khảo sát tình hình bệnh Viêm Não Nhật Bản trên huyện Gia Lâm Hà Nội - Pdf 34

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH VIÊM NÃO NHẬT BẢN TRÊN LỢN NUÔI
TẠI HUYỆN GIA LÂM
SURVEY INFECTED SITUATION OF JAPANESE ENCEPHALITIS IN PIGS IN GIA LAM
DISTRICT
Nguyễn Thị Thu Hằng, Lê Thị Dung, Nguyễn Hồng Thái, Hoàng Cảnh Lâm, Trần Thị Vân
Anh
Khoa thú y, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ tác giả liên hệ:
Tóm tắt
Phương pháp RT-PCR (Reverse transcription polymerase chain reaction) được ứng dụng
để kiểm tra sự có mặt của virus viêm não Nhật Bản (VNNB) trong các mẫu huyết thanh lợn thu
thập trên địa bàn huyện Gia Lâm nhằm tìm hiểu vai trò của lợn trong chu trình truyền bệnh trong
tự nhiên. Tổng số 80 mẫu huyết thanh được thu thập từ 5 xã thuộc địa bàn nghiên cứu đã chỉ ra
tỷ lệ dương tính với VNNB là 6,25% (5/80) mẫu. Trong đó, ở lợn nái có tỷ lệ dương tính với
VNNB cao nhất chiếm 10,71% so với lợn đực giống và lợn thịt. Bên cạnh đó, hình thức chăn
nuôi quy mô trang trại có tỷ lệ dương tính với VNNB chiếm 5,88% thấp hơn so với hình thức
chăn nuôi quy mô hộ gia đình chiếm 6,52%. Trình tự nucleotide của đoạn gen E của các chủng
VNNB nghiên cứu có kích thước 1500 bp và tương đồng với nhau khoảng 96,13% - 98,07%;
mức độ tương đồng về axit amin dao động từ 98,8% - 99,8%. 5 chủng virus VNNB nghiên cứu
có cùng nguồn gốc phát sinh với các chủng Thái Lan và các chủng Việt Nam đã phân lập trước
đây và thuộc genotype 1. Nghiên cứu góp phần chỉ ra tình hình nhiễm bệnh VNNB trên lợn ở địa
phương nghiên cứu giúp đưa ra biện pháp phòng và khống chế có hiệu quả bệnh do VNNB gây
ra.
Từ khóa: Viêm não Nhật Bản, RT-PCR, Tình hình nhiễm bệnh,…
Summary
A RT-PCR method (Reverse transcription polymerase chain reaction) was established to
detect the presence of Japanese encephalitis virus (JEV) in sera from pigs belonging to Gia Lam
district and determining the role of pigs in the natural infection cycle. The results showed that
6,25% (5/80) of sera collected from 5 communes were positive for JEV. In which, sows had the
highest positive for JEV was 10.71% than boars and porkers. Addition to, the form of farms had
positive fori JEV was 5.88% lower than the form of household was 6.25%. The result the length

VNNB. Ở những vùng có bệnh lưu hành, virus gây rối loạn sinh sản (chết phôi, thai khô, thai
chết và vô sinh) trên lợn.
Theo kết quả khảo sát trong nghiên cứu của Hồ Việt Thị Thua và cộng sự (2007) thì có tới
10/11 loài động vật nuôi và hoang dã ở Cần Thơ nhiễm virus VNNB, trong đó có thể heo là loài
động vật có vai trò quan trọng nhất trong chu trình truyền bệnh này ở trong vùng. Sự hiện diện
của virus VNNB không những là tác nhân làm giảm năng suất sinh sản của đàn heo mà còn là
mối đe dọa đến sức khỏe con người trong vùng. Do vậy, nhằm tạo cơ sở để đưa ra được các biện
pháp phòng và khống chế có hiệu quả bệnh do VNNB gây ra trên người, chúng tôi đã tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình nhiễm bệnh viêm não Nhật Bản trên lợn nuôi tại huyện
Gia Lâm”.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu
- Mẫu máu của lợn nghi nhiễm VNNB được lấy các xã Phù Đổng, Dương Xá, Lệ Chi, Trâu Quỳ,
Dương Quang thuộc địa bàn huyện Gia Lâm.
- Hóa chất cho phản ứng RT – PCR: Kít tách chiết RNA tổng số (QIAamp), kit dùng phản ứng
RT-PCR,..
- Các trang thiết bị, máy móc khác phục vụ cho nghiên cứu tại phòng thí nghiệm trọng điểm
Công nghệ sinh học khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng thí nghiệm bộ môn Bệnh lý, Phòng thí nghiệm trọng điểm Công
nghệ sinh học khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Thời gian nghiên cứu: từ 09/2013 đến 09/2014
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Số liệu về tổng đàn, cơ cấu đàn, tình hình chăn nuôi và
dịch bệnh trong khu vực nghiên cứu được thu thập từ trạm thú y huyện Gia Lâm. Số liệu được xử
lý bằng phần mềm Microsoft Excel version 2003.
- Phương pháp lấy mẫu máu lợn: Các lợn trong các trang trại và nông hộ chăn nuôi được đánh số
ngẫu nhiên, sau đó được tiến hành lấy máu ở vịnh tĩnh mạch cổ sau đó đưa về phòng thí nghiệm
để chắt huyết thanh và bảo quản ở -200C trước khi xét nghiệm.
- Phương pháp RT-PCR: RNA của virus được tách chiết bằng kit QIAamp để tiến hành phản ứng

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

1

Phù Đổng

3830

3454

3443

3420

2

Dương Xá

1720

1820

2062

2037


4700
8040
(Theo số liệu thống kê của trạm thú y huyện Gia Lâm)
Qua bảng 3.1, số lượng lợn có xu hướng chung là tăng mạnh ở các xã Dương Xá
(+18,43%), Lệ Chi (+26,49%), Dương Quang (+161,46%), nhưng ở hai xã Phù Đổng (-10,7%)
và Trâu Quỳ (-16,06%) có xu hướng giảm khi so sánh giữa năm 2014 và năm 2011. Nhìn chung,
tình hình chăn nuôi có xu hướng tăng lên cả về số lượng và quy mô chăn nuôi và có chiều hướng
chuyển dịch theo định hướng phát triển chăn nuôi theo từng xã dẫn đến sự sai khác ở các xã
trong huyện Gia Lâm.
3.2. Hồ sơ mẫu sử dụng trong nghiên cứu
Nghiên cứu đã tiến hành thu thập các mẫu máu từ 5 xã trên địa bàn huyện Gia Lâm sau
đó được chắt huyết thanh và bảo quản ở -20 0C tại phòng thí nghiệm. Các thông tin về nguồn gốc
các mẫu máu được ghi chép và hệ thống lại trong bảng 3.2.
Bảng 3.2. Thông tin mẫu được sử dụng trong nghiên cứu
Số lượng
STT

Đối tượng lợn
Ghi chú
mẫu máu
Tiêm phòng 4 bệnh đỏ
1
Phù Đổng
15 Lợn thịt, lợn nái
2
Dương Xá
7 Lợn thịt, lợn nái
Tiêm phòng 4 bệnh đỏ
Lợn thit, lợn nái, lợn đực Tiêm phòng 4 bệnh đỏ, PRRS
3

1
2
3
4
5

Bảng 3.3.Tình hình nhiễm bệnh VNNB ở một số xã nghiên cứu
Số mẫu
Số mẫu
Số mẫu dương Tỷ lệ dương tính

xét nghiệm
âm tính
tính
(%)
Phù Đổng
15
15
0
0
Dương Xá
7
7
0
0
Lệ Chi
18
16
2
11,11

(%)
xét nghiệm
tính
dương tính
1
Lợn nái
28
25
3
10,71
2
Lợn đực giống
23
22
1
4,35
3
Lợn thịt
29
28
1
3,45
Tổng
80
75
5
6,25
Kết quả bảng 3.4 cho thấy: Trong 3 nhóm lợn thì ở lợn nái cho tỷ lệ dương tính với
VNNB cao nhất chiếm 10,71%, sau đó tới lợn đực giống và lợn thịt lần lượt là 4,35% và 3,45%.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở các nhóm lợn có sự sai khác với nghiên cứu của Hồ Thị Việt

Trang trại
34
32
2
5,88
Tổng
80
75
5
6,25

Từ kết quả ở bảng 3.5, chúng tôi nhận thấy có sự sai khác giữa hai hình thức chăn nuôi
quy mô hộ gia đình và trang trại. Trong đó, chăn nuôi quy mô trang trại có tỷ lệ dương tính với
virus VNNB thấp hơn so với chăn nuôi quy mô hộ gia đình. Điều này có thể được lý giải là do
các trại chăn nuôi lợn hiện đại có công tác vệ sinh thú y phòng bệnh, diệt trừ ruồi muỗi cũng như
thiết kế chuồng nuôi đảm bảo về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, mật độ đàn nuôi hợp lý nên giúp hạn
chế tỷ lệ mắc bệnh VNNB so với các lợn được chăn nuôi theo hộ gia đình. Trong nghiên cứu của
Hồ Thị Việt Thub và cộng sự (2008) đã chỉ ra các yếu tố như bụi rậm (nơi trú ẩn của muỗi
Culex), môi trường có nhiều ao nước tù đọng (nơi sinh sản của muỗi Culex) cũng có thể là yếu tố
quan trọng làm tăng nguy cơ nhiễm virus VNNB. Điều này giúp giải thích cho kết quả nghiên
cứu của chúng tôi khi tỷ lệ nhiễm bệnh VNNB cao hơn ở hộ chăn nuôi.
3.3.4. Kết quả giải trình tự gen của các chủng virus VNNB
Từ 5 mẫu huyết thanh được chẩn đoán dương tính bằng RT-PCR (hình 3.1), chúng tôi
tiến hành đặt tên cho các chủng virus VNNB (Japanese encephalitis virus - JEV) tương ứng lần
lượt

VNUA_Vetlab_JEV01,
VNUA_Vetlab_JEV02,
VNUA_Vetlab_JEV03,
VNUA_Vetlab_JEV04, VNUA_Vetlab_JEV05. Sản phẩm thu được sau khi tiến hành phản ứng

đường giới hạn đỏ.
3.3.6. Kết quả so sánh trình tự amino acid của các chủng JEV nghiên cứu
Sau khi tiến hành so sánh trình tự nucleotide, chúng tôi tiếp tục so sánh trình tự axit amin
bằng phần mềm genetyx (version 5.0) chỉ ra có 6 vị trí sai khác axit amin (15, 36, 81, 123, 142,
151) (minh họa ở hình 3.3) và có mức độ tương đồng về axit amin dao động từ 98,8% - 99,8%
giữa các chủng nghiên cứu.

Hình 3.3. So sánh trình tự axit amin của đoạn gen E của 5 chủng virus JEV nghiên cứu ở vị trí
123, 142, 151. Chú giải: Sai khác về axit amin ký hiệu là các axit amin ở ngoài đường giới hạn
đỏ.
3.3.7. Kết quả xây dựng cây sinh học phân tử của các chủng virus JEV trong nghiên cứu
Sau khi so sánh mức độ tương đồng về nucleotide giữa các chủng virus JEV, dựa vào
phần mềm MEGA6 chúng tôi tiến hành xây dựng cây sinh học phân tử để xác định nguồn gốc
phát sinh của 5 chủng virus nghiên cứu. Kết quả ở hình 3.4 cho thấy 5 chủng virus JEV cùng
nằm trong 1 nhánh phát sinh nhưng không cùng nhánh phát sinh với các chủng virus JEV của
Malaysia (1970), Indonesia (1981), Singapore (1952), Nhật Bản (1935), Trung Quốc (1949), Ấn
Độ (1956), Hàn Quốc (1987). Chủng VNUA_Vetlab_JEV01 nằm trong cùng một nhánh với
chủng AB728498 (Hà Tây, 2006) và chủng VNUA_Vetlab_JEV02 nằm trong cùng một nhánh
với chủng AB728499 (Kon Tum, 2007). Ba chủng VNUA_Vetlab_JEV03,
VNUA_Vetlab_JEV04, VNUA_Vetlab_JEV05 nằm trong cùng một nhánh phát sinh với 3 chủng
DQ343290 (Thái Lan, 2006), AB728501 (Tây Ninh, 2008), HQ009266 (Cần Thơ, 2005) nhưng
ở nhánh khác với nhánh của 2 chủng khác VNUA_Vetlab_JEV01 và VNUA_Vetlab_JEV02.
Qua kết quả phân tích cây sinh học phân tử của 5 chủng virus JEV trong nghiên cứu đều thuộc
genotype 1 và khác với các nhánh phát sinh của các genotype khác như genotype 2, 3, 4, 5. Điều
này đã chứng minh có sự lây truyền mầm bệnh giữa các quốc gia trên thế giới (có thể do nhiều
nguyên nhân).

6



92

DQ404100 SH03-124/China/2003/Culex t ritaeniorhynchus

84
60

51

Genotype 1

97 FJ185146 JaNAr13-04/Japan/2004/mosquito
GQ415355 JE91/Korea/1991/mosquito
AY377578 95-91/Japan/1995/Swine blood

97

AB471669 JEV/sw/Okinawa/377/2008 Sus scrofa
DQ343290 JEKK1116/T hailand/2006

98

VNUA Vet lab JEV03
74

98
100
100

AB728501 VNT N/04/2008 Culex trit aeniorhynchus


51

U70417 PhAn1242/t he Philippines/1984/Pig/serum

50

U70403 826309/India/1982/Human
U70394 G8924/India/1956/Mosquito

100
99
65
19
35

Genotype 3

L48961 Beijing/China/1949
U70420 VN118/1979/Vietnam/Mosquit o

88

U03696 Saigon
U03694 Japan/Nakayama/1935
S47265 Japan/1966
U70409 JKT 9092/Indonesia/1981/Mosquit o

100


b. Hồ Thị Việt Thub, Huỳnh Kim Loan, Huỳnh Ngọc Trang, Vũ Thị Quế Hương, Trần Đình Từ
(2007), “Khảo sát tính chất mùa bệnh viêm não Nhật Bản trên heo tại thành phố Cần Thơ”, Tạp
chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập XIV, số 3, trang 14-19.

7


c. Hồ Thị Việt Thua, Huỳnh Kim Loan, Huỳnh Ngọc Trang, Trần Đình Từ (2008), “Chẩn đoán
bệnh viêm não Nhật Bản trong hội chứng rối loạn sinh sản trên heo”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật
thú y, tập XV, số 1, trang 5-12.
d. Hồ Thị Việt Thub, Huỳnh Kim Loan, Nguyễn Thị Hoàng Oanh, Huỳnh Ngọc Trang, Trần
Đình Từ (2008), “Ứng dụng kỹ thuật Mac-ELISA để xác định tỷ lệ mới nhiễm virut viêm não
Nhật Bản trên heo tại thành phố Cần Thơ”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập XV, số 1, trang
13-18.
e. Hồ Thị Việt Thu, Phan Thị Ngà (2012), “Phân tích di truyền của virut viêm não Nhật Bản
chủng CTMP-7”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập XIX, số 3, trang 10-17.
f. Do Quang Ha, Vu Que Huong, Huynh Kim Loan, Dinh Quoc Thong, Vincent D. (1994),
“Current situation of Japanese encephalitis in the South of Vietnam, 1976-1992”, Tropical
Medicine, 36 (4), pp. 202-214.
g. Ghosh D, Basu A (2009): Japanese Encephalitis-Pathological and Clinical Perspective, PloS
Negl Trop Dis, 3; e437
h. Saxena SK (2008): Japanese encephalitis: perspectives and new developments. Future Neurol;
3:515-521.
i. Yen NT, Duffy MR, Hong NM, Hien NT, Fischer M (2010). Surveillance for Japanese
Encephalitis in Vietnam, 1998-2007. Am J Trop Med Hyg 83:816-819.

8




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status