Một số biện pháp cơ bản nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần vận tải biển bắc - Pdf 34

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các bảng biểu,
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Học viên

CN. Đỗ Thị Nga

i


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn cô PGS.TS Nguyễn Hồng Vân đã tân tình hướng
dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các cán
bộ Viện Đào tạo sau đại học. Xin cảm ơn Ban lãnh đạo và tập thể nhân viên công
ty CỔ PHẦN VẬN TẢI BIỂN BẮC (NOSCO) đã cung cấp các số liệu thực tế và những
kinh nghiệm quý báu giúp tôi hoàn thành bài luận văn này.
Mặc dù bản luận văn đã được hoàn thành và đạt mục đích đề ra của đề tài, tuy
nhiên do hiểu biết của bản thân về lý luận và thực tế còn giới hạn, tài liệu tham
khảo còn ít và thời gian dành cho nghiên cứu chưa được nhiều nên bản luận văn
này không tránh khỏi những chỗ còn thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến từ các thầy, cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Hải Phòng ngày

tháng 09 năm 2015
Học viên

CN. Đỗ Thị Nga

VBQ

Vốn bình quân

DT

Doanh thu

LN

Lợi nhuận

KQKD

Kế quả kinh doanh

iii


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
bảng
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7


DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Số
Hình,

Tên Hình, Biểu đồ

Biểu đồ
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7
2.8
2.9

Đánh giá thực trạng, trình độ chuyên môn nguồn nhân lực của công ty
Cổ phần vận tải Biển Bắc từ năm 2010 – 2014.
Biểu đồ doanh thu của công ty Cổ phần vận tải Biển Bắc từ năm 20102014
Biểu đồ chỉ tiêu chi phí Công ty Cổ phần vận tải Biển Bắc từ năm
2010-2014.
Biểu đồ chỉ tiêu lợi nhuận Công ty Cổ phần vận tải Biển Bắc từ 2010
-2014.
Biểu đồ chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu của Công ty Cổ phần
vận tải Biển Bắc từ 2010 -2014.
Biểu đồ chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo chi phí của Công ty Cổ phần
vận tải Biển Bắc từ 2010 -2014.
Biểu đồ chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo vốn bình quân của Công ty Cổ
phần vận tải Biển Bắc từ 2010 -2014.

Độ an toàn của hàng hóa: Hàng hóa vận chuyển, giao nhận rất đa dạng và phong phú nên việc
bảo quản, quy trình bốc dỡ, cách sắp xếp hàng hay hình thức vận chuyển… sẽ rất khác nhau. Các
thuyền viên của công ty chưa nắm bắt rõ về đặc tính hàng hóa, quy trình tiêu chuẩn của kho
hàng hay các yếu tố về điều kiện đường xá…Khi xảy ra các sự cố, công ty còn lung túng chưa
tìm được biện pháp khắc phục và tiến hành xử lý theo đúng quy trình. Đảm bảo cho hàng hóa cả
về số lượng và chất lượng an toàn sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo nên sự tin tưởng của
mọi khách hàng cũ và mới từ đó sẽ nâng cao được vị thế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
mình. Cách thức phục vụ: Đối với mọi ngành nghề, đặc biệt là ngành dịch vụ thì cách thức phục
vụ đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành chất lượng dịch vụ. Cách thức phục vụ bao
gồm thái độ của đội ngũ nhân viên như thái độ thuyền viên, phương thức thanh toán, các thủ tục
khi giao nhận hàng, chăm sóc khách hàng hay ưu đãi với khách hàng… Điều này công ty vận tải
Biển Bắc vẫn chưa thực hiện được một cách bài bản....................................................................76
Công ty Cổ phần vận tải Biển Bắc vẫn chưa thực hiện được việc xây dựng, bồi dưỡng, khen
thưởng và có những chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân viên, thuyền viên. Con người là yếu

2


tố then chốt quyết định sự thành công hay thất bại của mọi tổ chức và doanh nghiệp. Trong khi
đó giao nhận vận tải biển là một lĩnh vực đặc thù, giữ vai trò cầu nối, gắn kết giữa người mua
với người bán, giữa chủ hàng với chủ phương tiện vận tải, ngân hàng, công ty bảo hiểm, hải
quan… Bởi vậy người lao động trong các công ty này không chỉ cần giỏi về chuyên môn nghiệp
vụ mà còn phải có kinh nghiệm, hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực, có khả năng sử dụng đa
dạng các công cụ, phương tiện phục vụ cho công việc, kiến thức công nghệ thông tin ở mức nhất
định và có kĩ năng giao tiếp tốt trong gặp gỡ, tiếp xúc với các đối tác của công ty cũng như cán
bộ quản lý nhà nước. Hiện tại lực nguồn lực lao động củacông ty Biển Bắc có kinh nghiệm làm
việc còn hạn chế, tuổi đời còn non trẻ trong khi đó các quy định, điều luật về giao nhận vận tải
biển hay các quy định về thủ tục hải quan thường không ổn định, hay thay đổi, một số thuyền
viên còn hạn chế về trình độ Tiếng Anh và giao tiếp, nghiệp vụ non trẻ dẫn đến một số thất thoát
cho công ty không đáng có. ..........................................................................................................77

quản lý kinh tế đó, có những doanh nghiệp lúng túng, làm ăn thua lỗ thậm chí phá sản
thì cũng có những doanh nghiệp thích ứng được với cơ chế mới, kinh doanh hiệu quả
và ngày càng phát triển, lớn mạnh.
Nền kinh tế thị trường là một môi trường kinh doanh luôn vận động không ngừng,
Các doanh nghiệp phải luôn tìm tòi, nghiên cứu những biện pháp, sử dụng những công
cụ hữu hiệu để thích ứng với môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt này. Và để tồn
tại, đứng vững trên thị trường hay để cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác thì
mỗi doanh nghiệp phải luôn tìm cách cải tiến hoạt động kinh doanh của công ty mình
phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của xã hội.
Công ty Cổ phần vận tải Biển Bắc đã tham gia kinh doanh dịch vụ vận tải đa
phương thức, đa dạng hóa nghành nghề sản xuất kinh doanh… trong những năm qua và
thu được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên đây là một lĩnh vực kinh doanh có
tính cạnh trạnh cao của các doanh nghiệp Việt lẫn các doanh nghiệp nước ngoài, làm
thế nào để Công ty Biển Bắc tận dụng và phát huy sức mạnh, khắc phục các hạn chế trụ
vững trước sức cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường là lý do tôi chọn đề tài
cho luận văn tốt nghiệp “Một số biện pháp cơ bản nâng cao hiệu quả kinh doanh
của Công ty Cổ phần vận tải Biển Bắc " để giải quyết vấn đề đó.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh; đánh giá thực trạng hiệu
quả kinh doanh của công ty Cổ phần vận tải Biển Bắc và tìm ra những tồn tại,
nguyên nhân ảnh hưởng, tác động đến hiệu quả kinh doanh của Công ty từ đó để
xuất một số định hướng và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho
Công ty.

4


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh

nghiệp
1.1.1. Khái niệm hiệu quả
Trên thế giới có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hiệu quả. Có
khái niệm cho rằng: "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản
lượng của một lượng hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng
hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trong giới hạn khả năng sản xuất của
nó". Bản chất của quan điểm này là đề cập đến khía cạnh phân bổ hiệu quả của các
nguồn lực của nền sản xuất. Điều này có nghĩa là phân bố các nguồn lực kinh tế
sao cho đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản
xuất làm cho nền kinh tế hiệu quả, chi tiết trên đường lý thuyết đó chính là hiệu
quả cao nhất mà mỗi nền kinh tế hướng đến.
Một quan điểm khác cho rằng: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất
hiện và tồn tại từ rất xa xưa từ xã hội nô lệ đến chủ nghĩa xã hội. Hiệu quả thể hiện
ở trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh theo yêu cầu nhất định.
Trong xã hội giai cấp tư bản, mọi tài sản và tư liệu sản xuất đều nằm trong
tay giai cấp này do vậy mọi quyền lợi về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa …đều
do tư bản quyết định. Chính vì vậy, việc tăng hiệu quả công việc thực chất là đem
lại lợi nhuận cao nhất cho các nhà tư bản, trong khi đó thu nhập của người lao
động thấp hơn.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, khái niệm hiệu quả tồn tại vì sản phầm xã hội
sản xuất ra chủ yếu là hàng hóa. Các tài sản này thuộc sở hữu của Nhà nước, của
nhân dân do dân và vì dân nên mục đích của sản xuất xã hội là phục vụ mọi người
khác với mục đích của nền kinh tế sản xuất tư bản.
Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong
hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá". Điều đó có nghĩa là một kết
quả có hai mức chi phí khác nhau thì doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả.

6



7


Kuhn cho rằng: Tính hiệu quả của doanh nghiệp được xác định bằng cách lấy kết
quả tính theo đơn vị giá trị của sản phẩm chia cho chi phí kinh doanh.
Quan điểm khác lại cho rằng: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện
từ rất xa xưa và tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến chủ nghĩa xã hội. Hiệu quả
kinh doanh được thể hiệnở trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết và rõ rang tham
gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích nhất định.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, phạm trù hiệu quả vốn tồn tại vì sản phẩm sản
xuất xã hội sản xuất ra vẫn là hàng hoá. Do các tài sản đều thuộc quyền sở hữu của
Nhà nước, của dân do dân và vì dân, mục đích, phương pháp và cách thức của nền
sản xuất xã hội chủ nghĩa cũng khác yêu cầu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Hướng đến của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng
tăng của mọi thành viên trong xã hội nên bản chất của phạm trù hiệu quả cũng
khác với xã hội tư bản chủ nghĩa.
Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong
hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá". Như vậy, hiệu quả có nghĩa
tương đồng với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, phần này có thể
tăng do chi phí mở rộng nguồn lực sản xuất hàng hóa. Nếu cùng một kết quả sản
xuất hàng hóa có nhiều mức chi phí khác nhau thì theo quan niệm này doanh
nghiệp cũng vẫn sẽ đạt lợi nhuận. (Trích tài liệu: Lịch sử các học thuyết kinh tế,
nhà xuất bản thống kê, TP HCM, Mai Ngọc Cường năm 1999).
- Một quan điểm nữa lại cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ chênh lệch
giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí (Trích tài liệu:
Phân tích báo cáo tài chính của Nguyễn Văn Công, Trần Quý Liên năm 2002).
Điểm mạnh của quan điểm này là chỉ rõ ra được mối liên hệ giữa bản chất của hiệu
quả kinh tế. Tuy vậy chưa thể hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả
và chưa nêu nên được hết mức độ chặt chẽ, logic của mối liên hệ này.

⃰ Đối với doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp chính là thước đo hữu
hiệu để các nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh : Khi
tiến hành bất kỳ một hoạt động kinh doanh sản xuất nào thì các doanh nghiệp đều
phải huy động và sử dụng các nguồn lực mà doanh nghiệp có khả năng để tạo ra
kết quả phù hợp với mục tiêu mà doanh nghiệp đã định hướng trước. Trong mỗi
thời kỳ phát triển của doanh nghiệp thì doanh nghiệp đều có nhiều mục tiêu khác
nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùm toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn lực
của doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí
10


cũng như các mục tiêu khác đặt ra, các nhà doanh nghiệp phải sử dụng nhiều cách
thức, nhiều công cụ, phương pháp khác nhau. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là
một trong các công cụ quan trọng, cần thiết và hiệu quả nhất để các nhà quản lý
thực hiện chức năng quản trị của mình. Bởi vì thông qua việc tính toán hiệu quả
SXKD của doanh nghiệp không những cho phép các nhà quản trị kiểm tra, đánh
giá, nắm bắt tính hiệu quả của các hoạt động SXKD của doanh nghiệp mà còn cho
phép các nhà phân tích kinh tế tìm ra các nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến
mọi hoạt động của doanh nghiệp đó.
⃰ Đối với nền kinh tế quốc dân
Một nền kinh tế có phát triển hay không luôn đòi hỏi các thành phần trong
kinh tế đó, đạt được những thuận lợi cao, làm có làm ăn hiệu quả điều này thể hiện
ở những đặc điểm như sau:
Một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, kinh doanh tốt, đạt lợi nhuận cao thì
sản phẩm trong xã hội tăng, tạo ra việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, thúc đẩy
nền kinh tế Doanh nghiệp làm ăn phát triển sẽ tạo ra nhiều hàng hóa, sản phẩm,
nguồn cung sẽ dồi dào, đáp ứng nhu cầu đầy đủ, từ đó mọi người dân có nhiều
quyền chọn những sản phẩm chất lượng nhất, tốt nhất, đem lại lợi ích cho mỗi cá

con người ngày càng tìm ra nhiều biện pháp khác nhau để chế tạo sản phẩm tối ưu
hơn. Kỹ thuật sản xuất tiên tiến cho phép con người với cùng những nguồn lực đầu
vào nhất định người ta có thể tạo ra đa dạng các loại sản phẩm khác nhau. Mặt
khác, trong nền kinh tế thị trường ngày càng phức tạp này thì các doanh nghiệp
phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng
gay gắt, quyết liệt này có rất nhiều doanh nghiệp đứng vững và phát triển nhưng
cũng không ít doanh nghiệp đã thua lỗ, giải thể, phá sản. Để có thể trụ lại trong cơ
chế thị trường khốc liệt đầy gay gắt này, các doanh nghiệp luôn phải giảm chi phí
sản xuất, nâng cao uy tín, nâng cao chất lượng hàng hóa... nhằm hướng tới mục
tiêu tối đa lợi nhuận. Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao HQKD luôn là
vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để doanh
nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường.
1.3. Phân loại hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù mang tính tổng hợp được biểu
hiện dưới nhiều dạng khác nhau do đó việc phân loại hiệu quả kinh doanh là cơ sở

12


để xác định các chỉ tiêu kinh doanh. Phân tích hiệu quả kinh doanh dựa vào các
tiêu thức khác nhau giúp ta hình dung một cách tổng quát về hiệu quả kinh doanh,
do đó hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có thể được phân loại theo một số
cách như sau:
1.3.1. Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế - xã hội của nền
kinh tế quốc dân
Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu được từ các hoạt động
thương mại của từng doanh nghiệp kinh doanh. Biểu hiện chung của hiệu quả kinh
doanh cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt được.
Hiệu quả kinh tế - xã hội mà hoạt động kinh doanh đem lại cho nền kinh tế
quốc dân là sự đóng góp của nó vào việc phát triển sản xuất, giải quyết công ăn

giá thành sản xuất. Mỗi loại chi phí này sẽ được phân chia, đánh giá một cánh tỷ
mỷ hơn. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh không thể không đánh giá hiệu
quả tổng quát, chi tiết của các loại chi phí trên, mà đồng thời cũng cần phải đánh
giá hiệu quả của từng loại chi phí hay nói cánh khác là đánh giá hiệu quả của chi
phí bộ phận.
1.3.3. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối
Việc xác định hiệu quả nhằm hai mục đích cơ bản:
Một là, để phân tích các luận chứng kinh tế của các phương án khác nhau
trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó.
Hai là, thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí khác nhau trong
hoạt động kinh doanh.
Từ hai mục đích trên mà người ta chia hiệu quả kinh doanh ra làm hai loại:
Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án kinh
doanh cụ thể bằng cánh xác định mức lợi nhuận thu được với lượng chi phí bỏ ra.
Việc xác định hiệu quả tuyệt đối chính là cách để xác định hiệu quả tương đối
(phân loại). Mặc dầu vậy, có những chỉ tiêu hiệu quả tương đối được xác định
không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối.
1.3.4. Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài
Để đánh giá được hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp tốt hay xấu có
rất nhiều cách đánh giá khác nhau. Các doanh nghiệp có thể căn cứ vào lợi ích mà

14


doanh nghiệp nhận được trong các khoảng thời gian ngắn hay dài mà người ta
phân chia thành hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài. Hiệu quả trước mắt là hiệu
quả được kiểm tra trong một khoảng thời gian ngắn. Trong khi đó hiệu quả lâu dài
là hiệu quả được xem xét trong suốt một thời gian dài lâu hơn. Các doanh nghiệp
cần phải chú trọng tiến hành các hoạt động kinh doanh sao cho nó mang lại cả lợi
ích ngắn là lợi ích trước mắt cũng như lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp. Phải phối

khích sự tồn tại và phát triển của một đất nước nói chung và của các doanh nghiệp
nói riêng, vì vậy, pháp luật ảnh hưởng trực tiếp tới các kết quả cũng như hiệu quả
của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Môi trường văn hoá xã hội
Một trong những yếu tố không thể thiếu được khi các nhà đầu tư nước ngoài
tìm cơ hội đầu tư vào nước bản địa để phát triển kinh doanh đó là văn hóa. Trình
độ giáo dục, tâm lý xã hội, tình trạng thất nghiệp, phong cách, lối sống, phong tục,
tập quán... đều tác động không nhỏ một cách gián tiếp hoặc trực tiếp đến hiệu quả
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đó, có thể theo hai chiều hướng tích cực
hoặc tiêu cực. Trình độ văn hoá của mỗi quốc gia khác nhau sẽ ảnh hưởng tới khả
năng đào tạo cũng như chất lượng chuyên môn và khả năng tiếp thu các kiến thức
cần thiết của đội ngũ lao động, tâm lý xã hội, tập quán, phong cách, phong tục, lối
sống… nó ảnh hưởng đến nhu cầu về sản phẩm của các doanh nghiệp. Do đó, nó
ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn cung cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp.
- Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế đầu tiên ta phải kể đến là: Các chính sách đầu tư, chính
sách cơ cấu, chính sách phát triển kinh tế …. Các chính sách kinh tế vĩ mô này tạo
ra sự ưu tiên hay kìm hãm phát triển của từng ngành, của từng vùng kinh tế cụ thể,
do đó nó tác động đến hiệu quả và kết kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp
thuộc các ngành vùng kinh tế nhất định. Nếu tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
quốc dân cao, đồng thời các chính sách của Nhà nước khuyến khích, thúc đẩy các
doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh thì sự biến động tiền tệ là không
đáng kể, lạm phát được giữ mức hợp lý.
- Môi trường khoa học kỹ thuật công nghệ

16


Tình hình phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ, tình hình ứng dụng của


dân cư, mức độ thu nhập… của khách hàng ảnh hưởng lớn tới chất lượng, số lượng
cũng như giá cả sản phẩm của doanh nghiệp đó.
1.4.2. Các nhân tố chủ quan
1.4.2.1. Bộ máy quản trị doanh nghiệp
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, bộ máy quản trị doanh
nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp,
bộ máy quản trị DN phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau
Nhiệm vụ đầu tiên của bộ máy quản trị doanh nghiệp là xây dựng cho doanh
nghiệp một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp. Với nhiệm vụ và chức
năng vô cùng quan trọng của bộ máy quản trị doanh nghiệp, ta có thể chắc chắn rằng
chất lượng của bộ máy quản trị quyết định rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh
của một doanh nghiệp. Nếu bộ máy quản trị được tổ chức với cơ cấu phù hợp với
nhiệm vụ SXKD của doanh nghiệp, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng rõ ràng, gọn
nhẹ linh hoạt, có cơ chế phối hợp hành động hợp lý, với một đội ngũ quản trị viên có
năng lực và tinh thần trách nhiệm cao sẽ đem lại hoạt động SXKD của doanh nghiệp
đạt hiệu quả cao và ngược lại.
1.4.2.2. Lao động tiền lương
Tiền lương chính là công cụ là thước đo để đánh giá lao động. Lao động là
một trong các yếu tố đầu vào quan trọng, nó tham gia vào mọi quá trình SXKD của
doanh nghiệp. Trình độ, tinh thần và năng lực của mỗi người lao động tác động
trực tiếp không nhỏ đến mọi giai đoạn của các khâu của quá trình SXKD do đó nó
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là khi
một doanh nghiệp có tỷ lệ chi lương cao thì chi phí SXKD sẽ tăng do đó làm giảm
hiệu quả SXKD, nhưng ngược lại nó tác động mạnh mẽ đến tính thần và trách
nhiệm người lao động cao hơn. Thỏa mãn về tiền lương chính là một trong những
cách thức mà doanh nghiệp tăng chất lượng cũng như năng suất của sản phẩm
doanh nghiệp mình.
1.4.2.3. Tình hình tài chính của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh thì không những đảm bảo cho

các cá nhân, doanh nghiệp… ngày càng trở lên thuận tiện và nhanh chóng. Hệ
thống trao đổi các thông tin bên trong doanh nghiệp ngày càng đa dạng hóa bao
gồm tất cả các thông tin có liên quan đến từng phòng ban, từng bộ phận, từng
người lao động trong doanh nghiệp và các thông tin khác. Thông tin đem đến cho
các doanh nghiệp những cơ hội cũng như thách thức trong phát triển SXKD của
doanh nghiệp mình. Thông tin giúp cho các hoạt động SXKD giữa các bộ phận,
19


các phòng ban cũng như những người lao động trong doanh nghiệp luôn ràng buộc,
hỗ trợ lẫn nhau.
1.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả SXKD là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ quản lý, sử dụng
nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện có
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Nguồn lực tham gia vào hoạt động SXKD của
doanh nghiệp dịch vụ giao nhận vận tải, logistics chủ yếu gồm nguồn lực hữu hình
là lao động, vốn và nguồn lực vô hình là thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp.
Hiệu quả SXKD vừa là một phạm trù cụ thể và vừa là một phạm trù trừu
tượng. Tính cụ thể của nó đòi hỏi trong mọi công tác quản lý phải tiến hành định
lượng thành các chỉ tiêu, con số để tính toán, so sánh. Tính trừu tượng của nó thể
hiện ở đặc điểm là phải định tính thành mức độ quan trọng hoặc xác định vai trò,
tác dụng của nó trong kinh doanh. Vì vậy, hiệu quả của doanh nghiệp phải được
nhận thức, ứng dụng rộng rãi trong mọi khâu, mọi bộ phận trong quá trình hoạt
động thực tiễn SXKD của doanh nghiệp. Hiệu quả SXKD của doanh nghiệp phải
được xem xét toàn diện cả về không gian và thời gian trong mối quan hệ với hiệu
quả chung của nền kinh tế quốc dân.
1.5.1. Chỉ tiêu doanh thu
Doanh thu của một doanh nghiệp chính là tổng giá trị thực hiện có được do
việc bán sản phẩm hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng mang lại.
Doanh thu là một nguồn tài chính vô cùng quan trọng. Nó giúp doanh nghiệp

Doanh thu thuần
Hiệu quả sử dụng chi phí =
Tổng chi phí
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra trong năm thì thu được bao
nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi
phí của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại.
* Tỷ suất lợi nhuận chi phí
Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận chi phí

=

Tổng chi phí
Ý nghĩa: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận chi phí cho biết một đồng chi phí bỏ ra trong kỳ
thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
1.5.3. Nhóm các chỉ tiêu tuyệt đối

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status