Hạn chế rủi ro thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ trong tài trợ thương mại ơ chi nhánh ngân hàng công thương - Pdf 34

LỜI NÓI ĐẦU
Sau hai mươi năm đổi mới nền kinh tế nước ta đang khởi sắc
và thu được nhiều thành tựu đáng kể. Từ khi chuyển sang nền kinh
tế thị trường việt nam đã và đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Với chính sách mềm dẻo đã thu hút được nhiều nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam. Giống như thực tế đã chứng minh
không có quốc gia nào phát triển mà không có sự giao lưu với các
nước khác. Sự giao lưu buôn bán giữa các nước là một xu hướng tất
yếu của nền kinh tế . Sự phát triển của thương mại quốc tế giúp các
nước gắn kết và giúp đỡ lẫn nhau trong sự phát triển chung của thế
giới. Thương mại quốc tế ngày nay đã vượt qua không gian và thời
gian tạo những luồng dịch chuyển hàng hoá, tiền tệ để đáp ứng cung
cầu.
Tài trợ thương mại là hoạt động chủ yếu của một quốc gia
trong sự phát triển của đất nước. Nó giúp quốc gia khai thác những
thế mạnh của đất nước so với các nước khác trên thế giới. Với tư
cách là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu được cho sự phát
triển của thương mại quốc tế ,công tác thanh toán quốc tế không
ngừng đổi mới và hoàn thiện với những phương thức thanh toán an
toàn và hiệu quả cao các bên tham gia. Thanh toán quốc tế là khâu
quan trọng quyết định hiệu quả của quá trình trao đổi. Nó là mắt
xích không thể thiếu được trong cỗ máy thương mại quốc tế. Với
nhiều hình thức thanh toán đa dạng phù hợp với từng giai đoạn phát
triển cụ thể . Ngày nay phương thức thanh toán thư tín dụng đang
được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới. Trong qua trình thanh


toán ngân hàng thương mại đóng vai trò là chung gian thanh toán.
Ngân hàng thương mại đóng vai trò là chất xúc tác giúp cho quá
trình thanh toán diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn và là chất bôi trơn
giúp cho qua trinh thanh toán quốc tế diễn ra một cách nhịp nhàng

tại chi nhánh ngân hàng công thương Hoàn Kiếm.
Chương III: Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán thư tín
dụng tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm.
Do hạn chế về lý luận , về kinh nghiệm và thời gian thực tập
không nhiều nên chuyên đề của em không tránh khỏi những thiếu
sót. Em mong nhận được sự góp ý của thầy cô, các anh chị nhân
viên trong ngân hàng và các bạn quan tâm đến vấn đề này. Em xin
chân thành cảm ơn cô giáo PGS- TS Phan Thị Thu Hà, ban giám
đốc và các anh chị tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm đã giúp
đỡ em hoàn thành chuyên đề này.


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THANH TOÁN
QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN
DỤNG CHỨNG TỪ TRONG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI.
1.Tài trợ thương mại và những hoạt động chính trong tài
trợ thương mại
1.1Tài trợ thương mại
Theo lý thuyết của kinh tế học vĩ mô, kinh tế thị trường là nền
kinh tế mở , có quan hệ giao dịch kinh tế với các quốc gia và với
các tổ chức kinh tế , tài chính tiền tệ quốc tế. Trong phạm vi một
quoóc gia có nền kinh tế mở, các hoạt động giao dịch quốc tế được
gọi là kinh tế đối ngoại, đây là là lĩnh vực đặc biệt quan trọng, bao
gồm các hoạt động ngoại thương, hợp tác quốc tế về đầu tư, thu hút
vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác về khoa học công nghệ, dịch vụ du
lịch, thu hút ngoại tệ...
Trong xu hướng phát triển kinh tế thế giới hiện nay, các nước
đều không ngừng phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, trong đó
thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng. Ngoại thương được
dánh giá là một ngành vô cùng quan trọng.đối với 1 quốc gia, là

Khi thoả thuận giữa các bên tham gia xuất - nhập khẩu chấp
nhận có hiếu phiết kì hạn không huỷ ngang, khi chưa đến hạn thanh
toán nhà xuất khẩu có thể mang hối phiếu này đến ngàng phục vụ
mình xin chiết khấu.
-

Tài trợ trong khuôn khổ chứng từ
Đây là hình thức tín dụng của ngân hàng cho nhà xuất khẩu

trên cơ sở chiết khấu bộ chứng từ trước khi đến hạn thanh toán. Với
nghiệp vụ này ngân hàng tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu có thể thu


hồi vốn với khoản tín dụng mà ngân hàng cung ứng. Tỷ lệ chiết
khấu được áp dụng tuỳ vào phương thức chiết khấu:
+ Chiết khấu truy đòi:ngân hàng sau khi chiết khấu bộ chứng
từ sẽ truy đòi nhà xúât khâủ nếu đến hạn thanh toán bị phía đối tác
từ chối thanh toán. Lãi xuất chiết khấu trong trường hợp này thường
thấp.
+ Chiết khấu miễn truy đòi: đây là trường hợp mua đứt bộ
chứng từ. Ngân hàng sẽ chịu hoàn toàn rủi ro nếu phía đối tác không
thanh toán khi đến hạn, lãi suất áp dụng cao.
-

Tạm ứng cho nhà xuất khẩu
Bên cạnh các khả năng tài trợ liên quan đến các chứng từ

thanh toán, các ngân hàng cũng có thể được đề nghị cung cấp tín
dụng giữa chừng trong khuôn khổ” Clean payment”( thanh toán
trơn). Đây là hình thức tài trợ ngắn hạn, chủ yếu đối với các nhà

Hình thức này phổ biên ở các nước phát triển. Ngân hàng tài trợ ký
hiệp định khung với các ngân hàng và chính phủ nước ngoài , đồng
ý cung ứng cho các ngân hàng và chính phủ nước này những khoản
tín dụng, nhằm tài trợ cho việc nhập khẩu máy móc thiết bị, hàng
hoá ,dây chuyền công nghệ từ nước tài trợ. Hoặc ngân hàng tài trợ
trực tiếp cho các doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài.
-

Đối với nhà xuất khẩu hình thức tài trợ này có ý nghĩa:

+ hạn chế rủi ro do bên nhập khẩu ngưng trệ thanh toán
+ Tránh được khó khăn đối với cán cân thanh toán
+ Cạnh tranh với đối thủ ở nước ngoài
-đối với nhà nhập khẩu hình thức tài trợ này có ý nghĩa :


+ Có thể thanh toán từng phần cho cả công trình, thiết bị đã
nhập khẩu
+ Có thể tận dụng được lãi xuất ở nước xuất khẩu
1.2.2.2 Cho vay mở L/C
Phương thức tín dụng chứng từ là một thoả thuận trong đó một
ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng mở thư tín dụng để trả tiền
cho người thứ ba hay bất cứ một người nào khác theo lệnh của
người thứ ba đó, khi đã chấp nhận thanh toán hay mua hối phiếu sau
khi đã trình đủ các giấy tờ quy định. Trong tường hợp khách hàng
không đủ tiền có thẻ xin vay ngân hàng. Như vậy , khoản tín dụng
mà ngân hàng cấp cho người nhập khẩu được đảm bảo bằng bộ
chứng từ hàng hoá.
Việc xin mở thư tín dụng có những quy định cụ thể, tuỳ theo
mối quan hệ giưa ngân hàng với khách hàng mà ngân hàng yêu cầu

kinh tế mở, có quan hệ giao dịch kinh tế với các quốc gia và với các
tổ chức kinh tế, tài chính tiền tệ quốc tế. Trong phạm vi một quốc
gia có nền kinh tế mở, các hoạt động giao dịch quốc tế được gọi là
kinh tế đối ngoại , đây là lĩnh vực đặc biệt quan trọng, bao gồm các
hoạt động ngoại thương, hợp tác quốc tế về đầu tư , thu hút vốn đầu
tư nước ngoài, hợp tác về khoa học công nghệ, dịch vụ du lịch, thu
ngoại tệ....


Trong xu hướng phát triển kinh tế thế giới hiện nay, các nước
đều không nghừng phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại , trong đó
thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng. Ngoại thương được
đánh giá là một ngành quan trọng đối với một quốc gia, là động lực
phát triển của quốc gia. Một mặt nó tạo nguồn vốn ngoại tệ cho đất
nước , mặt khác thúc đẩy sự thay đổi trong cơ cấu của tổng sản
phẩm xã hội, thu nhập quốc dân... tác động trực tiếp đến sản suất
kinh doanh và ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng trong nước.
2.2/ Khái niệm về thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện chi trả bằng tiền liên
quan đến các dịch vụ mua bán hàng hoá hay cung ứng lao vụ ...giữa
các tổ chức hay cá nhân nước này với các cá nhân tổ chức nước
khác, hay giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế thông qua
quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
Dưới giác độ kinh tế, các quan hệ kinh tế được phân chia
thành hai loại: quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch. Do đó
thanh toán quốc tế cũng bao gồm: thanh toán mậu dịch và thanh
toán phi mậu dịch.
Thanh toán phi mậu dịch:
Là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng
hoá cũng như lao vụ, nó không mang tính chất thương mại. Đó là

và rất quan trọng.Thực hiện thanh toán như thế nào liên quan chặt


chẽ tới quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng.Các điều khoan thanh toán được quy định và thoả thuận một
cách thống nhất và chặt chẽ sẽ tạo điều kiện cho các bên tham gia
tránh được những rủi ro, cũng như có biện pháp phòng ngừa rủi ro.
Việc thực hiện các điều khoản thanh toán có nghiêm túc hay không
có ảnh hưởng tới uy tín và độ bền vững trong quan hệ mua bán giữa
các bên trong thương trường. Do đó có thể nói hiệu quả kinh tế
trong lĩnh vực king doanh XNK một phần lớn nhờ vào chất lượng
khâu thanh toán, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát
triển.
Thanh toán quốc tế là thước đo, là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu quả kinh doanh
Thanh toán quốc tế ảnh hưởng trức tiếp đến vòng quay vốn
của các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh XNK, do
vậy ảnh hưởng đến doanh thu cũng như lợi nhuận của các bên tham
gia. Thông qua hoạt động thanh toán , chúng ta có thể đánh giá khả
năng tài chíng ,uy tín cũng như tiềm lực của mỗi đơn vị. Chính vì
vậy xem xét tình hình thanh toán là một trong những cơ sở đẻ tìm
đối tác., bạn hàng trong quan hệ kinh doanh sao cho có lợi cho mình
nhiều nhất. Có thể nói rằng kinh tế đối ngoại có được mở rộng hay
không một phần nhờ vào thanh toán quốc tếcó được thực hiện tốt
hay không. Thanh toán quốc tế hoạt động tốt sẽ tạo điều kiện đẩy
mạnh hoạt động XNK, phát triển sản xuất trong nước, khuyến kích
nâng cao chất lượng hàng hoá, thực hiện mục tiêu chiếm lĩnh thị
trường xuất khẩu của các quốc gia.



thêm nguồn thu nhập, củng ccó khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Trên phương diện quản lý nhà nước, thông qua hoạt động
thanh toán quốc tế, chính phủ thực hiện tốt việc quản ký nguồn
ngoại tệ ra vào của một quốc gia dựa trên cán cân thanh toán quốc tế
và làm cơ sở cho việc xây dựng và thưch hiện chính sách tài khoá
tièn tệ
2.4/ Các điều kiện trong thanh toán quốc tế
2.4.1/ Điều kiện tiền tệ
Trong thanh toán quốc tế, cả hai bên đối tác cùng quan tâm
đến những vấn đề có lợi nhất cho mình. Đây là thoả thuận liên quan
đến sử dụng đồng tiền nào để tính thanh toán, để thực hiện chi trả
trong thanh toán. Sự lựa chọn đúng đắn về điều kiện tiền tệ trong
thanh toán quốc tế là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu
quả trong hoạt động kinh doanh đối ngoại.
Tiêu chí lựa chọn đồng tiền dùng thanh toán đó là : thứ nhất
đồng tiền phải có vị trí xứng đáng trên thị trường tiền tệ quốc tế ;
thứ hai phải phù hợp tương quan so sánh lực lượng trong quan hệ
thương mại; thứ ba phù hợp với tập quán sử dụng đồng tiền đó trong
khu vực; phù hợp với tập quán thanh toán trong các ngân hàng.
2.4.2/ Điều kiện đảm bảo hối đoái


Trong nền kinh tế thị trường, giá trị của các đồng tiền, dù là
đồng tiền mạnh đều có thể xảy ra sự biến động tăng, hoặc giảm,
điều đó sẽ gây tổn thất cho người mua hoặc người bán hàng hoá. Để
tránh rủi ro có thể xảy ra khi tỷ giá biến động, các bên tham gia
thanh toán thường đàm phán điều kiện đảm bảo hối đoái cho giá trị
hợp đồng khi thanh toán đúng như giá trị hàng hoá đã nhận, hoặc đã
trao.
Các hình thức đảm bảo cho giá trị tiền tệ của hợp đồng như

thức nhận trả tiền trong giao dịch. Mua bán ngoại thương giữa
người nhập khẩu và người xuất khẩu. Mỗi phương thức thanh toán
đều có ưu điểm và nhược điểm khác nhau. Vì vậy việc lựa chọn
phương thức thanh toán thích hợp phải được hai bên thoả thuận bàn
bạc và ghi vào hợp đòng mua bná ngoại thương. Việc lựa chọn
phương thức thanh toán nào cũng phải xuất phát từ người mua là
nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng thời hạn, từ yêu cầu
của người bán là thu hồi tiền nhanh và đầy đủ.
Tại ngân hàng thương mại các phương thức thanh toán dược
sủ dụng chủ yếu gồm.
2.4.1 Phương thức ghi sổ(open account)
Đây là phương thức thanh toán mà qua đó đơn vị xuất khẩu
khi cung ứng hàng hoá dịch vụ thì ghi nợ cho bên nhập khẩu vào
một cuốn sổ riêng của mình và việc thanh toán các khoản nợ này


được thực hiện trong từng thời kì nhất định. Phương thức này ngân
hàng không tham gia là người mở tìa khoan và thực thi thanh toán.
Ưu điểm: Phương thức này có lợi cho người mua bởi người
mua có thể mua chịu hàng và chỉ thanh toán thương xuyên trong
một thời kì nhất định(6 tháng. 1 năm).
- Nhược điểm: Phương thức này chỉ áp dụng trong không gian
hẹp là thanh toán nội địa và người mua, người bán thực sự tin cậy
nhau.
2.4.2 Phươngthức chuyển tiền( remittance)
Đây là phương thức thanh toán mà trong đó khách
hàng(người trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số
tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm
nhất định bằng phương tiện chuyển tiền mà khách hàng yêu cầu.
Các phương tiện này là Séc. Điện và Thư.

Nhờ thu kèm chứng từ(documentary cllection): là phương thức
thanh toan mà trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền
ở người mua căn cứ vào hối phiếu và bộ chứng từ gửi hàng. Ngân
hàng chỉ giao bộ chứng từ cho người mua với điều kiện người mua
trả tiền hối phiếu. Trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ, ngưòi
bán uỷ thác nho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn có nhiệm vụ
khống chế chứng từhàng hoá đối với người mua. Tuỳ theo điều kiện
trả tiên mà phương thức này chia thành hai loại:


+ Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ( Documentary against
acceptance – D/A) phương thức này chỉ áp dụng trong trương hợp
mua chịu.
+

Nhờ thu trả tiền

đổi chứng từ (Document against

payment-D/P) phương thức này chỉ sử dụng khi người bán trả tiền
ngay.
So với trường hợp nhờ thu phiếu trơn, phương thức này đảm
bảo hơn vì ngân hàng thay mặt cho người bán khống chế bộ chứng
từ. Tuy nhiên ngân hàng chỉ có trách nhiệm là trung gian thu hộ tiền
mà không có trách nhiệm gì về việc trả tiền của người mua cũng
như kiểm tra bộ chứng từ. Phương thức này chỉ áp dụng trong
trường hợp hàng bán lần đầu, hàng ứ đọng, khó tiêu thụ. Thu cước
phí vận tải....
2.4.4 phương thức tín dụng chứng từ(letter credit)
Đây là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ

lợi kí phát.
Uỷ quyền cho một ngân hàng khác tiến hành thanh toán hoặc
chấp nhận trả tiền các hối phiếu đó.
Uỷ quyền cho một ngân hàng khác đến chiét khấu khi các
chứng từ quy định được xuất trình phù hợp với các điều khoản, điều
lệ của thư tín dụng.


Như vậy phương thức tín dụng chứng từ là một cam kết thanh
toán có điều lệ của ngân hàng (ngân hàng mở L/C-issuing bank) cho
người bán hàng ( người hưởng lợi –beneficiary)
Theo yêu cầu của người mua (applicant) để trả ngay hoặc đợi
tới một thời điểm xác định trong phạm vi thời hạn đã xác định và
căn cứ vào các chứng từ đã quy định phù hợp với các điều lật của
L/C.
3.2/ các bên tham gia thanh toán
Người xin mở thư tín dụng (the applicant for the credit): là
người mua, người nhập khẩu hàng hoá, người mở thư tín dụng.
Ngân hàng mở thư tín dụng (isuing bank) là ngân hàng đại
diện cho người nhập khẩu còn gọi là ngân hàng phát hành.
Người hưởng lợi( beneficiary) là người bán,người xuất khẩu
hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
Ngân hàng thông báo(advíing bank) là ngân hàng được ngân
hàng phát hành yêu cầu thông báo cho nhà xuất khẩu vvề việc mở
thư ín dụng.
Ngoài ra còn có thể cho một số ngân hàng khác tham gia vào
phương thức thanh toán này như :
Ngân hàng xác nhận (confirming bank) là ngân hàng nhận
trách nhiệm thanh toná cuối cùng nếu ngân hàng phát hành không
thể thanh toán chứng từ phù hợp với điều khoản của L/C. Ngân

+ Người nhập khẩu yêu cầu mở loại L/C nào : Mở bằng telex
hay bằng thư hoặc thư có thông báo vắn tắt bằng điện và loại hình
L/C nào
+ Tên và địa chỉ đầy đủ của người được hưởng lợi
+ Số tiền của L/C, bằng tiền nước nào, ký hiệu quốc tế của
đồng nước đó, số tiền bằng chữ và bằng số có khớp không
+ phương thức trả tiền : Trước , ngay , sau hay chiết khấu
+ Các nội dung liên quan đến hàng hoá
+ Yêu cầu về chủng loại chứng từ , số lượng từng chủng
loại , tên người ký phát chứng từ mà người xuất khẩu
+ các yêu cầu như nơi gửi hàng, điều kiện giao hàng, ngày
giao hàng cuối cùng, thời hạn hiệu lực của việc suất trình chứng từ
thanh toán, ngày địa điểm hết hạn hiệu lực của L/C, có yêu cầu ngân
hàng xác nhân L/C hay không.
Hai bên mua bán có sự thống nhất về các điều khoản của thư
tín dụng , bao gồm thanh toán phí ngân hàng và phương thức gửi
thư tín dụng cho người hưởng. Có sự thống nhất vè các yêu cầu của
người hưởng về ngân hàng mở thư tín dụng, ngân hàng thông báo ,
ngân hàng xác nhận ,ngân hàng thương lượng , ngân hàng thanh
toán
ngân hàng sẽ lập một thư tín dụng và thông qua ngân hàng của
mình ở nước người nhập khẩu thông báo về việc mở thư tín dụng và
thư tín dụng đến người xuất khẩu. Ngân hàng xem xét toàn bộ nội
dung của đơn xin mở L/C , đồng thời có thể tư vấn cho khách hàng
để lựa chọn L/C phù hợp, tránh được những sai sót, sơ hở, yêu cầu


ký quỹ khi mở L/C, tính toán thu phí mở L/C theo quy định hiện
hành. Tiếp đó ngân hàng chuyển bản chính L/C cho ngân hàng đại
lý ở nước người xuất khẩu hoặc ngân hàng được chỉ định trong L/C.

Ngân hàng thông báo tiến hàng thanh toán cho người xuất
khẩu hoặc trả lại cho bộ chứng từ cho người xuất khẩu.
Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và
chuyển bộ chứng từ hàng hoá cho người nhập khẩu chỉ sau khi
người nhập khẩu thanh toán hoặc chấp nhân thanh toán.
Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ,nếu nhận thấy phù hợp
với thư tín dụng thì trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho ngân hàng
mở thư tín dụng theo thoả thuận đã kí, nếu không phù hợp có quyền
từ chối trả tiền.
3.4/ Các loại thư tín dụng thương mại
Việc phân loại tín dụng thư dựa trên tiêu chẩn nhất định, nhằm
giúp mọi người nắm bắt tổng thể trước khi đi vào nghiên cứu các
mô hình giao dịch chứng từ. Theo quy định uỷ ban kỹ thuật và
nghiệp vụ ngân hàng thuộc ICC (phòng thương mại quốc tế) tín
dụng thư được phân biệt theo ba dạng :
Thứ nhất là phân theo loại hình bao gồm :
+ Tín dụng thư huỷ ngang (Irrevocable L/C)
+ Tín dụng thư không huỷ ngang(Revocable L/C) .
Hai là phân theo phương thức sử dụng bao gồm:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status