LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biêt ơn sâu sắc tới PGS. TS. Trần Văn Tuấn đã
giao đề tài và tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này.
Trong quá trình học tập tại Bộ môn Địa chính, Khoa Địa lý Trường Đại học
Khoa học Tự nhiên, em đã được trang bị một số kiến thức cơ bản để ứng dụng vào thực
tế, giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình. Em xin chân thành cảm ơn các
thầy cô trong Ban Chủ nhiệm Khoa, Bộ môn và các bạn bè cùng khóa học đã đồng
hành cùng em trong suốt thời gian qua.
Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ và dìu dắt của Ban Giám
hiệu Nhà trường, các Phòng ban chức năng đã tận tình giúp đỡ tôi các thủ tục, hồ sơ
trong thời gian học tập tại Trường.
Em xin cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ trong Phòng Tài nguyên –
Môi trường Quận Đống Đa đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ em thu thập các số
liệu thực tế và thử nghiệm kết quả. Giúp em hoàn thành bản luận văn này.
Cuối cùng, em xin cảm ơn Lãnh đạo Phường Trung Phụng – Quận Đống Đa,
bạn bè đồng nghiệp, người thân đã cùng em chia sẻ gánh nặng công việc và gia
đình, giúp cho em có thời gian để học tập và làm luận văn tốt nghiệp.
Em xin trân trọng cảm ơn!
HỌC VIÊN CAO HỌC
Tạ Thị Hạnh
1
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
2
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
4
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia. Sử dụng đất đai có ý
nghĩa quyết định tới sự thành bại về kinh tế và ổn định chính trị, phát triển xã hội
cả trước mắt và lâu dài. Tuy nhiên, đây là nguồn tài nguyên có hạn, việc quản lý
và sử dụng nguồn tài nguyên này vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước một cách khoa học, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao là vô cùng quan trọng và
có ý nghĩa to lớn.
Nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu
kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tích cực. Thực tế đó làm cho quá trình sử
dụng cũng như quan hệ đất đai có nhiều biến động. Do đó, để quản lý đất đai có
hiệu quả thì vấn đề đăng ký đất đai nói chung và đăng ký biến động sử dụng đất, tài
sản gắn liền với đất nói riêng là một trong những nội dung hết sức quan trọng của
công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Đăng ký biến động sử dụng đất tuy chỉ là một
thủ tục hành chính do cơ quan Nhà nước thực hiện nhằm cập nhật thông tin về đất
đai để đảm bảo cho hệ thống hồ sơ địa chính luôn phản ánh đúng hiện trạng sử dụng
đất, làm cơ sở để Nhà nước phân tích các hiện tượng kinh tế, xã hội phát triển trong
lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, nhưng nó liên quan đến nhiều vấn đề phức tạp
thuộc về cơ sở pháp lý và những quan hệ xã hội đảm bảo quyền lợi hợp pháp và
cuộc sống thiết thực của mọi tổ chức và cá nhân. Vì vậy công tác này được mọi
người rất quan tâm. Làm tốt công tác đăng ký biến động sử dụng đất, tài sản gắn
liền với đất sẽ giúp cho Nhà nước có cơ sở quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo
pháp luật, xác lập được mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước và người sử
tài sản gắn liền với đất, hiện trạng hệ thống hồ sơ địa chính trên địa bàn quận Đống
Đa.
6
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký biến động
quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính trên
địa bàn quận Đống Đa.
- Xây dựng mô hình cơ sở dữ liệu địa chính phục vụ công tác đăng ký biến
động sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và thử nghiệm tại phường Trung Phụng,
quận Đống Đa.
4.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra khảo sát: được dùng để thu thập tài liệu, số liệu, thông
tin cần thiết cho mục đích đánh giá thực trạng công tác đăng ký biến động sử dụng
đất, tài sản gắn liền với đất, hiện trạng hệ thống hồ sơ địa chính trên địa bàn quận
Đống Đa.
- Phương pháp thống kê: phân tích, thống kê các số liệu về tình hình đăng ký
biến động sử dụng đất trên địa bàn quận.
- Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp: Từ số liệu, tài liệu thu thập được
phân tích làm rõ thực trạng công tác đăng ký biến động sử dụng đất, tài sản gắn liền
với đất, hiện trạng hệ thống hồ sơ địa chính trên địa bàn quận Đống Đa, từ đó đưa ra
những nhận xét, đánh giá.
- Phương pháp chuyên gia: được sử dụng để lấy ý kiến các chuyên gia nhằm
hoàn thiện hơn các kết luận, đánh giá và các đề xuất để góp phần cho công tác đăng
ký biến động sử dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính trên địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp bản đồ kết hợp với phương pháp mô hình hoá dữ liệu: được sử
dụng để xây dựng mô hình cơ sở dữ liệu địa chính số phục vụ cho quản lý biến
động sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
5.Cấu trúc của đề tài
xác lập tại Điều 22 Luật đất đai 2013.Thông qua đăng ký đất đai để xác lập mối
quan hệ pháp lý chính thức về quyền sử dụng đất giữa Nhà nước và người sử dụng
đất, đồng thời Nhà nước thiết lập hồ sơ địa chính làm cơ sở xác định các quyền,
nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Theo quy định tại Điều 95, Mục 1 đăng kí đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất, Luật đất đai năm 2013 [9]chỉ rõ:
1. Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao
đất để quản lý; đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thực
hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu.
2. Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm đăng ký lần đầu
và đăng ký biến động, được thực hiện tại tổ chức đăng ký đất đai thuộc cơ quan
quản lý đất đai, bằng hình thức đăng ký trên giấy hoặc đăng ký điện tử và có giá trị
9
pháp lý như nhau.
3. Đăng ký lần đầu được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Thửa đất được giao, cho thuê để sử dụng;
b) Thửa đất đang sử dụng mà chưa đăng ký;
c) Thửa đất được giao để quản lý mà chưa đăng ký;
d) Nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chưa đăng ký.
4. Đăng ký biến động được thực hiện đối với trường hợp đã được cấp Giấy
chứng nhận hoặc đã đăng ký mà có thay đổi sau đây:
a) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện các quyền
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng
đất, tài sản gắn liền với đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn
liền với đất;
b) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được phép đổi tên;
c) Có thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích, số hiệu, địa chỉ thửa đất;
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất hoặc chứng nhận biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp.
Trường hợp đăng ký lần đầu mà không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người
đang sử dụng đất được tạm thời sử dụng đất cho đến khi Nhà nước có quyết định xử
lý theo quy định của Chính phủ.
11
6. Các trường hợp đăng ký biến động quy định tại các điểm a, b, h, i, k và l
khoản 4 điều 95,Luật đất đai 2013 thì trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày
có biến động, người sử dụng đất phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động; trường
hợp thừa kế quyền sử dụng đất thì thời hạn đăng ký biến động được tính từ ngày
phân chia xong quyền sử dụng đất là di sản thừa kế.
7. Việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm
đăng ký vào Sổ địa chính.
1.1.2 Vai trò của hệ thống hồ sơ địa chính đối với công tác quản lý đất đai
Hồ sơ địa chính đóng một vai trò quan trọng trong công tác quản lý đất đai
cũng như tạo điều kiện cho thị trường bất động sản hoạt động được thông suốt,
thuận lợi và lành mạnh. Việc đơn giản hoá, công khai hoá, thể chế hoá quá trình lập
và quản lý hồ sơ địa chính cũng góp phần bảo đảm tính minh bạch của thị trường,
xoá bỏ được các hoạt động ngầm và bảo vệ được quyền lợi chính đáng về bất động
sản của công dân.
Hệ thống hồ sơ địa chính trợ giúp cho các nhà quản lý trong quá trình ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý sử dụng đất đai và tổ chức thi hành
các văn bản đó. Thông qua hệ thống hồ sơ địa chính, nhà quản lý sẽ nắm được tình
hình biến động đất đai và xu hướng biến động đất đai từ cấp vi mô cho đến cấp vĩ
mô. Trên cơ sở thống kê và phân tích xu hướng biến động đất đai kết hợp với định
hướng phát triển kinh tế xã hội của từng cấp, nhà quản lý sẽ hoạch định và đưa ra
Trong những năm gần đây, vấn đề thu hồi đất đai, giải phóng mặt bằng để
phục vụ cho các dự án liên quan đến đất đai đang là vấn đề gây nhiều bức xúc trong
dư luận. Nguyên nhân chính của vấn đề này là do giá đất bồi thường không sát với
giá thị trường. Để giải quyết vấn đề này thì hồ sơ địa chính cần hướng tới quản lý cả
vấn đề giá đất. Một vấn đề khác cũng đang rất nan giải ở các khu vực ven đô, nơi
mà tốc độ đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ đó là tình trạng chuyển mục đích sử
dụng đất trái với quy hoạch: Người dân tự ý chuyển đất nông nghiệp, ao hồ thành
đất thổ cư, nhiều trường hợp khi phát hiện thì đã là “chuyện đã rồi”. Dẫn đến tình
trạng này là do cơ quan quản lý đất đai địa phương không có được hệ thống hồ sơ
địa chính phản ánh đúng thực trạng để kịp thời quản lý.
Các cơ quan quản lý đất đai không chỉ có các công tác quản lư Nhà nước về
13
đất đai mang tính chất định kì như: Quy hoạch sử dụng đất, thống kê kiểm kê đất
đai, mà còn có những công việc mang tính thường xuyên như giải quyết tranh chấp,
khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai. Thực tế có nhiều trường hợp tranh chấp đất
đai giữa các hộ gia đình cá nhân dẫn đến tình trạng kiện tụng kéo dài và khiếu kiện
vượt cấp do phương án giải quyết của chính quyền không có căn cứ pháp lý rõ ràng
và thống nhất. Đây là nguyên nhân làm cho người sử dụng đất tham gia tranh tụng
không đồng ý với phương án giải quyết. Để giải quyết dứt điểm tranh chấp liên
quan đến đất đai ở cấp cơ sở thì hệ thống hồ sơ địa chính phải được hoàn thiện đầy
đủ và là cơ sở pháp lý vững chắc cho những quyết định giải quyết tranh chấp.
Hệ thống hồ sơ địa chính còn giúp tạo lập kênh thông tin giữa Nhà nước và
nhân dân. Nhân dân có điều kiện tham gia vào quá trình giám sát các hoạt động
quản lý đất đai của cơ quan Nhà nước và hoạt động sử dụng đất của các chủ sử
dụng đất: Điều này sẽ giúp hạn chế các việc làm sai trái của người quản lý và của
người sử dụng. Ví dụ nhờ có thông tin địa chính về quy hoạch sử dụng đất người
dân sẽ phát hiện được các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất trái với quy
dụng đất;
- Biến động trong quá trình sử dụng đất và các thông tin khác có liên quan [8].
Nghị định 181/2004/CP của Chính phủ về thi hành luật đất đai ban hành ngày
29/10/2004 đã quy định “nội dung của hồ sơ địa chính phải được thể hiện đầy đủ,
chính xác, kịp thời, phải được chỉnh lý thường xuyên đối với các biến động theo
quy định của pháp luật trong quá trình sử dụng đất” [7].
Thực hiện Luật Đất đai và Nghị định 181/2004/CP của Chính phủ, Bộ Tài
nguyên và Môi trường đã có Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT về việc hướng dẫn
lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính, trong đó nội dung chủ yếu về lập, quản lý hồ
sơ địa chính như sau:
*Nguyên tắc lập hồ sơ địa chính:
- Hồ sơ địa chính được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.
- Việc lập và chỉnh lý hồ sơ địa chính thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục
hành chính quy định tại chương XI của Nghị định 181/2004/NĐ-CP về thi hành luật
đất đai.
15
- Hồ sơ địa chính phải đảm bảo tính thống nhất giữa bản đồ địa chính, sổ địa
chính, sổ mục kê đất đai, sổ theo dõi biến động đất đai; thống nhất giữa bản gốc và
bản sao; thống nhất giữa GCN quyền sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất.
+ Bản đồ địa chính là bản đồ về các thửa đất, được lập để mô tả các yếu tố tự
nhiên của thửa đất và các yếu tố địa hình có liên quan đến sử dụng đất. Nội dung
bản đồ địa chính gồm các thông tin về thửa đất gồm vị trí, kích thước, hình thể, số
thứ tự, diện tích, mục đích sử dụng đất, về hệ thống thuỷ văn gồm sông, ngòi, kênh,
rạch, suối, về hệ thống thuỷ lợi gồm hệ thống dẫn nước, đê, đập, cống, về đường
giao thông gồm đường bộ, đường sắt, cầu, về khu vực đất chưa sử dụng không có
ranh giới thửa khép kín, về mốc giới và đường địa giới hành chính các cấp, mốc
giới và chỉ giới quy hoạch sử dụng đất, mốc giới và ranh giới hành lang bảo vệ an
• Những biến động về sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất gồm những
thay đổi về thửa đất, về người sử dụng, về chế độ sử dụng đất, về quyền và
nghĩa vụ của người sử dụng đất, về GCN quyền sử dụng đất.
+Sổ mục kê đất đai là sổ ghi về thửa đất, về đối tượng chiếm đất nhưng không
có ranh giới khép kín trên tờ bản đồ và các thông tin có liên quan đến quá trình
sử dụng đất. Sổ mục kê đất đai được lập để quản lý thửa đất, tra cứu thông tin về
thửa đất và phục vụ thống kê, kiểm kê đất đai. Nội dung sổ mục kê đất đai bao
gồm:
• Thửa đất gồm số thứ tự thửa, tên người sử dụng đất hoặc người được giao
đất để quản lý, diện tích, mục đích sử dụng đất và những ghi chú về thửa
đất (khi thửa đất thay đổi, giao để quản lý, chưa giao, chưa cho thuê, đất
công ích,…
• Đối tượng có chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất hoặc có hành lang
bảo vệ an toàn như đường giao thông; hệ thống thuỷ lợi (dẫn nước phục vụ
cấp nước, thoát nước, tưới nước, tiêu nước, đê, đập); công trình khác theo
tuyến; sông, ngòi, kênh, rạch, suối và các đối tượng thuỷ văn khác theo
tuyến; khu vực đất chưa sử dụng không có ranh giới thửa khép kín trên bản
đồ gồm tên đối tượng, diện tích trên tờ bản đồ; trường hợp đối tượng không
có tên thì phải đặt tên hoặc ghi ký hiệu trong quá trình đo đạc lập bản đồ địa
chính.
+ Sổ theo dõi biến động đất đai là sổ để ghi những biến động về sử dụng đất
trong quá trình sử dụng đất. Nội dung sổ theo dõi biến động đất đai gồm tên và địa
chỉ của người đăng ký biến động, thời điểm đăng ký biến động, số thứ tự thửa đất
có biến động, nội dung biến động về sử dụng đất trong quá trình sử dụng (thay đổi
17
suối và các đối tượng thuỷ văn khác theo tuyến được tạo lập mới hoặc có thay đổi
về ranh giới; có thay đổi về mốc giới và đường địa giới hành chính các cấp, về mốc
giới và ranh giới hành lang an toàn công trình, về chỉ giới quy hoạch sử dụng đất,
về địa danh và các ghi chú thuyết minh trên bản đồ.
b. Sổ mục kê đất đai
Sổ mục kê đất đai được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn trong
quá trình đo vẽ bản đồ địa chính. Thông tin thửa đất ghi trên sổ phải phù hợp với
hiện trạng sử dụng đất. Sau khi cấp GCN quyền sử dụng đất mà có thay đổi nội
dung thông tin thửa đất so với hiện trạng khi đo vẽ bản đồ địa chính thì phải đư ợc
chỉnh sửa cho thống nhất với GCN quyền sử dụng đất.
*Sổ mục kê đất đai được ghi dưới dạng bảng với những thông tin sau:
- Số thứ tự thửa đất.
- Tên người sử dụng đất, người được giao đất để quản lý.
- Loại đối tượng sử dụng, quản lý đất được ghi bằng mã (ký hiệu) gồm 3 chữ
cái, ví dụ: "GDC" là hộ gia đình, cá nhân, "UBS" là ủy ban nhân dân cấp xã,...
- Diện tích thửa đất bao gồm cả phần sử dụng chung và sử dụng riêng.
- Mục đích sử dụng đất được ghi theo mã quy định tại Thông tư 29/2004/TTBTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Sổ mục kê đất đai được chỉnh lý theo những biến động về sử dụng đất. Khi
ranh giới thửa đất không bị thay đổi mà có thay đổi về số thứ tự, diện tích, mục đích
sử dụng đất thì các thay đổi đó được chỉnh lý vào phần ghi chú của thửa đất. Khi
thửa đất có thay đổi ranh giới, tách thửa, hợp thửa thì thửa đất cũ bị xoá bỏ và bổ
sung thửa đất mới vào trang sổ của tờ bản đồ đó.
c. Sổ địa chính
Sổ địa chính được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn để ghi thông
tin về người sử dụng đất và thông tin về sử dụng đất của người đó đối với thửa đất
đã cấp GCN quyền sử dụng đất.
Mỗi trang sổ để đăng ký cho một người sử dụng đất gồm tất cả các thửa đất
thuộc quyền sử dụng của người đó. Nội dung thông tin về người sử dụng đất và
địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ địa chính sau khi lập xong để đưa vào sử dụng.
+ Trường hợp phải trích đo địa chính thửa đất thì Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất có trách nhiệm kiểm tra chất lượng trước khi sử dụng.
20
+ Nội dung kiểm tra, nghiệm thu thực hiện theo quy định của Bộ Tài nguyên
và Môi trường.
*Chỉnh lý hồ sơ địa chính:
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
chịu trách nhiệm chỉnh lý, cập nhật hồ sơ địa chính gốc.
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi
trường và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm chỉnh lý, cập nhật
bản sao hồ sơ địa chính.
*Quản lý hồ sơ địa chính:
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
chịu trách nhiệm quản lý hồ sơ địa chính gốc và các tài liệu có liên quan sau đây:
+ Bản lưu GCNQSDĐ, hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ, hồ sơ xin đăng ký biến
động về sử dụng đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài (trừ trường hợp mua nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở), tổ chức nước
ngoài, cá nhân nước ngoài;
+ GCN quyền sử dụng đất của tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài đã thu hồi trong các
trường hợp thu hồi đất, tách thửa hoặc hợp thửa đất, cấp đổi, cấp lại GCN quyền sử
dụng đất;
+ Thông báo về nội dung đã chỉnh lý hoặc cấp đổi, cấp lại GCN quyền sử
dụng đất và các giấy tờ kèm theo thông báo do Phòng Tài nguyên và Môi trường
hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường
gửi đến để chỉnh lý, cập nhật hồ sơ địa chính gốc.
cung cấp hồ sơ địa chính dạng số thay thế bản sao hồ sơ địa chính trên giấy cho
Phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND xã, phường, thị trấn để thực hiện nhiệm
vụ quản lý đất đai của địa phương.
Ngày 02/8/2007 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư
09/2007/TT-BTNMT thay thế Thông tư số 29/2004/ TT-BTNMT với việc bổ sung
hoàn thiện quy định về hồ sơ địa chính dạng số và thiết lập cơ sở dữ liệu địa chính.
- Hồ sơ địa chính gồm Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai, Sổ
theo dõi biến động đất đai và bản lưu GCN quyền sử dụng đất.
22
Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai, Sổ theo dõi biến động đất
đai có nội dung được lập và quản lý trên máy tính dưới dạng số (sau đây gọi là
CSDL địa chính) để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp tỉnh, cấp huyện và được in
trên giấy để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp xã.
CSDL địa chính bao gồm dữ liệu Bản đồ địa chính và các dữ liệu thuộc tính
địa chính.
- Bản lưu GCN được lập theo Quy định về Giấy chứng nhận ban hành theo
Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004, Quyết định số
08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường; bản lưu Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở
theo quy định tại Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị; bản sao Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định tại Nghị định số
90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở (sau đây gọi chung là bản lưu GCN).
Đối với GCN quyền sử dụng đất đã cấp mà không có bản lưu thì Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất phải sao Giấy chứng nhận đó (sao y bản chính) khi thực
hiện đăng ký biến động về sử dụng đất; bản sao Giấy chứng nhận này được coi là
nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính trên giấy theo quy định của Thông tư này.
- Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm cập nhật, chỉnh lý vào hồ sơ địa
chính trên giấy đang quản lý đối với tất cả các trường hợp biến động về sử dụng đất.
- Các cơ quan có trách nhiệm thực hiện việc đo đạc lập bản đồ địa chính và
xây dựng CSDL địa chính được phép thuê dịch vụ tư vấn để thực hiện các nhiệm vụ
được giao[1].
1.2.2 Những quy định pháp lý chủ yếu về lập, quản lý hệ thống hồ sơ địa chính
theo Luật Đất đai 2013 và các văn bản dưới luật
Luật Đất đai 2013 tiếp tục có những quy định bổ sung cụ thể về hồ sơ địa
chính, từng bước hiện đại hóa hệ thống hồ sơ địa chính chuyển đổi hồ sơ địa chính
dạng giấy sang hồ sơ địa chính dạng số nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về
quản lý đất đai. Điều 96 quy định:
24
1. Hồ sơ địa chính bao gồm các tài liệu dạng giấy hoặc dạng số thể hiện thông
tin chi tiết về từng thửa đất, người được giao quản lý đất, người sử dụng đất, chủ sở
hữu tài sản gắn liền với đất, các quyền và thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
tài sản gắn liền với đất.
2. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính và
việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; lộ trình chuyển đổi hồ sơ địa chính dạng
giấy sang hồ sơ địa chính dạng số.
Thực hiện Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CPngày
15/5/2014 của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Thông tư số
24/2014/TT-BTNMT quy định hồ sơ địa chính trong đó nội dung chủ yếu về việc
hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
Nội dung hồ sơ địa chính bao gồm các thông tin về thửa đất, người sử dụng
đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất sau đây:
- Nhóm dữ liệu về thửa đất;