Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện vũ thư tỉnh thái bình - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân em luôn nhận được sự quan tâm
giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý đất đai - Trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cùng các phòng, ban của nhà trường và
địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành báo cáo khóa luận tốt
nghiệp này.
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Trường Đại
học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nói chung, các thầy, cô giáo trong khoa Quản
lý đất đai nói riêng đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo ân cần trong suốt thời gian em học
tập tại trường; trong đó đặc biệt là cô giáo - Th.s Nguyễn Thị Nga người đã trực tiếp
hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian em thực hiện chuyên đề.
Em xin chân thành cảm ơn UBND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu làm chuyên đề tại huyện.
Cuối cùng từ đáy lòng mình, em xin kính chúc các thầy, cô giáo và các cô, chú
mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong cuộc sống.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 06 năm 2015
Sinh viên

Hoàng Thị Lý Huế

1


MỤC LỤC

2


DANH MỤC CÁC BẢNG


thiết và duy nhất.Việc tích tụ và chuyển đổi trên diện rộng, với quy mô lớn mục
đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở, du lịch, dịch vụ và các mục đích sản xuất
kinh doanh phi nông nghiệp là quy luật phát triển tất yếu. Quá trình đô thị hóa ngày
càng diễn ra mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố nhất là các tỉnh có vị trí địa lý và địa
hình thuận lợi để phát triển công nghiệp đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống
kinh tế và văn hóa của người dân, làm biến đổi cả về chiều sâu của xã hội nông thôn
truyền thống.

5


Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới của đất nước, huyện Vũ Thư, tỉnh
Thái Bình đã và đang chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, phát triển công
nghiệp, xây dựng các khu, cụm công nghiệp bước đầu tạo tiền đề cho sự công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong vùng. Là một huyện nằm giáp với thành phố Thái
Bình với diện tích tự nhiên khoảng 19.513,84 ha và dân số khoảng 245.150 người
có vị trí địa lý thuận lơi vì vậy huyện Vũ Thư có nhiều điều kiện thuận lợi để phát
triển kinh tế - xã hội. Sự hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị, các tuyến
đường giao thông là xu thế tất yếu để hòa nhập với sự phát triển của tỉnh Thái Bình
nói riêng và đất nước nói chung. Đồng thời với quá trình đô thị hóa thì những biến
động đất đai trong tiến trình phát triển cũng là một vấn đề quan trọng liên quan đến
việc sử dụng đất hiệu quả, chính vì những lý do đó tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
“Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử
dụng đất tại huyện Vũ Thư - Tỉnh Thái Bình”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình đô thị hóa tại huyện Vũ Thư, tỉnh
Thái Bình.
- Sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới việc chuyển đổi mục đích sử dụng
đất trên địa bàn huyện Vũ Thư.
- Tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao đời sống xã hội trong quá

của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định. Vùng lãnh thổ của đô thị bao gồm
nội thành hay nội thị (gọi chung là nội thị) và ngoại ô hay ngoại thị. Các đơn vị
hành chính của nội thị bao gồm quận và phường, còn càng đơn vị hành chính ngoại
ô bao gồm huyện và xã.
Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước phụ thuộc vào cấp quản lý
của đô thị và phạm vi ảnh hưởng của đô thị như đô thị - trung tâm quốc gia; đô thị trung tâm cấp vùng (liên tỉnh); đô thị - trung tâm cấp tỉnh; đô thị - trung tâm cấp
huyện và đô thị trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện)
* Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động
Lao động phi nông nghiệp của 1 đô thị là lao động trong khu vực nội thành
phố, nội thị xã, thị trấn thuộc các ngành kinh tế quốc dân như công nghiệp, xây

7


dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, dịch vụ công
cộng… không thuộc ngành sản xuất nông, lâm, thủy sản.
* Kết cấu hạ tầng đô thị
Kết cấu hạ tầng đô thị được đánh giá là không đồng bộ khi tất cả các loại công
trình kết cấu hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loại
phải đạt được tiêu chuẩn tối thiểu từ 70% trở lên so với quy định của Quy chuẩn
thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị.
* Quy mô dân số đô thị
Quy mô dân số đô thị bao gồm số dân thường trú và số dân tạm trú trên 6
tháng tại khu vực nội thành phố, nội thị xã và thị trấn .
Đối với thành phố trực thuộc Trung ương, dân số đô thị bao gồm dân số khu
vực nội thành, dân số của nội thị xã trực thuộc (nếu có) và dân số thị trấn.
* Mật độ dân số
Mật độ dân số là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của đô thị được
xác định trên cơ sở quy mô dân số đô thị và diện tích đất đô thị.
Mật độ dân số đô thị được xác định theo công thức sau : D = N/S


>=15.000
người/km2

- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh
tế-xã hội của cả nước và giao lưu
quốc tế. Có 2 đô thị đặc biệt là: Hà
Nội, T.p Hồ Chí Minh.
- Thành phố thuộc Trung ương

>=1 triệu người
85% lao động phi
nông nghiệp

- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh
12.000

50 vạn – 1 triệu
85% lao động phi
nông nghiệp

80 vạn – 1 triệu
80% lao động phi
nông nghiệp

Có 4 đô thị loại I: Hải Phòng, Đà
Nẵng, Huế, Nam Định.
- Thành phố thuộc tỉnh
10.000


- Thành phố thuộc tỉnh

8.000

- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh

người/km2 tế - xã hội của vùng liên tỉnh hoặc
6.000

một số lĩnh vực đối với cả nước.
- Thành phố thuộc tỉnh

người/km2 - Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh

nông nghiệp

tế - xã hội của một vùng trong tỉnh

9


hoặc vùng liên tỉnh.
- Thị xã
5 vạn – 15 vạn
Loại IV

70% lao động phi
nông nghiệp
4.000 người – 5vạn


trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là thợ thuyền và gia đình của họ
tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị.
- Chức năng xã hội: Chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với
tăng quy mô dân cư đô thị. Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại... là những vấn đề
gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường. Chức năng xã hội ngày càng
nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y
tế, đi lại... thay đổi.

10


- Chức năng văn hoá: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải trí
cao. Do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung
tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn.
- Chức năng quản lý: Tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục
tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa nâng
cao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính
đáng của cá nhân. Do đó chính quyền địa phương phải có pháp luật và quy chế quản
lý về đô thị.
d, Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoá
của xã hội, là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ
thuật và văn hoá.
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát
triển, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hóa nhanh chóng. Đô thị tối ưu hoá việc
sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo
ra thị trường linh hoạt, có năng suất lao động cao. Các đô thị tạo điều kiện thuận lợi
phân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven đô,
ngoại thành và nông thôn. Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc

b, Tính tất yếu và đặc trưng của đô thị hoá
* Tính tất yếu của đô thị hóa
Bất cứ một quốc gia nào, dù là phát triển hay đang phát triển, khi chuyển biến
từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp bằng con đường công
nghiệp hóa thì đều gắn liền với đô thị hóa. Trong lịch sử cận đại, đô thị hóa trước
hết là hệ quả trực tiếp của quá trình công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa và sau này là
kết quả của quá trình cơ cấu lại các nền kinh tế theo hướng hiện đại hoá: tăng tỷ
trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp
trong cơ cấu và khối lượng tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nhìn chung, từ góc độ
kinh tế, đô thị hóa là một xu hướng tất yếu của sự phát triển.
Như vậy, đô thị hóa là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm tình
hình chung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử, toàn cầu và

12


không thể đảo ngược của sự phát triển xã hội. ĐTH là hệ quả của sức mạnh công
nghiệp và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới.
* Đặc trưng của đô thị hóa
Đô thị hóa là hiện tượng mang tính toàn cầu và có những đặc trưng chủ yếu
sau đây :
Một là, số lượng các thành phố, kể cả các thành phố lớn tăng nhanh, đặc biệt
là thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng càng lớn, số
lượng thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều.
Ba là, việc hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa
lý,liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các khu vực đô thị.
Thông thường vùng đô thị bao gồm một vài thành phố lớn và xung quanh chúng là
các thành phố nhỏ vệ tinh.
Bốn là, dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh do quá trình di dân từ nông

hóa, hiện đại hóa trong nền kinh tế thị trường. Không ai phủ nhận rằng một quốc gia
đuợc coi là công nghiệp hóa thành công lại không có tỷ lệ cư dân đô thị ngày càng
chiếm vị trí áp đảo so với cư dân nông thôn. Đó cũng là lý do mà kinh tế học phát
triển đã coi sự gia tăng tỷ lệ cư dân đô thị như một trong những chỉ tiêu chủ yếu
phản ánh tình trạng “có phát triển” của nền kinh tế chậm phát triển đang tiến hành
công nghiệp hóa hiện nay. Đô thị hóa trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình
công nghiệp hóa và sau này là hệ quả của quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo
hướng hiện đại hóa: tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ
trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng tổng sản phẩm quốc nội
(GDP).
Đồng thời, trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
đô thị hóa giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội,
văn hoá, đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường.
Đô thị hóa xúc tiến tối đa công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Sự nghiệp
công nghiệp hóa - hiện đại hóa muốn thực hiện thành công cần phải chuyển đổi căn
bản cơ cấu kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp với kỹ thuật
cao, thay đổi cơ cấu lao động. Đô thị hóa sẽ đánh dấu giai đoạn phát triển mới của

14


tiến trình công nghiệp hóa, trong đó, công nghiệp và dịch vụ trở thành lĩnh vực chủ
đạo của nền kinh tế, không chỉ xét về phương diện đóng góp tỷ trọng trong tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) mà còn cả về phương diện phân bố nguồn lao động xã hội.
e, Tác động của đô thị hoá
- Mặt tích cực:
Một là, đô thị hóa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Sản xuất hàng hóa và dịch vụ
thường đạt hiệu quả cao tại những đô thị lớn - nơi có quy mô mật độ dân số tương
đối lớn với nguồn lao động dồi dào, có quy mô hoạt động kinh tế đủ lớn do các
doanh nghiệp tập trung đông, có hệ thống phân phối rộng khắp trên một không gian

lệ dân cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa,...
- Mặt tiêu cực:
Bên cạnh những mặt mạnh của đô thị hóa như trên thì đô thị hóa cũng kéo
theo hàng loạt vấn đề tiêu cực khác, đó là:
Thứ nhất, đô thị hóa thu hẹp diện tích đất nông nghiệp. Quá trình đô thị hóa
nhanh đã làm cho nhu cầu về sử dụng đất chuyên dùng xây dựng hệ thống cơ sở hạ
tầng và đất đô thị tăng lên rất nhanh.
Thứ hai, đô thị hóa khoét sâu hố phân cách giàu nghèo. Quá trình đô thị hóa
nhanh đã làm cho hố phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong đô thị,
giữa nông thôn và thành thị trở nên trầm trọng hơn.
Thứ ba, đô thị hóa gia tăng tình trạng di dân. Chính sự chênh lệch về mức
sống, điều kiện sống, khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội tăng thu nhập đã và
đang được coi là những nguyên nhân kinh tế quan trọng nhất thúc đẩy một bộ phận
lớn người dân rời khỏi khu vực nông thôn để di dân tới thành thị.
Thứ tư, đô thị hóa môi trường bị ô nhiễm. Chất lượng môi trường đô thị bị suy
thoái khá nặng nề do mật độ dân số tập trung cao, sản xuất công nghiệp phát triển
mạnh làm phát sinh một lượng chất thải, trong đó chất thải gây hại ngày càng gia
tăng, bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn.
Thứ năm, đô thị hóa phát sinh các tệ nạn xã hội. Đây chính là mặt trái của đời
sống đô thị hay của cả quá trình đô thị hóa. Trong khi nhiều khía cạnh tốt đẹp của
văn hóa truyền thống bị mai một, thì lối sống lai căng, không lành mạnh lại đang
ngự trị trong lối sống đô thị hiện nay. Những tệ nạn xã hội phổ biến nhất hiện nay
đều được phát sinh và phát triển tại các trung tâm đô thị lớn.

16


Tóm lại, trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì quá
trình đô thị hóa ngày càng gia tăng...Vậy chúng ta phải làm thế nào để quá trình đô
thị hóa phát triển lành mạnh và bền vững. Tăng trưởng kinh tế do quá trình này đem

công nghiệp khai thác ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam. Tuy vậy, tốc độ tăng dân số
mới đạt 7,9% năm 1936; 20 năm sau 1995 mới đạt 11%.
* Thời kỳ năm 1955-1975
Những năm thập kỷ 60, miền Bắc Việt Nam đi vào quá trình xây dựng Xã
hội chủ nghĩa. Công nghiệp hóa đã có tác động đến việc gia tăng quá trình đô thị
hóa. Năm 1965, tỉ lệ đô thị hóa đạt tới 17,2%. Từ giữa những năm 1960 đến năm
1975, cuộc chiến xảy ra ác liệt, diễn biến hai quá trình đô thị hóa ở miền Bắc và
miền Nam trong đó quá trình thứ hai chiếm ưu thế và làm tăng giá trị tỷ lệ đô thị
hóa của cả nước lên đến 21,5% vào năm 1975.
d, Thời kỳ năm 1975 đến nay
Dưới tác động của công cụ đổi mới, cải tổ nền kinh tế theo định hướng thị
trường thì cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu lao động, nghề nghiệp cũng như
những khuôn mẫu của đời sống đô thị đã và đang diễn ra những biến đổi quan
trọng. Quá trình đô thị hóa đã có những chuyển biến nhanh hơn, đặc biệt trong
những năm gần đây tình hình công nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ. Tốc độ đô thị hóa
ở Việt Nam đang diễn ra khá nhanh 18,5% năm 1989; 20,5% năm 1997; 23,6% năm
1999; 25% năm 2004. Về số lượng đô thị, năm 1990, cả nước mới có khoảng 500
đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã có 703 đô thị. Tuy vậy ĐTH ở Việt Nam còn ở
mức thấp so với khu vực và trên thế giới.
1.2.2. Tình hình quá trình đô thị hóa ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
a, Tình hình quá trình đô thị hóa ở tỉnh Thái Bình
- Trong những năm qua quá trình đô thị hóa tại tỉnh Thái Bình phát triển
ngày một mạnh mẽ khi có nhiều lao động tới làm việc tại các khu công nghiệp tập
trung. Bằng chứng cho thấy tốc độ tăng trưởng dân số nhanh chóng và mở rộng
không gian đô thị tại thành phố Thái Bình, huyện Tiền Hải, huyện Quỳnh Phụ,
huyện Đông Hưng, huyện Vũ Thư…nơi các khu công nghiệp lớn hoạt động có hiệu

18



19


có các hoạt động dịch vụ thương mại tương đối phát triển, là nơi giao lưu hàng hóa
của nhiều cụm dân cư và vùng lân cận, nó mang sắc thái của một đô thị nhỏ như:
Búng (xã Việt Hùng); An Để (xã Hiệp Hòa); Ô Mễ (xã Tân Phong); Cọi Khê (xã Vũ
Hội); Bồng Tiên (xã Vũ Tiến); Tân Đệ (xã Tân Lập); Thái Hạc (xã Việt Thuận);
Thanh Trai (xã Minh Lãng). Tuy nhiên các khu vực này vẫn còn một số hạn chế về
cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư đầy đủ.
- Phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa đạt 20,2% vào năm 2015 và khoảng 35% vào năm
2020.
- Để xây dựng thị trấn Vũ Thư thành một đô thị văn minh hiện đại cần phải
tiếp tục mở rộng quy mô diện tích và không gian thị trấn, nâng cấp cơ sở hạ tầng
(giao thông, điện, nước, công trình văn hóa phú lợi công cộng…, đặc biệt quan tâm
đến vấn đề bảo vệ môi trường, xử lý triệt để, kịp thời các chất thải sinh hoạt trong
đô thị).

20


CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình đô thị hoá tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
- Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng
đất.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái
Bình.
+ Thời gian nghiên cứu: Tiến trình đô thị hoá tại huyện Vũ Thư giai đoạn 2010

2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Điều tra, thu thập các số liệu, tài liệu, bản đồ có liên quan đến điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng
đất và các tài liệu, số liệu khác có liên quan đến đô thị hóa của huyện Vũ Thư, tỉnh
Thái Bình
2.4.2. Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu, số liệu
Đây là phương pháp tổng hợp, phân tích các tài liệu và số liệu thu thập được
tại địa phương.
2.4.3. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là so sánh giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa yêu cầu đặt
ra của đề tài và điều kiện cụ thể của địa phương xem có phù hợp không. Tiến hành
so sánh các số liệu đất đai từ đó phân tích sự biến động đất đai qua các giai đoạn
liên quan để thấy được quá trình đô thị hóa ảnh hưởng như thế nào đến các biến
động đất đai.
2.4.4. Phương pháp kế thừa
Kế thừa những số liệu, tài liệu của báo cáo đã được phê duyệt đồng thời bổ
sung những vấn đề, số liệu mới phù hợp với nội dung nghiên cứu.

22


CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Vũ Thư
Huyện Vũ Thư nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Thái Bình, có toạ độ địa lý từ
20o20’00’’ - 20o32’00’’ độ Vĩ Bắc và 106o10’00’’ - 106o22’00’’ độ Kinh Đông. Địa

hanh.
- Mùa mưa: bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với đặc trưng là nóng,
ẩm, mưa nhiều. Lượng mưa từ 1.100 - 1.500 mm, chiếm 80% lượng mưa cả năm
- Mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa khô có khí hậu lạnh, ít mưa.
Hướng gió thịnh hành là gió đông bắc thường gây lạnh đột ngột. Nhiệt độ trung
bình thấp nhất khoảng 150C, lượng mưa ít, đạt 15 - 20 % lượng mưa cả năm.
- Các đặc trưng khí hậu của Vũ Thư bao gồm:

24


+ Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 - 26 0C, nhiệt độ trung bình cao nhất là
39,20C; nhiệt độ trung bình thấp nhất là 15 0C; nhiệt độ cao tuyệt đối lên tới trên
390C và nhiệt độ thấp tuyệt đối là 4,10C.Lượng bức xạ mặt trời trung bình năm
khoảng 100 kcal/cm2. Tổng tích ôn khoảng 8.300 - 8.5000C.
+ Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 - 2.000 mm, chủ yếu vào tháng 4
đến tháng 10, tập trung nhiều vào các tháng 7,8,9. Lượng mưa chiếm đến 80%
lượng mưa cả năm.
+ Độ ẩm không khí: độ ẩm không khí trung bình năm dao động từ 85 đến
95%. Các tháng có độ ẩm không khí cao là tháng 7 và tháng 8 (95%), thấp nhất vào
các ngày có gió Tây Nam (có khi xuống dưới 30%).
+ Bức xạ mặt trời lớn, số giờ nắng trung bình từ 1.600 - 2.700 giờ/năm, thuận
lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng và trồng được nhiều vụ trong năm.
+ Gió: Gió thịnh hành là gió Đông Nam thổi vào mùa hạ mang theo không khí
nóng ẩm với tốc độ gió trung bình từ 2 - 5 m/giây.
Nhìn chung, khí hậu Vũ Thư có nhiều thuận lợi cho sự phát triển các loại cây
trồng trong nông nghiệp, vật nuôi phát triển quanh năm theo hướng thâm canh tổng
hợp đạt hiệu quả cao. Nhưng do đặc trưng khí hậu nóng ẩm theo mùa, là môi trường
phát sinh côn trùng, sâu bệnh, cùng với sự chuyển đổi khí áp, trong lục địa và ngoài
đại dương sinh ra bão và gió xoáy. Trung bình mỗi năm xảy ra từ 2 - 3 cơn bão kèm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status