Đánh giá thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010-2014 - Pdf 34

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt
CT-TTg
CP
ĐKĐĐ
GCNQSDĐ
NĐ-CP

TN-MT
TT
UBND
VPĐK QSDĐ
TTCH

Viết đầy đủ
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ
Chính phủ
Đăng ký đất đai
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất
Nghị định của Chính phủ
Quyết định
Tài nguyên và Môi trường
Thông tư
Ủy ban nhân dân
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
Tổ chức thực hiện

1


xây dụng các cơ sở kinh tế, văn hoá, an ninh, quốc phòng điều đó thể hiện rõ tầm quan
trọng của đất đai trong đời sống xã hội. Vì vậy hiện nay ở nhiều nước trên thế giới đã
ghi nhận vấn đề đất đai vào hiến pháp của nhà nước mình nhằm bảo vệ, quản lý và sử
dụng đất đai có hiệu quả.
Những năm gần đây do chính sách mở cửa nền kinh tế, việc đẩy nhanh công cuộc
công nghiệp hoá, đô thị hoá đất nước dẫn đến việc xây dựng các cơ sở hạ tầng diễn ra
ồ ạt. Cùng với nó là nhu cầu sử dụng đất cho các hoạt động: Nhà ở, kinh doanh, dịch
vụ ngày càng phát triển dẫn đến quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm mạnh đối với cả
nước nói chung với huyện Hiệp Hòa nói riêng. Trong khi đó nhu cầu về lương thực
ngày càng tăng đã tạo nên áp lực lớn đối với nhà quản lý đất đai. Đồng thời nó đã làm
cho giá trị về quyền sử dụng đất tăng lên nhanh chóng.
Vấn đề cấp bách đặt ra cho công tác quản lý nhà nước về đất đai là phải có
những biện pháp quản lý chặt chẽ và có hiệu quả. Nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất cũng như tránh xảy ra tranh chấp đất đai gây mất trật tự xã hội.
Việc ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang trong thời
gian qua vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức nảy sinh cần giải quyết. Để có cách giải
quyết thích hợp với những khó khăn trên đòi hỏi chúng ta cần nhìn nhận lại công tác
ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ từ cấp xã. Từ đó tìm ra cách giải quyết đúng đắn và triệt để
với tình hình địa phương.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiến trên, được sự đồng ý, nhất trí của ban
chủ nhiệm khoa Quản lý đất đai-Trường đai học Tài Nguyên và Môi trường Hà Nội
với sự giúp đỡ của cô giáo Th.s Phạm Thị Mai, tôi tiến hành thực hiện đề tài : “Đánh
giá thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất trên địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giai đoạn
2010-2014”

3


2. Mục đích và yêu cầu của đề tài


hồ sơ tài liệu được xây dựng trong quá trình này trên địa bàn .
-

Tiếp cận thực tế hoạt động đăng ký cấp GCNQSDĐ để hiểu biết và thực hiện

được trình tự, thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ.
-

Đề xuất một số biện pháp có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của địa phương

liên quan đến công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ.
3. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, chuyên đề gồm 3 phần:
Chương I: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu
Chương II: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương III: Kết quả nghiên cứu

Chương I : TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
4


1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Lịch sử đăng ký đất đai và cấp GCNQSDĐ
Ngay sau khi miền Nam được giải phóng, Nhà nước đã ra chính sách thu hồi
toàn bộ những ruộng đất thuộc sở hữu Quốc gia và Thời kỳ phong kiến
Ở Việt Nam, công tác đạc điền và quản lý điền địa được hình thành từ thế kỷ
thứ VI, tuy nhiên theo số liệu và những tài liệu còn lưu giữ lại thì hệ thống cũ nhất còn
lại được đến nay là hệ thống địa bạ thời Gia Long.
Từ năm 1806, Vua Gia Long đã tiến hành đạc điền toàn quốc và lập địa bạ cho

cấp GCN quyền sở hữu ruộng đất cho người được chia đất. Người được chia chỉ được
quyền sử dụng, nếu không có nhu cầu nữa thì phải trả lại ruộng đất cho chính quyền xã
mà không được sang tên và bán cho người khác.
Ngày 09/11/1979, Chính phủ đã ban hành Nghị định 404-CP về việc thành lập
tổ chức quản lý ruộng đất trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng thống nhất quản lý Nhà nước
đối với toàn bộ ruộng đất trên toàn bộ lãnh thổ.
Thời kỳ từ năm 1980 – 1988
Hiến pháp năm 1980 ra đời quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước thống nhất quản lý”. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, hệ thống quản lý đất đai của
toàn quốc còn nhiều hạn chế và chưa có biện pháp cụ thể để quản lý toàn bộ đất đai.
Từ thực tế đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Quyết định, Thông tư, Chỉ thị
như:
* Chỉ thị số 299/CT- TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về việc
triển khai thực hiện công tác đo đạc, ĐKĐĐ, thống kê đất đai, phân hạng đất.
* Quyết định số 201/QĐ- CP ngày 01/07/1986 về công tác quản lý đất đai
trong cả nước.
* Quyết định số 56/QĐ- ĐKTK ngày 05/11/1981 về việc điều tra đo đạc, kê
khai đăng ký và lập hồ sơ ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ để đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, việc xét duyệt được thực hiện chưa nghiêm túc
do đó độ chính xác chưa cao. Hầu hết các trường hợp vi phạm không bị xử lý mà vẫn
còn được kê khai. Có thể nói, hệ thống hồ sơ địa chính cũng như trình tự thủ tục quản
lý khá chặt chẽ nhưng trong quá trình thực hiện chúng lại không chặt chẽ. Do vậy, hệ
thống hồ sơ này vẫn chỉ mang tính chất điều tra, phản ánh hiện trạng sử dụng đất.
Công tác cấp GCNQSDĐ chưa được thực hiện.
Thời kỳ từ năm 1988 – 1993
Năm 1988, Luật Đất đai lần đầu tiên được ban hành nhằm đưa công tác quản lý
đất đai vào nề nếp. Do yêu cầu thực tế, để đáp ứng yêu cầu công việc và thừa kế sản
phẩm theo Chỉ thị số 299/CT- TTg ngày 10/11/1980, Tổng cục quản lý ruộng đất đã
6


Ngày 16/11/2003, Luật Đất đai 2003 được ban hành và có hiệu lực từ ngày
01/07/2004. Luật Đất đai 2003 đã nhanh chóng đi vào đời sống và góp phần giải quyết
những khó khăn vướng mắc mà Luật Đất đai giai đoạn trước chưa giải quyết được.
7


1.1.2. Cơ sở lý luận của công tác đăng ký đất đai và cấp GCNQSDĐ
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất không gì
thay thế được của ngành nông nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kỹ thuật, văn hoá, xã hội,
an ninh quốc phòng. Song thực tế đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn về
diện tích, có vị trí cố định trong không gian. Cùng với thời gian giá trị sử dụng của đất
có chiều hướng tăng hay giảm điều đó phụ thuộc vào việc triển khai Trong những năm
gần đây, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chuyển từ
nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
nhà nước đặc biệt là việc gia nhập WTO. Nó đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế
phát triển mạnh mẽ đồng thời nhu cầu sử dụng đất cũng tăng lên và làm cho công tác
quản lý sử dụng đất hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm cũng ngày càng trở lên phức tạp.
Chính vì thế, công tác quản lý sử dụng đất đã và đang được Đảng và Nhà nước
ta quan tâm sâu sắc. Trong các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai công tác ĐKĐĐ,
cấp GCNQSDĐ và lập HSĐC có vai trò rất quan trọng.
ĐKĐĐ là thủ tục hành chính bắt buộc do cơ quan Nhà nước thực hiện và được
thực hiện với tất cả các tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất. ĐKĐĐ là công việc
để thiết lập lên hệ thống HSĐC đầy đủ nhất cho tất cả các loại đất trong phạm vi địa
giới hành chính để thực hiện cấp GCNQSDĐ cho các đối tượng đủ điều kiện làm cơ
sở để Nhà nước quản chặt, lắm chắc đến từng thửa đất và từng sử dụng đất.
GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của
người sử dụng đất để họ yên tâm đầu tư, cải tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
HSĐC là hệ thống tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách chứa đựng những thông tin
cần thiết về mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý của đất đai được thiết lập trong quá

Các văn bản thuộc thẩm quyền của Bộ, ngành Trung ương ban hành quy
định về cấp GCN cùng các vấn đề liên quan gồm:
Thông tư số 29/2004/TT-BTN&MT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường về việc hướng dẫn, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính;
Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường ban hành quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Thông tư số 95/2005/TT-BTC ngày 26/10/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa
đổi bổ sung Thông tư số 117/TT-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất;
Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/7/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường ban hành quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
9


Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 8/02/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường về việc hướng dẫn, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính;
Nghị định 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung về việc
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất,
trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết
khiếu nại, tố cáo về đất đai;
Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 2/7/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/NĐ-CP;
Nghị định 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liềnvới đất;
Thông tư 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất.
Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường Quy định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất.

theo quy định của UBND tỉnh.
Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại UBND cấp xã nếu có nhu
cầu.
- Đối với cơ quan thực hiện TTHC: Cơ quan tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ.
+ Trường hợp đã đầy đủ hồ sơ, cơ quan cấp giấy biên nhận cho đối tượng thực
hiện TTHC.
+ Trường hợp nhận hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì trong thời gian tối đa 03
ngày, cơ quan tiếp nhận, xử lý hồ sơ phải thông báo và hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ
sung, hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại UBND cấp xã
thì UBND cấp xã chuyển hồ sơ đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện.
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện cập nhật thông tin thửa đất
đăng ký vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai (nếu có).
b) Cách thức thực hiện: Nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
cấp huyện hoặc cơ quan tiếp nhận hồ sơ theo quy định của UBND cấp tỉnh. Hộ gia đình,
cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại UBND cấp xã nếu có nhu cầu.
c) Thành phần, số lượng hồ sơ
- Thành phần hồ sơ:
(1) Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất theo Mẫu số 04/ĐK.
(2) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất (bản sao) như sau:
11


- Giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm
quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ
Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính trước ngày 15/10/1993.

* Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây dựng, sửa
chữa nhà ở, công trình được UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước
về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép.
* Giấy tờ tạm giao đất của UBND cấp huyện, cấp tỉnh; Đơn đề nghị được sử
dụng đất được UBND cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày
01/7/1980 hoặc được UBND cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận.
* Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ
chức để bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân
(cấp) cho cán bộ, công nhân viên bằng vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc do
cán bộ, công nhân viên tự đóng góp xây dựng. Trường hợp xây dựng nhà ở bằng vốn
ngân sách nhà nước thì phải bàn giao quỹ nhà ở đó cho cơ quan quản lý nhà ở của địa
phương để quản lý, kinh doanh theo quy định của pháp luật.
+ Bản sao các giấy tờ lập trước ngày 15/10/1993 có tên người sử dụng đất nêu tại
Điểm g có xác nhận của UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành
cấp huyện, cấp tỉnh đối với trường hợp bản gốc giấy tờ này đã bị thất lạc và cơ quan nhà
nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ đó.
+ Một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất nêu tại các Điểm a, b, c, d , đ, e, g
và h trên đây mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển
quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan.
+ Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa
án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết
quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có quyết định giao đất, cho thuê đất
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ ngày 15/10/1993 đến ngày 01/7/2014.
+ Giấy xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng đối với trường hợp cộng
đồng dân cư đang sử dụng đất.
(3) Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; giấy tờ liên quan đến việc miễn,
giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai, tài sản gắn liền với đất - nếu có (bản sao).
13

- Mẫu số 04b/ĐK: Danh sách người sử dụng chung thửa đất, chủ sở hữu chung
tài sản gắn liền với đất.
14


- Mẫu số 04c/ĐK: Danh sách các thửa đất nông nghiệp của cùng một người sử
dụng, người được giao quản lý đất.
k) Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính: Không
l) Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:
- Luật Đất đai năm 2013;
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật Đất đai;
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi
đất.
1.2.2. Những quy định chung về giấy chứng nhận
a. Mẫu giấy chứng nhận
“GCNQSDĐ là GCN do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử
dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”. GCNQSDĐ cấp
theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất do Bộ Tài nguyên và Môi
trường phát hành. GCNQSDĐ được cấp theo từng thửa đất gồm 2 bản, trong đó một
bản cấp cho người sử dụng đất, một bản lưu tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
Hiện nay GCNQSDĐ tồn tại 4 loại:
- Loại thứ nhất: GCNQSDĐ được cấp theo Luật đất đai năm 1988 do Tổng cục
Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) phát hành theo mẫu quy định tại
Quyết định 201/QĐ/ĐK ngày 14/07/1989 của Tổng cục quản lý ruộng đất để cấp cho
đất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở nông thôn có mầu đỏ.
- Loại thứ hai: GCN quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị do Bộ
Xây dựng phát hành theo mẫu quy định tại Nghị định số 60/CP ngày 05/07/1994 của
Chính phủ và theo Luật đất đai năm 1993. GCN có 2 màu: màu hồng giao cho chủ sử

+ Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở
trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng
trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
+ Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở
hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;
+ Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp
cho người sử dụng đất;
+ Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy
định của Chính phủ.
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định như
trên mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyến quyền sử
dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật Đất đai 2013
16


có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp GCN và không phải nộp tiền
sử dụng đất.
Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án
nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả
hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp GCN; trường hợp chưa
thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ
ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành mà chưa
được cấp giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài
chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có
giấy tờ về quyền sử dụng đất

Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền vói đất được nhận
GCN sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất
không thuộc đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được miễn, được ghi nợ
nghĩa vụ tài chính và trường hơp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì được nhận
GCN ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền cấp.
Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào GCN,
trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.
Trường họp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
là tài sản chung của vợ và chồng mà giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ
hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu
cầu.
Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi
trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 hoặc giấy chứng nhận đã cấp
mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời
điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng
đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi GCN được xác định theo số liệu đo đạc thực tế.
18


Ngườỉ sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch
nhiều hơn nếu có.
Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất
tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn
diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn
(nếu có) được xem xét cấp GCN theo quy định tại Điều 99 của Luật Đất đai 2013.

nước về đất đai.
Thực hiện Luật Đất Đai năm 2003 (sửa đổi bổ sung 2009), việc cấp GCN đã
được thống nhất theo một mẫu giấy trong phạm vi cả nước. Quyết định số
24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 ban hành quy định về cấp GCN quyền sử dụng
đất mẫu GCN có màu đỏ thay thế cho ba loại giấy tờ đỏ, hồng, tím hơp pháp đang tồn
tại, thống nhất chung cho một GCN chung, cho một loại dất và cả tài sản trên đất.
Nhưng cũng chính vào thời điểm này lại bùng phát các rắc rối về về mẫu GCN do các
ngành khác nhau cùng ban hành hoặc đang trình ban hành, gây cản trở tiến độ cấp
GCN và tạo tâm lý bất ổn thiếu lòng tin cho nhân dân. Nguyên nhân phát sinh chồng
chéo là do có sự khác nhau trong các quy định khác nhau của pháp luật (xung đột pháp
luật trong các quy định cùng điều chỉnh mối quan hệ xã hội về đất đai và tài sản trên
đất của các luật), đồng thời do yêu cấu phát triển kinh tế đất nước và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà đòi hỏi nhà nước phải xác lập và quản lý các
quyền về tài sản của công dân.
Từ khi Luật đất đai năm 2013 ra đời, cùng với việc hoàn thiện tổ chức bộ Nhà
máy quản lý tài nguyên - môi trường tới cấp xã, các cấp địa phương trong cả nước đã
có tổ chức các văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, trung tâm phát triển quỹ đất nên
các nguồn thu từ đất tăng lên rõ rệt giúp địa phương tháo gỡ những khó khăn và phát
hiện những điều chưa hoàn thiện trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Tuy nhiên vẫn có một số sai phạm cần khắc phục và sửa chữa như: Sai phạm về
trình tự thủ tục cấp giấy, về đối tượng cấp giấy, sai về diện tích, sai về nguồn gốc đất...
Công tác cấp GCN của cả nước được đẩy mạnh hơn đến nay có 13 tỉnh cấp GCN
đạt trên 90% diện tích cần cấp đối với các loại đất chính (đất sản xuất nông nghiệp, đất
ở nông thôn và đất ở đô thị), 14 tỉnh đạt từ 80-90%, 10 tỉnh đạt từ 70-80%, 27 tỉnh còn
lại đạt dưới 70%. Cụ thể như sau:
Đối với đất sản xuất nông nghiệp: cấp được 13.686.351 GCN với diện tích là
7.485.643 ha, đạt 82,1% so với diện tích cần cấp; trong đó cấp cho hộ gia đình, cá
nhân là 13.681.327 GCN với diện tích 6.963.330 ha, cấp cho tổ chức 5.024 GCN với
diện tích 522.313 ha.
Cụ thể, có 31 tỉnh đạt trên 90%, 11 tỉnh đạt từ 80-90%, 8 tỉnh đạt từ 70- 80%, 12

thực hiện.
1.3.2. Thực trạng công tác cấp GCN tại tỉnh Bắc Giang
Đến năm 2014 các huyện, thành phố cấp được 24.840 giấy CNQSDĐ lần đầu
cho các hộ gia đình, cá nhân, đạt 180% kế hoạch, cấp đổi được 46.970 giấy, đạt 110%
kế hoạch năm; cấp 1.500 giấy chứng nhận cho các tổ chức, đạt 150% kế hoạch.
21


22


Chương II : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ CẤP GIẤY
CHỨNG NHẬN TẠI HUYỆN HIỆP HÒA – TỈNH BẮC GIANG
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
2.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Hiệp Hòa là một huyện trung du thuộc tỉnh Bắc Giang, nằm ở phía Tây Nam
của tỉnh Bắc Giang. Huyện lỵ là thị trấn Thắng cách thành phố Bắc Giang 30 km và
cách thủ đô Hà Nội 50 km theo đường bộ. Phía Đông Bắc giáp huyện Tân Yên, phía
Đông giáp huyện Việt Yên, phía Nam giáp vùng đồng bằng châu thổ Yên Phong của
tỉnh Bắc Ninh, phía Tây Nam giáp huyện Sóc Sơn của Hà Nội, phía Tây Bắc giáp các
huyện Phổ Yên và Phú Bình của tỉnh Thái Nguyên.
b. Địa hình, địa mạo
Hiệp hòa là vùng chuyển tiếp giữa đồi núi và đồng bằng, độ nghiêng theo
hướng tây bắc xuống đông nam, đồi núi và gò thấp ở một số xã phía bắc, vùng đồng
bằng tập trung ở phía đông nam và giữa huyện. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện
là 20.599,68 ha,trong đó đất nông nghiệp là 15.104,21 ha chiếm 73,32%, đất phi nông
nghiệp 5.426,90 ha chiếm 26,34%, đất chưa sử dụng 68,57 ha chiếm 0,34%. Đất đai đa
dạng, thích nghi với nhiều loại cây trồng về lương thực, thực phẩm, công nghiệp.
c. Thời tiết và khí hậu

huyện đạt 200 triệu USD, tăng 56,5% so với năm 2013. Sản lượng may mặc, bia hơi,
khai thác cát sỏi, gạch đều vượt kế hoạch từ 9-10%. Hiện huyện đã quy hoạch được 7
cụm công nghiệp, trong đó có 4 cụm đã được đưa vào sử dụng với tổng diện tích 124,5
ha. Năm 2014 toàn huyện đã thu hút 7 dự án đầu tư lớn với tổng vốn đăng ký hàng
trăm tỷ đồng.
Điện lưới: Tính đến năm 2007 điện lưới quốc gia đã đến tất cả các xã, mọi hộ gia
đình được sử dụng điện. Toàn huyện hiện có 124 máy biến áp. Điện lưới ở Hiệp Hòa
rất hay bị cắt, từ năm 2014 đến nay điện thường bị cắt đúng lúc dân cần điện sinh hoạt
từ 17h đến 20h30, nhất là vào tháng 5, 6 - lúc các học sinh chuẩn bị ôn thi tốt nghiệp
và đại học.
Thông tin: Đường dây điện thoại cố định đã tới tất cả các thôn xóm trong huyện,
mỗi gia đình đều có vô tuyến. Điện thoại di động được dùng rất phổ biến trong người
dân. Tại trung tâm các xã đều có cơ sở bưu điện và Nhà văn hóa xã.
Nước sinh hoạt: Dân cư chủ yếu dùng nước sinh hoạt từ giếng đào còn một phần
từ sông và nước mưa. Nước giếng vùng đồi núi của Hiệp Hòa nổi tiếng trong và mát.
24


Khoảng trên 70% dân cư có nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Khu vực thị trấn được dùng
nước máy.
Y tế: Toàn huyện có một bệnh viện lớn, các xã đều có trạm y tế xã, các thôn đều
có y tá chăm sóc sức khỏe cho người dân. Ngoài ra còn có các phòng khám tư nhân.
b. Dân số, lao động, việc làm
Năm 2014, dân số của huyện là 500.000 người, số người trong độ tuổi lao động
chiếm 65% dân số, tuy nhiên chủ yếu là lao động nông nghiệp. Lao động chưa có
chuyên môn kỹ thuật chiếm 95%.
c. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
Đường bộ của Hiệp hòa khá thuận tiện, có ba tuyến chính: quốc lộ 37 từ
Đình Trám qua Thắng (huyện Hiệp Hòa) dài 17 km), đường 295(chuẩn bị khởi
công) nối bến đò Đông Xuyên qua Thắng lên Cao Thượng (đoạn qua huyện dài 20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status