Thực trạng và giải pháp Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Ba Tơ - Pdf 34

Tiểu luận cuối khóa

GVHD: Trần Duy Linh
LỜI CẢM ƠN

Trước tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu Trường chính
trị tỉnh Quảng Ngãi, Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Ba Tơ, tập thể giáo
viên Trường Chính trị Quảng Ngãi và CBCC Chi cục thuế Ba Tơ đã dành nhiều
sự quan tâm và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt thời gian học tập và
đi nghiên cứu thực tế. Em thật sự rất cảm động trước tình cảm của tất cả các
thầy,cô đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian học tập cũng như cho em những
lời khuyên bổ ích để em có thể hoàn thành tiểu luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy các cô trong các khoa nói chung cũng
như các thầy, cô trong khoa Nhà nước và Pháp luật nói riêng đã truyền đạt cho
em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học vừa qua.
Em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới thấy Trần Duy Linh là người đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện tiểu luận tốt nghiệp.
Mặc dù em đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện tiểu luận này nhưng với kiến
thức và thời gian có hạn nên bài viết của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót,
em rất mong nhận được sự thông cảm và ý kiến đóng góp của quý thầy, cô
Trường chính trị Quảng Ngãi để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý thầy cô có nhiều
sức khỏe, hạnh phúc và thành công.
Ba Tơ, ngày 04 tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Đinh Tấn Hiệp

HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang
1

Xếp loại:.......................................................................................................

HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang
2


Tiểu luận cuối khóa

GVHD: Trần Duy Linh

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương I. Một số vấn đề cơ bản về thuế và quản lý thu thuế ngoài quốc
doanh trên địa bàn huyện Ba Tơ năm 2012
1. Thuế và vai trò của thuế trong nền kinh tế Ngoài quốc doanh nước ta
hiện nay
2. Đặc điểm của quản lý thu thuế ngoài quốc doanh
Chương II. Thực trạng quản lý thu thuế NQD trên địa bàn huyện Ba
Tơ năm 2012
1. Đặc điểm tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ba Tơ
2. Thực trạng kinh tế ngoài quốc doanh và quản lý thu thuế ngoài quốc
doanh địa bàn huyện Ba Tơ trong 2012
2.1. Những kết quả đạt được
2.2. Những tồn tại
2.3.Nguyên nhân của thực trạng
Chương 3: Những giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện
quản lý thu thuế NQD trên địa bàn huyện Ba Tơ

đưa thuế ngày càng tiếp cận thực tiễn. Để phản ánh và theo kịp bước chuyển của
nền kinh tế thì quản lý thu thuế cần phải thay đổi và phải được hoàn thiện hơn để
đáp ứng tình hình phát triển kinh tế của đất nước cũng như các cam kết quốc tế
trong giai đoạn hiện nay. Qua đó khai thác tối đa những uy lực vốn có của thuế
để kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất kinh doanh của
mọi đơn vị thuộc các thành phần kinh tế và đảm bảo thực hiện đúng nghĩa vụ
nộp thuế cho Nhà nước. Đối với khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh(KTNQD),
hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng, đều khắp các địa bàn trong
từng địa phương và cả nước. Song chế độ sổ sách kế toán,chứng từ hóa đơn còn
thực hiện tùy tiện, chưa đúng chế độ, hiện tượng khai man trốn thuế, lậu thuế
còn nhiều từ đó tạo ra sự bất bình đẳng và sự cạnh tranh không lành mạnh giữa
các thành phần kinh tế. Vì vậy, quản lý thu thuế đối với khu vực KTNQD phải
tiếp tục cải tiến và hoàn thiện nhằm thực hiện được mục tiêu, yêu cầu của hệ
thống thuế đặt ra.
Ba Tơ là một huyện miền núi, số thu về thuế không nhiều, chưa đủ đáp ứng
nhu cầu chi tiêu của địa phương, nhưng trong đó kinh tế ngoài quốc doanh
(KTNQD) đã đóng góp một phần không nhỏ vào số thu hàng năm của ngân sách
địa phương. Nhiều năm qua Chi cục thuế Ba Tơ đã hoàn thành kế hoạch pháp
lệnh của Nhà nước giao nói chung và thuế KTNQD nói riêng. Nhưng với tính
chất đa dạng và phức tạp của khu vực kinh tế này, công tác quản lý thu thuế ở
Chi cục thuế Ba Tơ cần được khắc phục những mặt hạn chế và tồn tại, đảm bảo
nuôi dưỡng nguồn thu, thu đúng, thu đủ theo quy định của pháp luật.

HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang
4


Tiểu luận cuối khóa

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết hợp chặt chẽ giữa lý
luận và thực tiễn, phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh để rút ra
những kết luận cần thiết.
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài
Từ những đánh giá về thực trạng, những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên
nhân của những tồn tại của công tác quản lý thu thuế đối với khu vực KTNQD ở
huyện Ba Tơ, tiểu luận đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện
công tác quản lýthu thuế NQD trên địa bàn huyện Ba Tơ hiện nay.
HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang
5


Tiểu luận cuối khóa

GVHD: Trần Duy Linh

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Tiểu Luận có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho Lãnh đạo và CBCC
Chi cục thuế Ba Tơ trong quá trình lập dự toán, phân tích, đánh giá kế hoạch
thu, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế
ở đơn vị. Đảm bảo sự tinh tế trong hành thu; hạn chế đến mức thấp nhất hiện
tượng thất thu thuế; thực hiện công bằng trong điều tiết thuế ở các cơ sở sản xuất
kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế.
7. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu
luận gồm có 3 chương.

phẩm thặng dư.
Tóm lại, qua quá trình phát triển của Nhà nước và thuế cho chúng ta thấy,
thuế và Nhà nước là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Nhà nước tồn tại tất
yếu phải có thuế. Thuế là cơ sở vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của
Nhà nước. Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh như sau:
Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và
pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định,
nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
1.2. Vai trò của khu vực kinh tế NQD trong nền kinh tế
Khu vực kinh tế NQD bao gồm các doanh nghiệp NQD (Công ty TNHH,
công ty Cổ phần, công ty Hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) và các hộ cá nhân có
hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế NQD là
thành phần kinh tế không thể thiếu và đóng vai trò ngày càng mạnh mẽ, tương
HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang
7


Tiểu luận cuối khóa

GVHD: Trần Duy Linh

xứng với tiềm năng và đóng góp xứng đáng vào sự tồn tại vào sự phát triển nền
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi Nhà nước phải có các chính
sách, điều kiện thuận lợi để khu vực này phát huy được vai trò của mình trong
tình hình kinh tế hiện nay.
Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần làm tăng của cải vật chất
cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nước ta là nước có nền kinh tế đang trên đà phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh

không phải đầu tư trực tiếp vào khu vực này. Nguồn thu từ khu vực này rất lớn
HVTH : Đinh Tấn Hiệp
Trang
8


Tiểu luận cuối khóa

GVHD: Trần Duy Linh

ngày càng tăng và được dùng chủ yếu để đầu tư vào các ngành nghề kinh tế mũi
nhọn, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế yếu kém...đồng thời khu
vực này còn tham gia đóng góp tài chính cho đất nước nhiều hơn nữa thông qua
các hoạt động tự nguyện hưởng ứng các phong trào do Nhà nước, đoàn thể phát
động như ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, thương binh, gia đình liệt sĩ, xây dựng
trường học, đường xá đóng góp vào các quỹ an ninh, đền ơn đáp nghĩa....Vậy
khu vực kinh tế NQD có vai trò điều hoà thu nhập và đóng góp vào ngân sách
Nhà nước rất lớn.
Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần tăng vốn đầu tư cho xã hội
Khu vực này tạo ra một thị trường vốn tín dụng lớn và hứa hẹn nhiều tiềm năng
cho sự phát triển của các ngân hàng ở nước ta do sự đổi mới kinh tế, nhờ chính
sách phát triển kinh tế nhiều thành phần nên khu vực NQD đã hình thành và huy
động một lượng vốn đầu tư lớn cho xã hội. Đây là một nguồn vốn quan trọng,
song khai thác chưa hiệu quả. Bên cạnh đó khu vực kinh tế NQD càng phát triển
thì nhu cầu về vốn ngày càng gia tăng và có mối quan hệ mật thiết với các ngân
hàng, đóng góp vào sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng trong công tác huy
động vốn.
2. Đặc điểm Quản lý thu thuế Kinh tế Ngoài quốc doanh:
Khu vực kinh tế NQD bao gồm các doanh nghiệp NQD (Công ty TNHH,
công ty Cổ phần, công ty Hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) và các hộ cá nhân có

Thuế GTGT; Thuế TTĐB; Thuế XNK; Thuế tài nguyên; Thuế TNDN;
Thuế thu nhập cá nhân; Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế sử dụng đất phi
nông nghiệp; Thuế chuyển quyền sử dụng đất; Thuế môn bài và thu khác
NQD.Trong đó thuế NQD bao gồm các khoản thuế như sau:
Thuế GTGT; Thuế TTĐB; Thuế Tài nguyên; Thuế TNDN;Thuế TNCN;
Thuế môn bài
Mỗi sắc thuế có chức năng, tác dụng, đối tượng nộp khác nhau nhưng có
mối liên hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau; giữa thuế trực thu và thuế gián thu để
phát huy tác dụng toàn diện của hệ thống thuế.
Ngoài ra, còn một số khoản thu mang tính chất phí, lệ phí, nhằm động viên
sự đóng góp cho NSNN vừa mang tính chất phục vụ cho người nộp phí, lệ phí
thực hiện một số thủ tục hành chính.
Ý nghĩa và đặc điểm của quản lý thuế NQD:
Ý nghĩa:
Trong công tác quản lý thu thuế và phí hiện nay, thuế công thương nghiệp
NQD tuy không chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu NSNN chỉ ở mức BQ 27%
nhưng lại là lĩnh vực khó khăn phức tạp hơn cả. Công tác quản lý thu thuế NQD
không chỉ đơn thuần phục vụ cho mục tiêu thu ngân sách mà chính là thực hiện
vai trò quản lý của Nhà nước đối với khu vực KTNQD; thông qua công cụ thuế
thực hiện yêu cầu quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung. Quản lý thu
thuế NQD có vai trò quan trọng trong việc đưa chính sách, pháp luật vào hoạt
động kinh doanh và phát huy tác dụng của chính sách. Quản lý thu thuế NQD
không chỉ góp phần tăng thu cho ngân sách mà còn góp phần đảm bảo thực hiện
công bằng xã hội và tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở sản xuất kinh
doanh thuộc các thành phần kinh tế. Trên cơ sở quan niệm và tiếp cận KTNQD
từ góc độ thuế, quản lý thu thuế NQD có một số ý nghĩa chủ yếu sau:
+ Thông qua công tác thuế đã góp phần tích cực trong việc tạo môi trường
kinh tế, pháp lý và tạo sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh; thực hiện chức
năng kiểm soát, định hướng phát triển của Nhà nước đối với khu vực KTNQD.
+ Công tác thuế đã góp phần quan trọng phát huy mặt tốt của kinh tế thị

dân tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nước.
Đặc điểm:
+ Trình độ của đối tượng nộp thuế phổ biến thấp, do đó sự hiểu biết pháp
luật cũng như ý thức chấp hành pháp luật kém;
+ Số lượng cơ sở vừa nhỏ, vừa phân tán. Theo số liệu thống kê của Chi cục
thuế Ba Tơ tính đến 31/12/2012 thì số doanh nghiệp được cấp đăng ký kinh
doanh là 30 doanh nghiệp; hộ kinh doanh là 403 hộ, số thu không nhiều, hiện
tượng thất thu thuế còn phổ biến,
+ Nằm rải rác, phân tán nên rất khó cho cơ quan thuế trong quá trình thực
hiện quản lý thu thuế;
+ Nặng tư tưởng thu lợi cá nhân, nên không ít người luôn tìm cách chống
đối thậm chí quyết liệt những cán bộ, nhân viên thuế thực thi nhiệm vụ được
giao.
+ Hệ thống sổ sách, hóa đơn, chứng từ, kế toán... của KTNQD vừa yếu
kém, vừa lỏng lẻo làm cho quản lý thu thuế càng khó khăn, phức tạp, hiệu quả
thấp.

HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang
11


Tiểu luận cuối khóa

GVHD: Trần Duy Linh

CHƯƠNG II
I. Thực trạng quản lý thu thuế NQD trên địa bàn huyện Ba Tơ.
1. Đặc điểm, tình hình vị trí - địa lý, và kinh tế - xã hội huyện Ba Tơ:

Tiểu luận cuối khóa

GVHD: Trần Duy Linh

hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp nên kinh tế của huyện không phát triển
được, nông nghiệp thì lại lạc hậu về kỹ thuật, do vậy từ ngày giải phóng
30/4/1975 đến nay Ba Tơ luôn là một huyện nghèo trong cả nước, số thu ngân
sách hàng năm không nhiều, BQ khoảng trên 15 tỷ đồng.
Tuy vậy, trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cấp chính
quyền cùng với tinh thần lao động cần cù chịu khó vốn là đặc tính của người dân
Ba Tơ, hơn nữa Ba Tơ được ưu đãi về đất rừng sản xuất với mô hình Nông Lâm
nghiệp kết hợp, nên người dân BaTơ có thu nhập đáng kể từ mô hình này.

2. Thực trạng quản lý thu thuế NQD địa bàn huyện Ba Tơ trong 2012:
Những năm qua, thực hiện đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần,
các thành phần KTNQD phát triển mạnh. Từ năm 2000, thực hiện Luật doanh
nghiệp mới các hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp NQD, từ năm 2000
đến năm 2012 có khoảng 28 doanh nghiệp được thành lập từ hộ kinh doanh.
Khu vực hộ kinh doanh cá thể cũng có sự tăng trưởng đáng kể, có khoảng
473 hộ kinh doanh trong các ngành nghề như: sản xuất cây giống, sản xuất mộc
dân dụng, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, dịch vụ...Tăng trưởng kinh tế là cơ
sở, là gốc của thu ngân sách. Tuy nhiên, trong những năm gần đây thu ngân sách
từ khu vực KTNQD cũng chịu nhiều ảnh hưởng khách quan như:
- Để khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, Nhà nước đã ban hành
nhiều chính sách miễn, giảm thuế, ảnh hưởng làm giảm nguồn thu ngân sách của
khu vực KTNQD. Như kéo dài thời gian miễn giảm thuế đối với những cơ sở
mới thành lập, mở rộng diện được ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế đối với địa bàn
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, miễn thuế buôn chuyến đối với
hàng hóa nông sản.
- Giá cả hàng hóa nhìn chung không tăng, nhiều mặt hàng giá lại giảm, đặc


BẢNG ĐÁNH GIÁ SỐ THU NSNN NĂM 2012
Đơn ví tính ( triệu đồng)
DỰ TOÁN 2012
T
T

CHỈ TIÊU

A

A

B

Thực
hiện
năm
2011

UBN
D tỉnh
giao

1

2

UBND
Huyện


Thực
hiện
năm
2011

8

9

TỔNG THU NS (A+B)

16.242

8.798

12.000

12.510

22.444

255%

187%

179%

138%


20.379

232%

170%

163%

131%

THU THUẾ, PHÍ

7.719

8.198

9.100

9.510

11.893

145%

131%

125%

154%



327

340

340

375

393

116%

116%

105%

120%

4

Thuế SDĐNN

10,0

5

Thuế nhà đất

57,0


178%

178%

129%

140%

7

Tiền thuê đất

18

18

18

18

16

89%

89%

89%

89%


1.300

1.300

997

77%

77%

77%

97%

10

Bán nhà SHNN

0

11

Ngoài quốc doanh

3.614

4.200

4.200


310

129%

131%

127%

137%

- TTĐB

1,0

3

3

3

17

567%

567%

567%

1700


276

92%

92%

92%

170%

- Tài nguyên

142

125

125

150

529

423%

423%

353%

373%


1759%

364%

352%

124%

THU KHÁC NS

HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang
14


Tiểu luận cuối khóa
12
13

GVHD: Trần Duy Linh

Thu khác ngân sách

8.485,0

500

2.800


107%

38,0

100

100

100

169

169%

169%

169%

445%

Các khoản thu tại xã

Qua số liệu trên ta nhận thấy, tổng số thu năm 2012 trong khu vực KTNQD
trên địa bàn huyện Ba Tơ đã tăng 30% so với dự toán tỉnh giao và huyện giao,
tăng 25% so với chỉ tieu phấn đấu và tăng 52% so với cùng kỳ năm 2011.
Điều này chứng tỏ năm 2012 Chi cục thuế Ba Tơ đã hoàn thành kế hoạch
được giao.

- Những tồn tại, hạn chế:


Qua kết quả quản lý thu thuế NQD đã đạt được và những mặt còn tồn tại,
cần thiết phải có những biện pháp nhằm mục tiêu tăng cường quản lý thu thuế
khu vực NQD năm 2012 như sau:
+ Tiếp tục rà soát các hộ cá thể kinh doanh trên địa bàn, đưa hết đối tượng
có thực tế kinh doanh vào diện nộp thuế. Trong công tác quản lý đối tượng nộp
thuế cần chú ý các trường hợp sau:
+ Về quản lý doanh thu: Để quản lý chặt chẽ doanh thu kinh doanh, Chi cục
thuế cần tập trung chỉ đạo đẩy mạnh việc yêu cầu hộ kinh doanh thực hiện chế
độ kế toán, chứng từ hóa đơn và kiểm tra các hộ kinh doanh lập hóa đơn khi bán
hàng. Chi cục thuế căn cứ vào đặc điểm kinh doanh chọn hộ kinh doanh những
ngành nghề, những mặt hàng có giá trị lớn như: điện tử, xe máy, đồ trang trí nội
thất bắt buộc hộ kinh doanh phải mở sổ sách kế toán, lập hóa đơn chứng từ khi
bán hàng và quản lý thuế theo hình thức kê khai. Nắm chắc lượng hàng mua vào,
bán ra để quản lý sát doanh thu, phát hiện và có biện pháp xử lý thích hợp đối
với các trường hợp cố tình gian lận thuế.
Đối với những hộ kinh doanh nhỏ: Chi cục thuế cần phối hợp với các
ngành, Hội đồng tư vấn thuế tổ chức cho các hộ kinh doanh đã hết thời hạn ổn
định thuế tự giác kê khai lại doanh thu kinh doanh, tiến hành chọn mẫu điều tra
và xác định lại tương đối chính xác doanh thu kinh doanh, đối chiếu với tài liệu
kê khai để xác định lại doan
Đối với những hộ kinh doanh thực hiện việc ấn định doanh thu và ổn định
mức thuế: phải điều tra, xem xét lại doanh thu tính thuế để kịp thời tính lại
doanh thu. Trong bước thực hiện các Đội thuế cần tập trung vào những địa bàn
trọng điểm, những ngành hàng đang thất thu nhiều như: ăn uống, kinh doanh
dịch vụ khách sạn, nhà nghỉ.
Khi xem xét tính lại doanh thu của các hộ kinh doanh phải thực hiện
nghiêm túc quy trình quản lý đã đề ra.
+ Đẩy mạnh công tác kiểm tra hộ xin nghỉ kinh doanh, phát hiện và xử lý
kịp thời những hộ có đơn xin nghỉ kinh doanh nhưng thực tế vẫn kinh doanh

tượng nộp thuế cần phải quy định cụ thể số tiền thuế được trực tiếp thu và thời
hạn phải thanh toán số tiền thuế phải nộp vào ngân sách. Thực hiện nghiêm túc
việc chấm bộ thuế để phát hiện các trường hợp nợ đọng hoặc cán bộ thuế đã
thanh toán biên lai nhưng chưa nộp tiền vào ngân sách.
Những vấn đề nêu ra ở trên các cơ quan chức năng, ngành thuế nói chung
và Chi cục thuế huyện Ba Tơ nói riêng cần phải tiếp tục nghiên cứu để tìm ra
biện pháp khắc phục nhằm hạn chế sự thất thu thuế ở khu vực này, đảm bảo sự
động viên về thuế công bằng hợp lý ở mọi loại hình kinh doanh trong nền kinh
tế quốc dân.
3. Những nguyên nhân của thực trạng quản lý thu thuế NQD trên địa
bàn huyện Ba Tơ
- Tổ chức bộ máy
Tổ chức bộ máy ngành thuế tuy đã được tăng cường về số lượng, chất
lượng nhưng trình độ nghiệp vụ quản lý thu thuế còn chưa đáp ứng được so với
yêu cầu công tác đa dạng phức tạp trong quản lý thu thuế hiện nay, trong cơ chế
thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước. Một số cán bộ còn
làm việc theo giờ giấc hành chính, thiếu đi sâu vào các xóm ngõ, tổ đường phố,
cụm dân cư, đặc biệt là giờ sáng sớm, đêm khuya để xác định doanh thu sát với
thực tế kinh doanh. Cá biệt vẫn còn những cán bộ thuế thiếu tu dưỡng rèn luyện
thường xuyên, thiếu kiên quyết đấu tranh chống thất thu, bảo vệ pháp luật thuế.
- Quy trình nghiệp vụ
Việc thực hiện các quy trình nghiệp vụ và biện pháp quản lý chỉ đạo của
ngành chưa thực sự nghiêm túc. Nhiều nơi, nhiều lúc ngành thuế chưa tham mưu
tích cực cho chính quyền các cấp, và chưa phối hợp tích cực để cùng chỉ đạo làm
tốt công tác quản lý thu thuế.
- Sự hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành luật
Mục tiêu của các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc khu vực KTNQD là lợi
nhuận thu được, nhưng cơ quan thuế chưa tận dụng mọi cơ hội thuận tiện, mọi
hình thức sinh động tuyên truyền, giải thích chính sách, từng bước nâng cao
trình độ hiểu biết pháp luật và khơi dậy tinh thần tự giác thực hiện nghĩa vụ với

CHƯƠNG III
Những giải phápvà kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý thu thuế NQD
trên địa bàn huyện Ba Tơ.
A. Về giải pháp:
1. Một số quan điểm cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý thu thuế NQD:
Phải coi việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác thuế là một trong số nhiệm vụ
trung tâm, thường xuyên của chính quyền địa phương.Tăng cường sự chỉ đạo,
lãnh đạo của chính quyền các cấp (đặc biệt là cấp cơ sở) đối với công tác thuế là
yếu tố quan trọng nhằm quản lý thu thuế đạt hiệu quả đồng thời phát huy hiệu
lực quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở. Chính quyền các cấp có chức năng
quản lý nhà nước ở địa phương nhằm đảm bảo cho hiến pháp, pháp luật của Nhà
nước được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh ở cơ sở, đảm bảo quyền làm
chủ của nhân dân lao động, động viên mọi công dân làm tròn nghĩa vụ với Nhà
nước. Chính quyền cơ sở có nhiệm vụ tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách
của địa phương, phối hợp với các cơ quan chức năng để đảm bảo thu đúng, thu
đủ, kịp thời các loại thuế và các khoản thu phát sinh ở địa phương. Với tư cách
là chính quyền nhà nước, UBND các cấp có quyền giám sát, kiểm tra các hoạt
động kinh tế - xã hội của mọi thành phần kinh tế để đảm bảo chính sách pháp
luật, giữ gìn pháp chế XHCN và quyền lợi chung của Nhà nước cũng như của
mọi tầng lớp nhân dân. Công tác quản lý thu thuế là một công tác kinh tế, chính
trị tổng hợp liên quan đến mọi thành phần kinh tế trong xã hội, đến mọi tầng lớp
nhân dân; là cuộc đấu tranh gay gắt giữa lợi ích cá nhân cục bộ với lợi ích quốc
gia, giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân, mọi tổ chức hoạt động kinh
HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang
18


Tiểu luận cuối khóa

tế. Cùng với việc giao nhiệm vụ chỉ đạo quản lý thu thuế cho chính quyền địa
phương, Nhà nước cần nghiên cứu cải tiến chế độ điều tiết ngân sách cho
phường, xã đối với một số khoản thuế để đủ bù đắp các chi phí cần thiết cho
hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương, tránh tình trạng UBND các cấp
tự đặt ra các khoản thu không hợp lệ.
2. Bảo đảm bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế:
Trong cơ chế thị trường, mọi thành phần kinh tế được bình đẳng trước pháp
luật để cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh. Do đó, hệ thống thuế cũng phải
được thực hiện thống nhất nhằm đảm bảo sự bình đẳng về nghĩa vụ đóng góp
cho NSNN giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế,
giữa các tầng lớp dân cư. Các nhà doanh nghiệp và cá nhân có thu nhập cao phải
nộp thuế nhiều hơn những doanh nghiệp và cá nhân có thu nhập thấp. Hàng tiêu
dùng cao cấp, dịch vụ xa xỉ phải chịu thuế suất cao hơn hàng hóa và dịch vụ
thiết yếu. Qua sự điều chỉnh của thuế góp phần điều tiết thu nhập của các tầng
HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang
19


Tiểu luận cuối khóa

GVHD: Trần Duy Linh

lớp dân cư, hạn chế sự phân hóa và chênh lệch quá xa về thu nhập, đời sống
trong xã hội. Tuy nhiên, người có kỹ thuật cao, làm ăn giỏi vẫn còn thu nhập cao
sau khi nộp thuế, khuyến khích làm giàu một cách chính đáng, hợp pháp. Với
chính sách phân phối và phân phối lại thu nhập qua thuế, Nhà nước có nguồn thu
để trợ cấp, giúp đỡ các cơ sở sản xuất kinh doanh có khó khăn, thực hiện xóa đói
giảm nghèo và thực hiện các chính sách xã hội khác.

khăn và tốn kém cho bộ máy thu thuế. Mỗi sắc thuế chỉ nên đảm nhiệm một số
chức năng chủ yếu, nhất định, bảo đảm cho sắc thuế được đơn giản, có hiệu quả
cao. Chẳng hạn, thuế GTGT được áp dụng với đối tượng rộng rãi có thể tạo
được nguồn thu ổn định, quan trọng cho NSNN và thực hiện việc kiểm kê kiểm
soát thường xuyên mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ; thuế TTĐB
động viên thêm một số thu cho NSNN đối với những người tiêu dùng hàng xa
xỉ, hàng có nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe, phong tục tập quán của nhân dân,
hạn chế nhập khẩu hoặc sản xuất những mặt hàng không thật cần thiết cho đời
sống nhân dân, cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước; thuế XNK với
hàng rào thuế quan chặt chẽ và biểu thuế phù hợp sẽ tạo điều kiện hòa nhập với
thị trường quốc tế, bảo vệ sản xuất nội địa và tạo được nguồn thu quan trọng cho
NSNN; thuế TNDN, thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao động
viên sự đóng góp trực tiếp của các tổ chức, cá nhân có thu nhập cao. Giữa các
sắc thuế có mối quan hệ mật thiết, không trùng lắp, không chồng chéo mà bổ
sung cho nhau để đảm bảo các mục tiêu kinh tế - tài chính - xã hội của cả hệ
thống thuế.
4. Tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương
trong quản lý thu thuế:
Quản lý thu thuế được thực hiện trên cơ sở chủ trương của Đảng, pháp luật
của Nhà nước. Do đó, từng cấp ủy Đảng, tổ chức Đảng các cấp phải có chương
trình và biện pháp cụ thể để lãnh đạo cơ quan chính quyền, chuyên môn, đoàn
thể triển khai tích cực và thực hiện tốt chính sách thuế. Công tác quản lý thu
thuế hiện nay đang thực sự là một công tác lớn của Nhà nước và nhân dân. Đây
đồng thời cũng là một cuộc đấu tranh quyết liệt, bởi nó đụng chạm đến lợi ích
của Nhà nước, của từng đơn vị sản xuất kinh doanh và mỗi người dân trong xã
hội. Trong khi chính sách thuế còn nhiều tồn tại cần phải khắc phục, hoạt động
của bộ máy ngành thuế còn chưa ổn định, cơ chế quản lý thuế còn nhiều sơ hở,
HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang

can thiệp một cách sai trái vào chính sách, pháp luật thuế.
5. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền chính sách thuế:
Xây dựng các Luật thuế, pháp lệnh thuế nhằm cung cấp cho cơ chế quản lý
tài chính những phương tiện quản lý, làm cơ sở và đảm bảo cho việc ban hành
các quyết định phù hợp với đối tượng quản lý. Muốn các quy phạm pháp luật
thuế tác động vào đối tượng nộp thuế, cần khâu tiếp theo đó là việc áp dụng luật
thuế, đảm bảo cho chủ thể quản lý tổ chức thực hiện các quy phạm pháp luật
thuế đối với các đối tượng nộp thuế. Các quyết định quản lý mang lại hiệu quả
khi nó tác động tới đối tượng quản lý, tới những người chấp hành và thực hiện
nghiêm túc. Điều đó, phụ thuộc vào khâu thực hiện luật thuế, vào tính tự giác
của mỗi công dân, đồng thời phụ thuộc vào hiệu quả của các luật thuế. ở nước ta
hiện nay, việc xây dựng, áp dụng và tổ chức thực hiện Luật thuế còn nhiều hạn
chế. Thể hiện sự coi thường pháp luật của các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc
các thành phần kinh tế. Để khắc phục tình trạng trên, điều quan trọng là phải tiến
hành thường xuyên việc giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật là điều kiện hàng
đầu để tăng cường pháp chế trong thực hiện các luật thuế. Phải giáo dục những
điều sơ đẳng về chính sách thuế ngay trong ghế nhà trường tiểu học, giáo dục và
phổ cập những điều cơ bản của luật thuế cho mọi công dân hiểu biết và thực
hiện tốt.
HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang
22


Tiểu luận cuối khóa

GVHD: Trần Duy Linh

Các nhà chức trách, các tổ chức, đặc biệt là cơ quan thi hành pháp luật phải

trong khai báo và tự giác nộp thuế. Phải đề cao trách nhiệm của Bộ Tư pháp và
các cơ quan tư pháp ở địa phương trong việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật
thuế. Hàng năm, cần tiến hành tổ chức tổng kết công tác thuế với đối tượng nộp
thuế trên địa bàn để rút kinh nghiệm. Coi trọng việc biểu dương khen thưởng tổ
chức, cá nhân nộp thuế đúng luật và phê phán những cơ sở trốn thuế, lậu thuế để
có tác dụng giáo dục. "Cần thiết phải tôn vinh và có chế độ khen thưởng phù hợp
ở các đối tượng nộp thuế và doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, thực hiện tốt
nghĩa vụ nộp thuế. Ban tuyên giáo, các cấp ủy cần quan tâm hơn nữa đối với
công tác này, phải coi đây là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của mình.
Qua các phiên họp của Hội đồng nhân dân các cấp, cần phải thông báo cụ
thể cho nhân dân biết về tình hình và hiệu quả sử dụng nguồn thu thuế, nhằm
HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang
23


Tiểu luận cuối khóa

GVHD: Trần Duy Linh

tăng thêm chất lượng trong công tác tuyên truyền. Mở rộng hình thức tuyên
truyền bằng tranh cổ động, áp phích thể hiện các công trình được xây dựng bằng
nguồn thu thuế.
6. Đối với hoạt động thu thuế nợ đọng:
Nhằm tăng cường quản lý và chống thất thu NSNN, đồng thời để quản lý
tốt nguồn thu, thúc đẩy nhanh tiến độ thu, hạn chế tình trạng cơ sở sản xuất kinh
doanh dây dưa nợ đọng tiền thuế, Chi cục thuế cần thiết tham mưu cho UBND
huyện về việc thu tiền thuế thông qua ngân hàng. Cụ thể: Ngân hàng NN&PTNT
Chi nhánh địa bàn huyện có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thuế trong việc

đội ngũ công chức thuế tốt, đủ tư cách đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của
HVTH : Đinh Tấn Hiệp

Trang
24


Tiểu luận cuối khóa

GVHD: Trần Duy Linh

công tác thuế không gây lãng phí cho xã hội, ngành thuế đã đến lúc cần có một
cơ sở đào tạo riêng, không phải chỉ đào tạo mới mà còn đào tạo lại, bồi dưỡng,
tập huấn, phổ biến kinh nghiệm, một trung tâm chuyên ngành có chất lượng cao
phù hợp với yêu cầu thực tiễn của công tác thuế.
Muốn có được đội ngũ công chức đủ đảm đương công tác thuế trong thời
gian tới, công tác tổ chức cán bộ hàng năm trên cơ sở cân đối tổng thể cả nước
sẽ có chỉ tiêu tuyển dụng để đào tạo thay thế. Vì yêu cầu của mỗi công chức thuế
rất cao đòi hỏi phải nắm vững nhiều kiến thức và có năng lực, có sức khỏe nên
nhất thiết phải qua sơ tuyển. Nội dung đào tạo nhất thiết phải có các giảng viên
là cán bộ thuế có trình độ và kinh nghiệm truyền đạt và phải có nhiều kiến thức
thực hành,... khi ra trường nếu đủ yêu cầu sẽ được tuyển dụng chính thức vào
các vị trí đã được cân đối từ trước. Việc đào tạo có địa chỉ sẽ tạo nên khí thế tự
học tập, tự rèn luyện cho mỗi học sinh, sinh viên mà từ đây chất lượng đội ngũ
cán bộ sẽ được nâng cao.
Đối với một số cán bộ không được đào tạo đúng chuyên ngành thì hàng
năm phải có kế hoạch bồi dưỡng tập trung để nâng cao chất lượng cán bộ; còn
bộ phận cán bộ thuế có chức danh như: thanh tra viên thuế, kiểm soát viên
thuế,... thì nhất thiết hàng năm phải được tập huấn nghiệp vụ đồng thời phổ cập
kiến thức quản lý mới, học tập trao dồi thêm kinh nghiệm nhằm nâng cao trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status