Đề bài: Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.....................................................................................................1
NỘI DUNG.........................................................................................................1
1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa.........................1
1.1. Khái niệm..................................................................................................1
1.2. Đặc điểm...................................................................................................2
2. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa.................................................5
3. Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.........................................................5
3.1. Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.........................................6
3.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.......................7
3.3. Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa......................................7
4. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa.............................8
5. Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa......................................................9
5.1. Nguyễn tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa..................................9
5.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa........9
5.2.1. Nghĩa vụ của bên bán........................................................................10
5.2.2. Nghĩa vụ của bên mua.......................................................................11
6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa............................12
6.1. Khái niệm.................................................................................................12
6.2. Căn cứ áp dụng do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa......................12
6.3. Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa.....13
6.4. Miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa...................13
7. Một số nhận xét và phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hóa trong thương mại.............................................................13
KẾT LUẬN.......................................................................................................15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................16
Page 1
đồng mua bán tài sản, chủ thể chỉ cần có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
Page 2
Đề bài: Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa
dân sự. Tóm lại, có thể coi hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng mua bán
tài sản mang bản chất thương mại, vì mục tiêu lợi nhuận.
Căn cứ vào các yếu tố chủ thể, đối tượng, nơi xác lập và thực hiện hợp
đồng, có thể chia hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại thành hợp
đồng mua bán hàng hóa trong nước và mua bán hàng hóa quốc tế. Trong thực
tiễn thương mại quốc tế, một hợp đồng sẽ được coi là hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế nếu có một trong các yếu tố sau:
Thứ nhất, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đang tồn tại ở nước ngoài
(kể cả trong trường hợp các bên giao kết hợp đồng có cùng quốc tịch và hợp
đồng được thực hiện ngay ở nước họ).
Thứ hai, hợp đồng được giao kết ở nước ngoài (nươc mà bên giao kết hợp
đồng không mang quốc tịch, không có nơi cư trú hoặc không có trụ sở).
Thứ ba, hợp đồng được giao kết và thực hiện bởi các bên không cùng quốc
tịch hoặc không cùng nơi cư trú hoặc không cùng nơi đóng trụ sở.
Theo quy định của Luật thương mại 2005, mua bán hàng hóa quốc tế được
thực hiện dưới các hình thức: xuất khấu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tam
xuất tái nhập và chuyển khẩu.
1.2. Đặc điểm.
Hợp đồng mua bán hàng hóa trước hết mang những đặc điểm của hợp
đồng mua bán tài sản nói chung. Đó là:
Thứ nhất, hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa.
Thứ hai, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ, bên mua và
bên bán có quyền và nghĩa vụ. Quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và
ngược lại. Bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua và có quyền yêu cầu
các loại động sản kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn
liền với đất đai. Theo đó, tất cả tài sản là động sản được phép lưu thông đều có
thể trở thành hàng hóa. Như vậy, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán
hàng hóa có thể là hàng hóa đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai,
hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông.
Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa phải là tài sản có
thể tham gia vào giao dịch mua bán hàng hóa. Nghĩa là hàng hóa phải xác định,
có nguồn gốc hợp pháp, không do phạm tội mà có hoặc không thuộc danh mục
bị cấm lưu thông hay cấm xuất khẩu. Đối với hàng hóa là động sản hình thành
trong tương lai thì bên bán phải có căn cứ chứng minh hàng hóa đó chắc chắn
Page 4
Đề bài: Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa
sẽ được hình thành. Hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ bị coi là vô hiệu nếu đối
tượng là hàng hóa bất hợp pháp.
Thứ tư, về nội dung, hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện quyền và nghĩa
vụ của các bên trong quan hệ mua bán, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,
chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua có
nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán. Hành vi mua bán của các bên
trong hợp đồng có tính chất hành vi thương mại. Mục đích thông thường của
các bên mua bán là lợi nhuận. Ngoài ra hợp đồng mua bán hàng hóa còn bao
gồm các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Các quy định này có
tính chất hỗ trợ đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng diễn ra chính xác, nhanh
chóng, hạn chế được việc vi phạm hợp đồng.
Từ những đặc điểm đã nêu, có thể phân biệt hợp đồng mua bán hàng hóa
trong thương mại với một số loại hợp đồng khác:
Với hợp đồng cung ứng dịch vụ liên quan đến hàng hóa, đối tượng của các
hợp đồng này là dịch vụ được cung ứng từ bên cung cấp dịch vụ sang bên nhận
bán hàng hóa mà thời điểm giao kết là thời điểm các bên đã đạt được sự thỏa
thuận. Ví dụ như : Ngày 8/10/2009,công ty A đã đề nghị mua 20 tấn thịt bò của
ông B(là một chủ trang trại) (công ty A ấn định thời hạn trả lời đề nghị là 20
ngày).Ngày 9/10/2009,ông B nhận được văn bản của công ty A. Ngày
20/10/2009,ông B gửi thông báo chấp thuận và không có điều kiện nào kèm
theo. Ngày 21/10/2009,công ty A nhận được thông báo. Ngày 22/10/2009, hai
bên ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Như vậy,trong quá trình xác lập hợp
đồng mua bán hàng hóa, các vấn đề pháp lí cần được làm rõ là: Đề nghị giao
kết hợp đồng ; chấp nhận đề nghị hợp đồng ; thời điểm giao kết và hiệu lực của
hợp đồng. Những vấn đề này không được Luật thương mại 2005 quy định cụ
thể, vì vậy các quy định của Bộ luật dân sự sẽ được áp dụng đối với việc giao
kết hợp đông mua bán hàng hóa.
3.1. Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Đề nghị giao kết hợp đồng nói chung có bản chất là hành vi pháp lí đơn
phương của một chủ thể.Từ quy định của Điều 390 Bộ luật dân sự, có thể định
nghĩa đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là việc thể hiện rõ ý định
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và chịu sự ràng buộc về để nghi này của
bên đề nghị đối với bên đã xác định cụ thể. Đề nghị hợp đồng mua bán có thể
do bên bán hoặc bên mua thực hiện. Hình thức của đề nghị có thể được thể hiện
Page 6
Đề bài: Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa
bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể hoặc kết hợp giữa các hình thức này
(Điều 24 Luật thương mại 2005).
Đề nghị được gửi đến một hay nhiều chủ thể xác định. Hiệu lực của đề
nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường được bên đề nghị ấn
định. Nếu bên đề nghị không ấn định thời điểm có hiệu lực thì đề nghị giao kết
có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó. Đó là thời điểm:
Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú hoặc trụ sở của bên đề nghị; Đề nghị được
được hình thành và ràng buộc các bên. Như vậy,ở ví dụ trên thì ông B chấp
nhận đề nghị đó là vô điều kiện vào ngày 20/10/2009 và hợp đồng được hình
thành.Tuy nhiên, nếu bên trả lời chấp nhận đề nghị nhưng sự chấp nhận đó là
có điều kiện thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới.Theo khoản 2 Điều 404
Bộ luật dân sự thì hợp đồng cũng xem như được giao kết khi hết hạn trả lời mà
bên nhận được đề nghị vẫn im lặng. Còn nếu bên đề nghị nhận được trả lời khi
đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới.Trong trường
hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lí do khách quan mà
bên đề nghị biết hoặc phải biết về lí do khách quan này thì thông báo chấp nhận
giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay
không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.
- Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả qua điện thoại hoặc các
phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc
không chấp nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận về thời hạn trả lời. Bên đề nghị
có thể rút lại thông báo chấp thuận giao kết hợp đồng nếu thông báo này đến
trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận.
3.3. Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Về nguyên tắc chung hợp đồng mua bán được giao kết vào thời điểm các
bên đạt được sự thỏa thuận. Căn cứ theo Điều 404 Bộ luật dân sự thì về thời
điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được xác định như sau:
- Đối với hợp đồng giao kết trực tiếp bằng văn bản thì thời điểm giao kết là
thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản.
- Đối với hợp đồng giao kết gián tiếp bằng văn bản (thông qua các tài liệu
giao dịch) thì hợp đồng được giao kết khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp
Page 8
Đề bài: Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa
nhận. Như vậy, trong ví dụ trên thì hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao
kết(theo Điều 405 Bộ luật Dân sự),là ngày 21/10/2009,thời điểm mà công ty A
Đề bài: Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa
Thứ năm, về hình thức của hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp
luật. Theo Điều 24 Luật thương mại 2005 thì hợp đồng mua bán hàng hóa
được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác định bằng hành vi cụ
thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải
được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.
5. Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
5.1. Nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
Những thoả thuận trong hợp đồng có hiệu lực sẽ có giá trị ràng buộc các
bên. Các bên phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận theo đúng hợp đồng. Để
đảm bảo việc thực hiện hợp đồng thì pháp luật quy định những nguyên tắc bắt
buộc các chủ thể phải tuân theo trong quá trình thực hiện hợp đồng. Đó là:
- Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng
loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác.
- Thực hiện một cách trung thực, theo tình thần hợp tác và có lợi nhất cho
các bên, đảm bảo tin cậy lẫn nhau;
- Không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng,
quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
5.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
Quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định bởi hợp đồng giữa các bên
và quy định của pháp luật. Quyền của bên này cũng chính là nghĩa vụ đối với
bên kia. Vì thế, trong mục này chúng ta sẽ chỉ phân tích những nghĩa vụ cơ bản
của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
5.2.1. Nghĩa vụ của bên bán.
Giao hàng là nghĩa vụ cơ bản nhất của bên bán trong hợp đồng mua bán
hàng hóa. Theo quy định của Luật thương mại 2005 thì bên bán sẽ có những
nghĩa vụ như sau:
- Giao hàng đúng đối tượng và chất lượng. Bên bán phải thực hiện giao
hàng đúng đúng đối tượng và chất lượng theo thỏa thuận và quy định của pháp
luật. Trường hợp không thể xác định được theo hợp đồng thì phải căn cứ vào
- Rủi ro đối với hàng hóa. Trong thực tiễn mua bán hàng hóa, có thể xảy ra
những sự kiện khách quan làm mất mát, hư hỏng hàng hóa (bị trộm cắp, bị hư
hỏng do thiên tai…). Đối với những trường hợp này thì về nguyên tắc việc xác
định rủi ro đối với hàng hóa trước hết cần căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên
trong hợp đồng. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì căn cứ từ
Điều 57 đến Điều 61 Luật thương mại 2005 để áp dụng.
- Nghĩa vụ bảo hành hàng hóa được quy định tại Điều 49 Luật thương mại
2005. Tuy nhiên, luật thương mại chưa quy định cụ thể về vấn đề này (ví dụ
Page 11
Đề bài: Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa
như quyền yêu cầu bảo hành, phương thức thực hiện nghĩa vụ bảo hành…).
Như vậy, nếu các bên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của Bộ luật
dân sự (Điều 446 – Điều 448).
5.2.2. Nghĩa vụ của bên mua.
- Nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán tiền là nghĩa vụ cơ bản của bên mua,
tương xứng với nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên
bán. Tuy nhiên, việc nhận hàng trên thực tế không đồng nghãi với việc người
mua đã chấp nhận về hàng hóa được giao (Khoản 5 Điều 44 Luật thương mại
2005).
- Nghĩa vụ thanh toán là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong quan
hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Bên mua phải thực hiện đúng những nội dung
do thỏa thuận. Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì luật thương mại đã
dự liệu những vấn đề sau đây: Địa điểm thanh toán (Điều 54 Luật thương mại
2005); Thời hạn thanh toán (Điều 50 Luật thương mại 2005); Xác định giá
(Điều 52 Luật thương mại 2005); Chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán (Điều
305 Luật thương mại 2005); Ngừng thanh toán (Điều 51 Luật thương mại
2005).
6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa.
các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng. Trách nhiệm hợp đồng được áp
dụng theo nguyên tắc lỗi suy đoán, theo đó mọi hành vi không thực hiện hay
thực hiện không đúng hợp đồng đều bị suy đoán là có lỗi.
6.3. Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa.
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng là hình thức chế tài, theo đó bênvi phạm
nghĩa vụ hợp đồng mua bán phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của
bên vi phạm (Điều 297 Luật thương mại 2005)
- Phạt hợp đồng là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng, theo đó bên vi
phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm khoản tiền nhất định do pháp luật
quy định hoặc do các bên thỏa thuận trên cơ sở pháp luật. (Điều 300, Điều 301
Luật thương mại 2005).
- Bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài được áp dụng nhằm khôi phục, bù
đắp những lợi ích vật chất bị mất của bên bị vi phạm hợp đồng mua bán (Điều
302, 303, 307 Luật thương mại 2005).
- Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng (Điều 308 đến Điều 315 Luật
thương mại 2005).
6.4. Miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa.
Miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là việc bên vi
phạm nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán hàng hóa không phải chịu các hình thức
chế tài. Các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có quyền thỏa thuận về giới
Page 13
Đề bài: Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa
hạn trách nhiệm và miễn trách nhiệm hợp đồng trong những trường hợp cụ thể
do các bên dự liệu khi giao kết hợp đồng. Ngoài ra, việc miễn trách nhiệm hợp
đồng còn áp dụng theo các trường hợp khác do pháp luật quy định (Điều 294
Luật thương mại 2005).
7. Một số nhận xét và phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
mUA bán hàng hóa trong thương mại.
quy định phương thức thanh toán, địa điểm và thời gian giao hàng là điều
khoản chủ yếu của hợp đồng. Như vậy, sẽ tạo sự linh hoạt cho các chủ thể tham
gia hoạt động mua bán hàng hóa khi thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng.
Thứ năm, đối với việc đề nghị giao kết hợp đồng. Hiện nay, Bộ luật dân
sự 2005 chưa quy định cụ thể trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng không ghi
thời hạn trả lời đề nghị. Vì vậy, có thể sẽ tạo ra nhiều vấn đề bất hợp lý nếu sau
một khoảng thời gian dài bên được đề nghị mới trả lời chấp nhận đề nghị mà
lúc đó bên đề nghị đã không còn có ý định giao kết hợp đồng. Để giải quyết vấn
đề này, Bộ luật dân sự cần quy định một thời hạn trả lời hợp lý. Như vậy, sẽ
đảm bảo được quyền lợi của cả hai bên trong việc giao kết hợp đồng nói chung
cũng như hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng.
Thứ sáu, đối với vấn đề trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua
bán hàng hóa thì Luật thương mại 2005 có thể bổ sung thêm quy định điều
chỉnh trường hợp vi phạm hợp đồng trước khi thực hiện hợp đồng. Với vấn đề
này, pháp luật Australia có quy định: Nếu một bên trong quan hệ hợp đồng
không chứng minh được rằng bên kia không chuẩn bị và cũng không có khả
năng thực hiện hợp đồng vào ngày thực hiện hợp đồng thì có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại. Bên chấm dứt hợp đồng
đồng thời phải chứng minh được nếu hợp đồng vẫn được thực hiện thì họ hoàn
toàn có khả năng thực hiện hợp đồng một cách bình thường. Luật thương mại
Việt Nam có thể vận dụng quy định này để hoàn thiện trách nhiệm pháp lý do
vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa.
Thứ bảy, đối với vấn đề mua bán hàng hóa thông qua phương tiện điện
tử. Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật điều chỉnh các giao
dịch điện tử. Tuy nhiên, việc giao dịch thông qua các phương tiện điện tử có
đặc điểm là dễ bị rò rỉ thông tin cũng như khó kiểm soát được tính chính xác
của thông tin được trao đổi. Chính vì vậy, pháp luật cần có quy định cụ thể hơn
Page 15