Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện vũ thư tỉnh thái bình - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân em luôn nhận được sự quan tâm
giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý đất đai - Trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cùng các phòng, ban của nhà trường và
địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành báo cáo khóa luận tốt
nghiệp này.
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Trường Đại
học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nói chung, các thầy, cô giáo trong khoa
Quản lý đất đai nói riêng đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo ân cần trong suốt thời gian em
học tập tại trường; trong đó đặc biệt là cô giáo - Th.s Nguyễn Thị Nga người đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian em thực hiện chuyên đề.
Em xin chân thành cảm ơn UBND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu làm chuyên đề tại huyện.
Cuối cùng từ đáy lòng mình, em xin kính chúc các thầy, cô giáo và các cô, chú
mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong cuộc sống.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 06 năm 2015
Sinh viên

Hoàng Thị Lý Huế

1


MỤC LỤC

2


DANH MỤC CÁC BẢNG


thiết và duy nhất.Việc tích tụ và chuyển đổi trên diện rộng, với quy mô lớn mục
đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở, du lịch, dịch vụ và các mục đích sản xuất
kinh doanh phi nông nghiệp là quy luật phát triển tất yếu. Quá trình đô thị hóa ngày
càng diễn ra mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố nhất là các tỉnh có vị trí địa lý và địa
hình thuận lợi để phát triển công nghiệp đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống
kinh tế và văn hóa của người dân, làm biến đổi cả về chiều sâu của xã hội nông thôn
truyền thống. Ảnh hưởng của việc đô thị hóa, phát triển công nghiệp, xây dựng các

5


khu, cụm công nghiệp đến đời sống, việc làm của người dân đang là vấn đề đặc biệt
được quan tâm nhất là đối với địa bàn tỉnh Thái Bình nói chung và huyện Vũ Thư
nói riêng. Là một huyện nằm giáp với thành phố Thái Bình với diện tích tự nhiên
khoảng 19.513,84 ha và dân số khoảng 245.150 người vì vậy huyện Vũ Thư có
nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.Sự hình thành các khu công
nghiệp, khu đô thị, các tuyến đường giao thông là xu thế tất yếu để hòa nhập với sự
phát triển của tỉnh Thái Bình nói riêng và đất nước nói chung. Đồng thời với quá
trình đô thị hóa thì những biến động đất đai trong tiến trình phát triển cũng là một
vấn đề quan trọng liên quan đến việc sử dụng đất hiệu quả, chính vì những lý do đó
tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến
việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện Vũ Thư - Tỉnh Thái Bình”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình đô thị hóa tại huyện Vũ Thư - tỉnh
Thái Bình.
- Sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới việc chuyển đổi mục đích sử dụng
đất trên địa bàn huyện Vũ Thư - tỉnh Thái Bình
- Tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao đời sống xã hội trong quá
trình đô thị hóa tại huyện Vũ Thư - tỉnh Thái Bình.
3. Yêu cầu của đề tài

nội thành hay nội thị (gọi chung là nội thị) và ngoại ô hay ngoại thị. Các đơn vị
hành chính của nội thị bao gồm quận và phường, còn càng đơn vị hành chính ngoại
ô bao gồm huyện và xã.
Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước phụ thuộc vào cấp quản lý
của đô thị và phạm vi ảnh hưởng của đô thị như đô thị - trung tâm quốc gia; đô thị trung tâm cấp vùng (liên tỉnh); đô thị - trung tâm cấp tỉnh; đô thị - trung tâm cấp
huyện và đô thị trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện)
a, Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động
Lao động phi nông nghiệp của 1 đô thị là lao động trong khu vực nội thành
phố, nội thị xã, thị trấn thuộc các ngành kinh tế quốc dân như công nghiệp, xây

7


dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, dịch vụ công
cộng… không thuộc ngành sản xuất nông, lâm, thủy sản.
b, Kết cấu hạ tầng đô thị
Kết cấu hạ tầng đô thị được đánh giá là không đồng bộ khi tất cả các loại công
trình kết cấu hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loại
phải đạt được tiêu chuẩn tối thiểu từ 70% trở lên so với quy định của Quy chuẩn
thiết kế quy hoach xây dựng đô thị.
c, Quy mô dân số đô thị
Quy mô dân số đô thị bao gồm số dân thường trú và số dân tạm trú trên 6
tháng tại khu vực nội thành phố, nội thị xã và thị trấn .
Đối với thành phố trực thuộc Trung ương, dân số đô thị bao gồm dân số khu
vực nội thành, dân số của nội thị xã trực thuộc (nếu có) và dân số thị trấn.
d, Mật độ dân số
Mật độ dân số là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của đô thị được
xác định trên cơ sở quy mô dân số đô thị và diện tích đất đô thị.
Mật độ dân số đô thị được xác định theo công thức sau : D = N/S
Trong đó : D là mật độ dân số ( người / km2 )


>=1 triệu người
85% lao động phi
nông nghiệp

12.000
người/km2

50 vạn – 1 triệu
85% lao động phi
nông nghiệp

10.000
người/km2

80 vạn – 1 triệu
80% lao động phi
nông nghiệp

10.000
người/km2

30 vạn – 50 vạn
80% lao động phi
nông nghiệp

8.000
người/km2

Loại III

Tính chất đô thị
- Thủ đô, thành phố lớn
- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tếxã hội của cả nước và giao lưu quốc tế.
Có 2 đô thị đặc biệt là: Hà Nội, T.p Hồ
Chí Minh
- Thành phố thuộc Trung ương
- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tếxã hội của một vùng liên tỉnh hoặc của
cả nước
Có 4 đô thị loại I: Hải Phòng, Đà
Nẵng, Huế, Nam Định.
- Thành phố thuộc tỉnh
- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tếxã hội của một vùng liên tỉnh hoặc một
số vùng lãnh thổ liên tỉnh.
- Thành phố thuộc Trung ương
- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tếxã hội của một vùng liên tỉnh hoặc một
số lĩnh vực đối với cả nước.
- Thành phố thuộc tỉnh
- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tếxã hội của vùng liên tỉnh hoặc một số
lĩnh vực đối với cả nước.
- Thành phố thuộc tỉnh
- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tếxã hội của một vùng trong tỉnh hoặc
vùng liên tỉnh
- Thị xã
- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tếxã hội của một vùng trong tỉnh hoặc
một số lĩnh vực đối với một tỉnh
- Thị trấn
- Có vai trò thúc đẩy phát triển của
một huyện hoặc một cụm xã

Việc xác định quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị chỉ

Đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoá
của xã hội; là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ
thuật và văn hoá.

10


Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát
triển, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hóa nhanh chóng. Đô thị tối ưu hoá việc
sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo
ra thị trường linh hoạt, có năng suất lao động cao. Các đô thị tạo điều kiện thuận lợi
phân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven đô,
ngoại thành và nông thôn. Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc
dân của cả nước.
Đô thị luôn phải giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng đồng
nông thôn đi trên con đường tiến bộ và văn minh.
1.1.2. Đô thị hóa
* Khái niệm đô thị hoá
Một trong những vấn đề nổi bật của sự phát triển thế giới ngày nay là sự gia
tăng nhanh chóng số lượng và quy mô các đô thị, trong đó tập trung các hoạt động
chủ yếu của con người, nơi diễn ra cuộc sống vật chất, văn hóa và tinh thần của một
bộ phận dân số. Các đô thị chiếm vị trí ngày càng to lớn trong quá trình phát triển
xã hội.
Đô thị hóa là quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô thị của
các nhóm dân cư. Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác động đến đô thị
hóa cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mới mà biểu hiện tập
trung là sự thay đổi cơ cấu dân cư,cơ cấu lao động.
Đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật, là quá trình phát
triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn (cách sống, hình thức

sau đây :
Một là, số lượng các thành phố, kể cả các thành phố lớn tăng nhanh, đặc biệt
là thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng càng lớn, số
lượng thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều.
Ba là, việc hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa
lý,liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các khu vực đô thị.

12


Thông thường vùng đô thị bao gồm một vài thành phố lớn và xung quanh chúng là
các thành phố nhỏ vệ tinh.
Bốn là, dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh do quá trình di dân từ nông
thôn ra thành thị, đang làm thay đổi tương quan dân số giữa thành thị và nông thôn,
nâng cao tỷ trọng dân số thành thị trong tổng dân số.
Năm là, mức độ đô thị hóa biểu thị trình độ phát triển xã hội nói chung, song
có đặc thù riêng cho mỗi nước. Đối với các nước phát triển, đô thị hóa diễn ra chủ
yếu theo chiều sâu, chất lượng cuộc sống ở các thành phố ngày càng hoàn thiện.
Trong các nước đang phát triển, tốc độ đô thị hóa rất cao, đặc biệt trong các thập kỷ
gần đây nhưng chất lượng đô thị hóa chưa cao. Quá trình đô thị hóa diễn ra theo
chiều rộng đang đặt ra nhiều vấn đề khó khăn và cần giải quyết như vấn đề đất đai,
thất nghiệp, nghèo đói, ô nhiễm môi trường và tệ nạn xã hội.
* Quan điểm về đô thị hoá
Công nghiệp hoá và cùng với nó là đô thị hóa trở thành xu thế chung của mọi
quá trình chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp.
Vấn đề quan trọng đặt ra là làm gì và bằng cách nào để phát huy tối đa mặt tích cực
của đô thị hoá, đồng thời hạn chế và đi đến thủ tiêu mặt tiêu cực của nó. Điều này
cũng đồng nghĩa với việc quá trình đô thị hoá phải gắn liền với khái niệm “Phát
triển bền vững”.

cao, thay đổi cơ cấu lao động. Đô thị hóa sẽ đánh dấu giai đoạn phát triển mới của
tiến trình công nghiệp hóa, trong đó, công nghiệp và dịch vụ trở thành lĩnh vực chủ
đạo của nền kinh tế, không chỉ xét về phương diện đóng góp tỷ trọng trong tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) mà còn cả về phương diện phân bố nguồn lao động xã hội.
* Tác động của đô thị hoá
- Mặt tích cực:
Một là, đô thị hóa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Sản xuất hàng hóa và dịch vụ
thường đạt hiệu quả cao tại những đô thị lớn - nơi có quy mô mật độ dân số tương
đối lớn với nguồn lao động dồi dào, có quy mô hoạt động kinh tế đủ lớn do các
doanh nghiệp tập trung đông, có hệ thống phân phối rộng khắp trên một không gian
đô thị nhất định.
Hai là, đô thị hóa đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa – hiện đại hóa. Trong quá trình đô thị hóa, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi

14


theo hướng giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỷ trọng của
khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Ba là, đô thị hóa cải tạo kết cấu hạ tầng. Xu hướng đô thị hóa tạo ra sự tập
trung sản xuất công nghiệp và thương mại, đòi hỏi phải tập trung dân cư, khoa học,
văn hóa và thông tin. Do đó mà hệ thống giao thông vận tải, năng lượng, bưu
chính viễn thông và cấp thoát nước cũng sẽ được cải tiến về quy mô và chất lượng.
Bốn là, đô thị hóa nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ. Các đô
thị ngày càng áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và kỹ năng quản lý tổ chức sản xuất
hiện đại, làm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm. Trong sản
xuất nông nghiệp, quá trình đô thị hóa cung cấp những cơ sở kỹ thuật cần thiết cho
người nông dân như thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa để làm
tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng tốt, đảm bảo
an toàn lương thực, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến và thị trường trong

mạnh làm phát sinh một lượng chất thải, trong đó chất thải gây hại ngày càng gia
tăng; bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn.
Thứ năm, đô thị hóa phát sinh các tệ nạn xã hội. Đây chính là mặt trái của đời
sống đô thị hay của cả quá trình đô thị hóa. Trong khi nhiều khía cạnh tốt đẹp của
văn hóa truyền thống bị mai một, thì lối sống lai căng, không lành mạnh lại đang
ngự trị trong lối sống đô thị hiện nay. Những tệ nạn xã hội phổ biến nhất hiện nay
đều được phát sinh và phát triển tại các trung tâm đô thị lớn.
Tóm lại, trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì quá
trình đô thị hóa ngày càng gia tăng...Vậy chúng ta phải làm thế nào để quá trình đô
thị hóa phát triển lành mạnh và bền vững. Tăng trưởng kinh tế do quá trình này đem
lại phải được chú trọng đồng thời việc phát triển văn hóa, lấy việc biến động nguồn
nhân lực con người làm trọng tâm.
1.2. Thực tiễn quá trình đô thị hóa ở Việt Nam và ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái
Bình
1.2.1. Tình hình quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
Việt Nam vốn là một quốc gia nông nghiệp, đô thị hóa ở Việt Nam đã trải
qua mỗi giai đoạn đô thị, bộ mặt đô thị Việt Nam lại có những biến đổi nhất định.

16


Trải qua mỗi giai đoạn khác nhau hệ thống các đô thị mang những đặc điểm khác
nhau.
* Trước thế kỷ XVIII
Quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra ngay từ thời trung đại, đó chính là sự
hình thành một số đô thị phong kiến. Một số đô thị phong kiến cổ ở nước ta: Thành
Cổ Loa của An Dương Vương, thành Tống Bình thời Bắc thuộc (Hà Nội ngày nay),
thành Thăng Long, thành Hoa Lư ở Ninh Bình, thành Tây Đô ở Thanh Hóa.
Trong thời kỳ phong kiến, Việt Nam luôn phải chống lại các cuộc ngoại xâm
của phương Bắc. Do đó đô thị mang tính phòng thủ, chủ yếu là để chống giặc ngoại

1999; 25% năm 2004. Về số lượng đô thị, năm 1990, cả nước mới có khoảng 500
đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã có 703 đô thị. Tuy vậy ĐTH ở Việt Nam còn ở
mức thấp so với khu vực và trên thế giới.
1.2.2. Tình hình quá trình đô thị hóa ở huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình
* Tình hình quá trình đô thị hóa ở tỉnh Thái Bình
- Trong những năm qua quá trình đô thị hóa tại tỉnh Thái Bình phát triển
ngày một mạnh mẽ khi có nhiều lao động tới làm việc tại các khu công nghiệp tập
trung. Bằng chứng cho thấy tốc độ tăng trưởng dân số nhanh chóng và mở rộng
không gian đô thị tại thành phố Thái Bình, huyện Tiền Hải, huyện Quỳnh Phụ,
huyện Đông Hưng, huyện Vũ Thư…nơi các khu công nghiệp lớn hoạt động có hiệu

18


quả. Tuy nhiên đô thị hóa diễn ra nhanh kéo theo nhiều hệ lụy về vấn đề môi
trường, nhà ở, phúc lợi xã hội…
- Hệ thống đô thị tại tỉnh Thái Bình phát triển ngày càng mạnh mẽ, phân bố
tương đối đồng đều trên cả tỉnh. Đô thị đã góp phần quan trọng đưa Thái Bình thoát
khỏi ngưỡng nghèo để trở thành tỉnh có thu nhập trung bình thấp, thành phố Thái
Bình từ đô thị loại III lên đô thị loại II ngày 12 tháng 12 năm 2013.
- Phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa đạt 22,3% vào năm 2015 và khoảng 40% vào năm
2020.
+ Xây dựng 4 đô thị trung tâm vùng cấp tỉnh: Thị trấn Diêm Điền (Thái
Thụy), Khu du lịch Đồng Châu và khu du lịch Cồ Vành (Tiền Hải), thị trấn Hưng
Nhân (Hưng Hà), thị trấn An Bài (Quỳnh Phụ) lên đô thị loại V.
+ Quy hoạch đô thị trung tâm cấp huyện (thị trấn): Các thị trấn Quỳnh Côi,
An Bài, Đông Hưng, Tiên Hưng, Thanh Nê, Vũ Quý, Hưng Hà, Hưng Nhân, Tiền
Hải, Nam Trung, Thái Ninh, Diêm Điền, Vũ Thư.
+ Nâng cấp một số xã thành đô thị loại V trực thuộc huyện: Các xã: Đông
Đô, Thái Phương (Hưng Hà); xã Thụy Xuân (Thái Thụy); các xã An Lễ, Quỳnh


20


CHƯƠNG II : ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình đô thị hoá tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình
- Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng
đất.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu trên địa bàn huyện vũ thư tỉnh Thái
Bình
+ Thời gian nghiên cứu :Tiến trình đô thị hoá tại huyện Vũ Thư giai đoạn
2010 - 2014
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế - xã hội
- Đánh giá chung
2.3.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
2.3.3. Thực trạng quá trình đô thị hóa tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
2.3.4. Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng
đất tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Ảnh hưởng của đô thị hóa tới việc thay đổi diện tích các loại đất thông qua
việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
- Ảnh hưởng của đô thị hóa tới cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế của huyện.
- Nhận xét chung.
2.3.5. Đánh giá về sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tại huyện Vũ Thư, tỉnh
Thái Bình.

Kế thừa những số liệu, tài liệu của báo cáo đã được phê duyệt đồng thời bổ
sung những vấn đề, số liệu mới phù hợp với nội dung nghiên cứu.

22


CHƯƠNG III : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Vũ Thư
Huyện Vũ Thư nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Thái Bình, có toạ độ địa lý từ
20o20’00’’ - 20o32’00’’ độ Vĩ Bắc và 106o10’00’’ - 106o22’00’’ độ Kinh Đông. Địa
giới hành chính của huyện như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Hưng Hà và Đông Hưng.
- Phía Tây và Tây Nam giáp Thành phố Nam Định (tỉnh Nam Định)
- Phía Nam giáp huyện Xuân Trường (tỉnh Nam Định)
- Phía Đông giáp thành phố Thái Bình và huyện Kiến Xương – Thái Bình

23


Huyện Vũ Thư có vị trí địa lý khá thuận lợi với ưu thế là cửa ngõ phía Tây của
tỉnh Thái Bình, giữa 2 trung tâm kinh tế lớn: thành phố Thái Bình và Thành phố
Nam Định. Nằm trên tuyến đường từ Thủ đô Hà Nội theo quốc lộ 1, quốc lộ 21 về
Nam Định đến Thái Bình, tiếp nối với thành phố Hải Phòng theo tuyến quốc lộ 10.
Trên địa bàn huyện có cầu Tân Đệ đã được xây dựng bắc qua sông Hồng, đường
quốc lộ 10 đã và đang tiếp tục được nâng cấp chạy qua trung tâm thị trấn huyện lỵ
Vũ Thư, sông Hồng chảy theo ranh giới phía Tây Nam và sông Trà Lý chảy theo

đến tháng 10, tập trung nhiều vào các tháng 7,8,9. Lượng mưa chiếm đến 80%
lượng mưa cả năm.
+ Độ ẩm không khí: độ ẩm không khí trung bình năm dao động từ 85 đến
95%. Các tháng có độ ẩm không khí cao là tháng 7 và tháng 8 (95%), thấp nhất vào
các ngày có gió Tây Nam (có khi xuống dưới 30%).
+ Bức xạ mặt trời lớn, số giờ nắng trung bình từ 1.600 - 2.700 giờ/năm, thuận
lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng và trồng được nhiều vụ trong năm.
+ Gió: Gió thịnh hành là gió Đông Nam thổi vào mùa hạ mang theo không khí
nóng ẩm với tốc độ gió trung bình từ 2 - 5 m/giây.
Nhìn chung, khí hậu Vũ Thư có nhiều thuận lợi cho sự phát triển các loại cây
trồng trong nông nghiệp, vật nuôi phát triển quanh năm theo hướng thâm canh tổng
hợp đạt hiệu quả cao. Nhưng do đặc trưng khí hậu nóng ẩm theo mùa, là môi trường
phát sinh côn trùng, sâu bệnh, cùng với sự chuyển đổi khí áp, trong lục địa và ngoài
đại dương sinh ra bão và gió xoáy. Trung bình mỗi năm xảy ra từ 2 - 3 cơn bão kèm
theo mưa lớn, gây tổn thất và giảm năng suất mùa màng, hư hỏng tài sản các công
trình, thậm chí có năm ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng con người. Do đó, đòi
hỏi có biện pháp chủ động phòng tránh úng, hạn, nóng, lạnh, thiên tai và dịch bệnh.
* Thủy văn
Trên địa bàn huyện Vũ Thư có 2 sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Trà
Lý, chế độ thủy văn chịu ảnh hưởng của nguồn nước từ thượng nguồn và ảnh hưởng
chế độ nhật triều của biển.
- Sông Hồng chảy qua phía Tây Nam của huyện, có chiều dài 34 km bao
quanh 15 xã, là ranh giới tự nhiên giữa huyện Vũ Thư với tỉnh Nam Định.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status