vào đó phải bón phân vô cơ như phân chuồng, phân bắc ủ
hoai.
Âu EURPWG (Euro- Retailer Produce Working Group) nhằm giải quyết
mối
quan hệ bình đẳng và trách nhiệm giữa người sản xuất sản phẩm nông
nghiệp và khách hàng của họ. Họ đưa ra khái niệm GAP từ năm 1997.
Nguyên tắc sản xuất RAT theo tiêu chuẩn GAP đó là:
Chọn đất: Đất trồng rau phải là đất cao, thoát nước tốt,
thích hợp với quá trình sinh trưởng, phát triển của rau. Tốt nhất là
chọn đất cát pha, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình có tầng canh
tác dày 20-30 cm. Vùng trồng rau phải cách ly với khu vực có chất thải
công nghiệp nặng và bệnh viện ít nhất 2km, với chất thải sinh hoạt của
thành phố ít nhất 200m. Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim loại nhưng
không được tồn dư hóa chất độc hại.
Nước tưới: Vì trong rau xanh nước chứa trên 90% nên việc tưới nước có
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Nếu không có nước giếng
cần dùng nước sông, ao, hồ không bị ô nhiễm. Nước sạch còn dùng để
pha
các loại phân bón lá, thuốc BVTV… đối với các loại rau ăn quả giai
đoạn đầu có thể sử dụng nước từ mương, sông, hồ để tưới rãnh.
Giống: Chỉ gieo những hạt giống tốt và trồng cây con khỏe mạnh, không
có mầm bệnh. Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống. Hạt giống
nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật. Trước khi gieo trồng hạt giống
phải được xử lý hóa chất hoặc nhiệt. Trước khi trồng cây con xuống
ruộng cần xử lý Sherpa 0,1% để phòng trừ sâu hại sau này.
Phân bón: Mỗi loại cây có chế độ bón và lượng bón khác nhau. Trung
bình để bón lót dùng 15 tấn phân chuồng và 300 kg lân hữu cơ vi sinh
cho 1 ha. Tuyệt đối không dùng phân chuồng tươi để loại trừ các vi
sinh vật gây bệnh, tránh nóng cho rễ cây và để tránh sự cạnh tranh đạm
giữa cây trồng và các nhóm vi sinh vật. Tuyệt đối không dùng phân tươi
trừ bệnh, thuốc trừ cỏ, thuốc diệt chuột và thuốc kích thích sinh
trưởng cây trồng, gọi tắt là thuốc BVTV. Như vậy, thuốc BVTV khi
phun
vào cây trồng thuốc sẽ tạo thành lớp mỏng bám vào bề mặt thân, lá và
mặt đất, mặt nước và 1 lớp chất đó nó còn tồn đọng lại trên sản phẩm
thì gọi là dư lượng thuốc BVTV. Năm 2009, ở Việt Nam sử dụng trên
200
loại thuốc trừ sâu, trên 80 loại thuốc trừ bệnh, trên 50 loại thuốc
trừ cỏ, khoảng 8 loại thuốc diệt chuột và khoảng 9 loại thuốc kích
thích sinh trưởng cây trồng. Khi sử dụng cần lưu ý những điểm sau:
- Khi sử dụng thuốc BVTV cần đảm bảo thời gian cách ly: Ví dụ một
loại thuốc ghi trên nhãn là thời gian cách ly 7 ngày, nghĩa là từ khi
phun thuốc đến khi thu hoạch phải được 7 ngày.
- Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi thật cần thiết và chỉ sử dụng những loại
thuốc BVTV thuộc nhóm 1 hay nhóm 2 hoặc thuốc trừ sâu sinh học.
- Để phân biệt từng nhóm thuốc BVTV, có thể xác định bằng vạch màu
ghi
trên nhãn Thuốc BVTV ở nhóm 1 có vạch màu đỏ. Thuốc BVTV ở
nhóm 2 có
vạch màu vàng. Thuốc BVTV ở nhóm 3 có vạch màu xanh nước biển .
Thuốc
BVTV ở nhóm 4 có vạch màu xanh lá cây. Ví dụ: Dư lượng thuốc
BVTV tối
đa cho phép đối với rau cải là nhóm Diazion: 0,7mg/kg +Nhóm
cypermethrin: 1,0 mg/kg + nhóm Meviaphos: 1,0mg/kg + nhóm
Trichlorphos: 0,2mg/kg.
Hàm lượng Nitrát (NO3): Lượng phân hoá học sử dụng ở Việt Nam
không
tươi (phân người) cho rau đã trở thành một tập quán canh tác trong sản
xuất rau xanh, sử dụng phân gia súc chưa qua ủ, hoặc là chưa hoai mục
chính là mầm mống tạo nên các vi sinh vật độc hại.
Tóm lại, sản phẩm rau được xem là RAT khi đáp ứng được các yêu cầu
sau:
- Tươi, sạch bụi bặm, tạp chất; thu đúng độ chín có chất lượng cao
nhất, không có triệu chứng bệnh; hấp dẫn về hình thức,bao bì.
- Sạch an toàn về chất lượng: Khi sản phẩm rau không chứa các dư
lượng thuốc BVTV dư lượng NO3, dư lượng kim loại nặng, vi sinh vật
gây
hại.
1.2. Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với thị trường
rau an toàn
1.2.1. Quản lý nhà nước về thị trường rau an toàn
Quản lý có thể hiểu với ý nghĩa thông thường, phổ biến, với phạm vi
rất rộng là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức của chủ thể
vào đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành
vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và sự phát triển của đối
tượng theo những mục tiêu đã định.
QLNN là hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà
nước
(công quyền) để điều chỉnh các quá trình xã hội, hành vi của công dân
và mọi tổ chức xã hội (chính trị- kinh tế- xã hội), giữ gìn trật tự xã
hội (thể chế chính trị) và phát triển xã hội theo những mục tiêu đã
định.
QLNN về thị trường RAT là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông
qua
các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách, nhà nước sẽ tác động
tự mang ra chợ bán lẻ nên việc tiêu thụ không dễ dàng và không đảm
bảo
thu nhập của người nông dân.
Từ những thực trạng trên cho thấy tầm quan trọng và cần thiết của
QLNN
đối với thị trường RAT như thế nào. Cần có sự quản lý của Nhà nước để
đảm bảo quyền lợi cho người sản xuất và kinh doanh RAT đồng thời
đảm
bảo sức khỏe, quyền lợi của người tiêu dùng, giúp họ yên tâm hơn khi
mua RAT.
1.2.3. Nội dung của quản lý nhà nước về thị trường RAT
1.2.3.1. Ban hành các văn bản, chính sách, chiến lược và quy hoạch
liên quan đến thị trường rau an toàn
Nhà nước ban hành, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật đối với
vấn
đề quản lý nhà nước về thị trường RAT
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành
theo thẩm quyền, hình thức, trình tự thủ tục được quy định trong luật
của hội đồng nhân dân, UBND, trong đó có các quy tắc sử xự chung, có
hiệu lực bắt buộc chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện để điều
chỉnh
các quan hệ xã hội.
Xác lập các cơ sở đúng đắn cho các hoạt động trên thị trường RAT được
xem là điều kiện tiên quyết đảm bảo thị trường RAT hoạt động ổn định,
bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất và kinh doanh RAT. Nhà
nước thông qua cơ chế cưỡng chế buộc các chủ thể sản xuất và kinh
doanh RAT phải thực hiện đúng những quy định đã đề ra. Từ đó, người
sản xuất và kinh doanh RAT có thể đưa ra phương thức phát triển hợp
Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg ban hành “một số chính sách hỗ trợ
phát
triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn.
Quyết định số 104/2009/QĐ-UBND ban hành “quy định về quản lý sản
xuất
và kinh doanh RAT trên địa bàn thành phố Hà Nội”…
1.2.3.2. Quản lý chấp hành chế độ quy định và luật pháp trong hoạt
động sản xuất và kinh doanh RAT
Kiểm tra việc đăng ký sản xuất và kinh doanh RAT của các cá nhân và tổ
chức.
Sở NN và PTNT: thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các Quy trình kỹ
thuật sản xuất RAT, các quy định về sơ chế RAT. Kiểm tra chất lượng
RAT ở các khâu từ sản xuất, sơ chế, kinh doanh RAT theo quy định.
Sở Công thương: thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về
điều kiện kinh doanh RAT của các cửa hàng, quầy hàng kinh doanh RAT
trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Sở Y tế: thanh tra, kiểm tra công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và
chất lượng RAT ở các cơ sở chế biến, các cửa hàng, quầy hàng kinh
doanh RAT trên địa bàn thành phố Hà Nội. Phát hiện và xử lý theo thẩm
quyền những hành vi vi phạm chế độ quy định và luật pháp trong hoạt
động sản xuất và kinh doanh RAT.
Tổ chức, cá nhân và hộ gia đình vi phạm các quy định trong “Quy định
về quản lý sản xuất và kinh doanh RAT trên địa bàn thành phố Hà Nội”
sẽ bị xử lý theo quy định tại Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày
15/10/2008 của Bộ Nông nghiệp và kênh phân phối RAT
1.2.3.3. Quản lý cơ sở hạ tầng và hệ thống kênh phân phối
Cơ sở hạ tầng và hệ thống kênh phân phối có vai trò quan trọng trong
và kinh doanh RAT hoạt động tốt trên thị trường.
Kiểm tra chặt chẽ các loại rau nhập khẩu từ Trung Quốc và đặc biệt là
các loại rau không rõ nguồn gốc.
Ngoài các nội dung chủ yếu trên, Nhà nước còn tham gia vào quản lý giá
rau, thuốc BVTV, khuyến khích đội ngũ các nhà khoa học tham gia
nghiên
cứu và tạo ra giống cây trồng mới và thuốc BVTV mới giúp người sản
xuất nâng cao năng suất.
PHẦN II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG RAU AN TOÀN VÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỊ TRƯỜNG RAU AN TOÀN TRÊN
ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY
2.1. Thực trạng thị trường RAT trên địa bàn Hà Nội hiện nay
2.1.1. Nguồn cung RAT trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Đến nay, đại bộ phận người tiêu dùng Thủ đô đã biết đến RAT. Để có
RAT
đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của người tiêu dùng, thành phố Hà Nội
đã
quy hoạch các vùng trồng RAT tập trung ở các huyện ngoại thành: Đông
Anh, Gia Lâm, Từ Liêm... với tổng diện tích gần 3.000 ha gieo trồng,
đồng thời xây dựng các mô hình sản xuất RAT có chất lượng cao.
Tính đến ngày 25/3/2009, trên địa bàn thành phố Hà Nội có 20 cơ sở,
HTX được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất và sơ chế RAT. 20
cơ sở này đều nằm trong vùng quy hoạch sản xuất RAT của thành phố
với
đầy đủ các điều kiện về đất, nước tưới và vị trí. Theo đánh giá của
Chi cục BVTV Hà Nội, các hộ sản xuất RAT trong khu vực được cấp
giấy
35
30
3
20 - 25 3600-4500
3
3
Theo mùa 43 loại
16 -18 1700-1900
Xu hào, bắp cải, bí
16 - 18 1400-1650
Cà chua, xu hào, cải
Xã Nguyên Khê, Tiên Dương, Kim Chung, Kim Nổ
4500-4800
Cà
100
3
15-16
50
3
15-16 2250-2400
Các loại rau theo mùa
3.Thanh Trì
Xã Lĩnh Nam 20
ngót, mồng tơi, bí…
Xã Yên Mỹ
Xã Duyên Hà
loại…
15
25
3
3
19-20 1140-1200
Các loại rau muống,
15-16 675-720 Súp lơ, bí và cải các loại
3
15-16 1120-1200
3
15
450
Bắp cải, xu hào, cải các loại,
Nguồn :rauhoaquavietnam.vn
Trên đây là bảng số liệu về diện tích, năng suất và sản lượng của một
số huyện trên địa bàn Hà Nội năm 2009. Sản lượng RAT và rau đại trà
của Hà Nội đạt 175.000 tấn/ năm, trong khi nhu cầu tiêu thụ của Hà Nội
hiện khoảng 1.200 tấn/ ngày. Như vậy chưa cần bàn đến chất lượng thì
cung cũng chỉ mới đáp ứng được 40% lượng cầu, còn 60% phải nhập từ
các
địa phương khác. Riêng về sản xuất RAT mới chỉ đáp ứng 18% nhu cầu
vào
khoảng gần 300 tấn/ngày. Vì vậy, lượng rau thiếu hụt tất yếu sẽ được
nhập từ các địa phương khác, trong đó chủ yếu là các tỉnh, thành phố
gần với Hà Nội về khoảng cách địa lý như Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hưng
Yên, Nam Định, Phú Thọ…
Ngoài ra, mỗi ngày có khoảng 400 tấn rau, củ, quả nhập khẩu từ Trung
Quốc vào Việt Nam qua các cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn), Móng Cái
(Quảng Ninh), Hà Khẩu (Lào Cai)… Tuy nhiên, chất lượng các loại rau
quả nhập khẩu, đặc biệt là về dư lượng các thuốc BVTV, hóa chất bảo
quản lại chưa được các cơ quan chức năng kiểm định. Trên thực tế các
cơ quan chức năng đang buông lỏng quản lý, “đá bóng” trách nhiệm cho
Lâm, Hà Nội; HTX dịch vụ nông nghiệp Đông Dư; HTX dịch vụ Đồng
Tâm,
phường Giang Biên; HTX dịch vụ nông nghiệp Lĩnh Nam, quận Hoàng
Mai…còn lại được nhập từ các địa phương khác trong cả nước. Tính đến
năm 2009 Hà Nội đã có khoảng 12.000 ha rau trong đó có khoảng 2.105
ha
diện tích sản xuất RAT, chiếm khoảng 18% trên tổng diện tích trồng rau
của toàn thành phố. Sản lượng RAT làm ra mỗi năm mới chỉ đáp ứng
được
18% nhu cầu, nhưng việc tiêu thụ loại rau này lại rất chật vật. Tại
nhiều vùng trồng RAT, người trồng rau luôn khốn đốn tìm đầu ra.
Sản xuất RAT đòi hỏi chi phí bỏ ra nhiều hơn chi phí sản xuất rau đại
trà khoảng 30 - 35%. Khác với sản xuất rau thông thường, sản xuất RAT
đòi hỏi yêu cầu khắt khe trong cả quá trình sản xuất. Ngoài việc đảm
bảo các tiêu chuẩn về đất trồng, nước tưới, từ khâu giám sát đầu vào,
quy trình gieo trồng chăm sóc, đến khâu thu hoạch tiêu thụ sản phẩm
đều phải đảm bảo theo các tiêu chuẩn quy định. Khi sản xuất RAT
những
người dân mong muốn cung cấp cho thị trường những sản phẩm RAT
đảm bảo
chất lượng. Tuy nhiên, với chi phí cao như vậy thì đòi hỏi giá RAT
cao hơn giá rau đại trà là điều tất yếu. Trên thực tế không phải tất
cả RAT được sản xuất ra đều được bán với đúng giá trị của nó. Trừ
những nơi sản xuất có thương hiệu như: Đặng Xá, Đông Dư, Lĩnh
Lam… có
cơ sở đứng ra thu mua tận ruộng, đầu ra của những địa phương này được
lượng RAT nhập về. Đó là cơ sở kinh doanh lớn có uy tín có quy trình
kiểm tra hiện đại. Có 53,33% cơ sở kinh doanh RAT trả lời là họ chỉ
kiểm tra được một phần RAT nhập về. Họ chỉ kiểm tra bao gói sản phẩm
có đạt yêu cầu không, RAT có dập nát hay thối không… còn dư lượng
thuốc BVTV trong rau thì họ không thể kiểm tra được. Các phương
pháp có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá chất lượng của
rau như: phương pháp cảm quan, phương pháp thí nghiệm, phương
pháp chuyên viên, phương pháp sử dụng thử. Việc đánh giá chất
lượng rau bằng phương pháp cảm quan đơn giản, tiện lợi, chi phí
thấp nhưng độ chính xác không cao, khó khách quan. Việc xác định
các chỉ tiêu về VSATTP bằng phương pháp thí nghiệm độ chính xác
cao, khách quan, tin cậy nhưng đòi hỏi thời gian dài (2-3 ngày) và
chi phí quá lớn (1,5-3 triệu đồng/1 mẫu), tốn công sức và không
phải lúc nào cũng thực hiện được và không phải ai cũng làm
được, phương pháp này hầu như chỉ có các cán bộ chi cục BVTV
và quản lý thị trường thực hiện... Mà rau quả là mặt hàng thực
phẩm tươi sống, nhanh hư hỏng nên việc dùng các biện pháp kỹ thuật để
kiểm tra chất lượng rau là không khả thi trên thực tế. Nguyên nhân thứ
ba do việc sản xuất RAT cho năng suất thấp và chi phí cao nhưng trong
thực tế nhiều người dân lại phải bán như giá rau thường. Vì vậy một
bộ phận người sản xuất đã không mặn mà với việc sản xuất RAT.
Một nguyên nhân khác là do các cơ sở kinh doanh RAT muốn thu lợi
nhuận
cao nên đã mua rau trôi nổi trên thị trường về gắn nhãn RAT và bán với
giá của RAT khiến người tiêu dùng nghi ngờ chất lượng của RAT.
Tình trạng này khá phổ biến trên thị trường hiện nay.
Một phần RAT được cung cấp đến người tiêu dùng thông qua hệ thống
cửa