Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là một xu thế tất yếu của nền kinh tế phát triển theo hướng CNHHĐH, là một quá trình phát triển của xã hội mang tính chất toàn cầu và diễn ra
ngày càng mạnh mẽ ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới, không một quốc gia
nào đạt mức tăng trưởng cao mà không trải qua quá trình đô thị hóa. Quá trình này
làm tăng số dân cư của đô thị, mở rộng không gian của đô thị, không gian kiến trúc,
làm tăng quy mô diện tích và mật độ xây dựng của đô thị, đồng thời làm thay đổi
cơ cấu kinh tế theo hướng phi nông nghiệp hóa và thay đổi lối sống theo kiểu đô
thị, chính những điều này đã làm ảnh hưởng đến cơ cấu sử dụng đất, mục đích sử
dụng đất, trong đó dễ dàng thấy rõ là sự thay đổi diện tích đất nông nghiệp.
Đông Hà là một thành phố trẻ được hình thành gắn với lịch sử hình thành và
phát triển của tỉnh Quảng Trị qua các giai đoạn. Thành phố Đông Hà là trung tâm
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Quảng Trị. Với lợi thế là trung tâm
thương mại, dịch vụ, công nghiệp của tỉnh, những năm qua, cơ sở vật chất, hạ tầng
kỹ thuật không ngừng được quan tâm đầu tư và phát triển đã làm cho bộ mặt đô thị
thay đổi nhanh chóng. Đông Hà cũng là nơi tập trung các cơ quan hành chính của
tỉnh, Trung ương, các doanh nghiệp Nhà nước… lực lượng lao động ngày càng
tăng cả về quy mô và chất lượng, đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật không ngừng
lớn mạnh là động lực lớn cho sự phát triển của thành phố Đông Hà. Có được những
thay đổi đó chính là nhờ sự tác động tích cực của quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên,
đô thị hóa cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi diện tích đất nông nghiệp
trên địa bàn, với xu hướng chung là chuyển đất nông nghiệp sang sử dụng cho các
mục đích phi nông nghiệp khác nhau, làm thu hẹp dần diện tích đất nông nghiệp
trong khi nhu cầu về đất ở và các loại đất khác tăng lên nhanh chóng, gây sức ép
cho diện tích đất nông nghiệp, bên cạnh đó là thực trạng lấn chiếm đất, sử dụng đất
nông nghiệp không tiết kiệm và không hợp lý vẫn còn diễn ra. Xuất phát từ những
vấn đề này nên tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng
của quá trình đô thị hóa đến tình hình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp tại
địa bàn thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2010- 2014”.
1.2. Mục tiêu đề tài
2.1.1. Khái niệm, vai trò, ý nghĩa của đất đai đối với sự phát triển kinh tế xã
hội
2.1.1.1. Khái niệm về đất đai
Luật Đất đai năm 2003 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi:
“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu
dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua
nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được
vốn đất đai như ngày nay.”[1]
Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “đất
đai là một diện tích cụ thể của bề mặt Trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của
môi trường sinh thái ngay trên vỏ, dưới bề mặt nó bao gồm: khí hậu, bề mặt, thổ
nhưỡng, dáng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy,…). Các lớp trầm tích sát
bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật,
trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và
hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà
cửa,…)”.[10]
Như vậy, “đất đai” là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng
(gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện
tích nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất), theo chiều nằm
ngang trên bề mặt (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật
cùng các thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt
động sản xuất cũng như cuộc sống xã hội loài người.[10]
2.1.1.2 Phân loại đất đai
Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau:
1. Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:
a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác;
b) Đất trồng cây lâu năm;
c) Đất rừng sản xuất;
3
h) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;
i) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;
4
k) Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao
động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ
thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây
dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà
công trình đó không gắn liền với đất ở;
3. Nhóm đất chưa sử dụng gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng.[2]
2.1.1.3. Vai trò của đất đai đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và ý nghĩa đặc biệt
quan trọng - là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất,
là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao động và nơi sinh tồn của xã hội
loài người. Tuy nhiên, vai trò của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau:
- Đối với các ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức
năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự
trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản). Quá trình sản xuất và sản
phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng
thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất.
- Đối với các ngành nông - lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình
sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động
(luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo....) và công cụ
hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi...). Quá trình sản xuất
nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu, quá trình sinh học tự
nhiên của đất. [11]
2.1.2. Khái quát quản lý Nhà nước về đất đai
2.1.2.1. Đối tượng của quản lý Nhà nước về đất đai
Đối tượng của quản lý nhà nước về đất đai là vốn đất của cả nước đến từng
văn bản, biểu mẫu quy định, hướng dẫn của Nhà nước và các cơ quan
chuyên môn từ Trung ương đến cơ sở.
10. Quản lý đất đai phải tuân theo nguyên tắc tiết kiệm mang lại hiệu quả kinh
tế cao.
2.1.2.3. Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai [2]
Điều 22 Luật đất đai 2013 quy định 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.
Bao gồm:
1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chức thực hiện văn bản đó.
2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính.
6
3. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá
đất.
4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất.
6. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.
7. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
8. Thống kê, kiểm kê đất đai.
9. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.
10. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.
11. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
12. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định
của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
và sử dụng đất đai. Do đó nó là căn cứ pháp lý duy nhất được nhà nước xây dựng
để thực hiện quyền sở hữu và thống nhất quản lý. Các văn bản pháp luật dùng để
quản lý và sử dụng đất, bao gồm:
- Luật đất đai 1987, hiến pháp 1992, luật đất đai 2003.
- Nghị định 181/CP của chính phủ về thi hành luật đất đai 2003 và thông tư số
01 hướng dẫn nghị định 181.
- Nghị định 188/CP về xử lý phạm vi trong lĩnh vực đất đai được ban hành
ngày 29/10/2004.
- Thông tư 08/2007/TT-BTNMT về hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê
đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 02/08/2007.
- Thông tư 09/2007/TT-BTNMT về hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ
sơ địa chính ngày 02/08/2007.
- Chỉ thị số 05/2004 CT-TTg của thủ tướng chính phủ ngày 15/07/2004 về thi
hành luật đất đai 2003.
Và nhiều văn bản pháp luật khác trong lĩnh vực đất đai. Đây là cơ sở pháp lý
để các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triển khai các chính sách đất đai của đảng
8
và nhà nước. Đây cũng là căn cứ để so sánh đối chiếu việc quản lý và sử dụng đất
trên thực tế.
2.1.4. Các lý thuyết về đô thị hóa
2.1.4.1. Khái niệm về đô thị hóa
Đô thị hóa được hiểu khái quát là quá trình hình thành và phát triển của các
thành phố. Nhiều thành phố mới xuất hiện và không ít những thành phố có lịch sử
hàng ngìn năm đang tồn tại và phát triển. Sự gia tăng số lượng và quy mô các thành
phô về diện tích cũng như dân số, do đó làm thay đổi tương quan dân số thành thị
và nông thôn, vai trò chính trị- kinh tế - văn hóa của thành phố, môi trường sống...
là những vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm [9].
Trên quan điểm một vùng, đô thị hóa là một quá trình hình thành, phát triển
thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều.
Ba là, việc hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa lý,
liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các vùng đô thị.
Thông thường vùng đô thị bao gồm một vài thành phố lớn và xung quanh nó là các
thành phố nhỏ vệ tinh.
Bốn là, dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh do quá trình di dân nông thôn
- thành thị, đanh làm thay đổi tương quan dân số thành thị và nông thôn, nâng cao
tỷ trọng dân thành thị trong tổng dân số.
Năm là, mức độ đô thị hóa biểu thị trình độ phát triển xã hội nói chung, song
có đặc thù riêng cho mỗi nước. Đối với các nước phát triển, đô thị hóa diễn ra chủ
yếu theo chiều sâu, chất lượng cuộc sống ở các thành phố ngày càng hoàn thiện.
Trong các nước đang phát triển tốc độ đô thị hóa rất cao, đặc biệt trong các thập kỷ
gần đây, quá trình đô thị hóa theo chiều rộng đang đặt ra nhiều vấn đề khó khăn cần
giải quyết như vấn đề đất đai, thất nghiệp, đói nghèo, ô nhiễm môi trường và tệ nạn
xã hội.
2.1.4.3. Vai trò của đô thị hóa
- Đô thị hóa làm thay đổi cơ cấu lao động trong các khu vực kinh tế. Cơ cấu
lao động trong xã hội thường được phân theo 3 khu vực:
+ Khu vực I, khu vực kinh tế nông, lâm, thủy sản thuộc địa bàn nông thôn.
Trong quá trình đô thị hóa khu vực này giảm dần.
+ Khu vực II, khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Trong quá
trình đô thị hóa, khu vực này phát triển không ngừng về số lượng và chất lượng. Sự
phát triển của nó mang tính quyết định trong quá trình đô thị hóa.
10
+ Khu vực III, khu vực dịch vụ, quản lý và nghiên cứu khoa học. Khu vực này
phát triển cùng với sự phát triển của đô thị, nó góp phần nâng cao chất lượng trình
độ đô thị hóa.
Tóm lại, ba khu vực lao động trên biến đổi theo hướng giảm khu vực I, phát
dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động mà còn làm thay đổi sự phân bố dân cư và
lao động, thay đổi các quá trình sinh, tử và hôn nhân ở các đô thị..
b) Ảnh hưởng tiêu cực
Đô thị hóa nếu không xuất phát từ CNH, không phù hợp, cân đối với quá trình
CNH thì việc chuyển cư ồ ạt từ nông thôn ra thành phố sẽ làm cho nông thôn mất
đi một phần lớn nhân lực. Trong khi đó thì nạn thiếu việc làm, nghèo nàn ở thành
phố ngày càng phát triển, điều kiện sinh hoạt ngày càng thiếu thốn, môi trường bị ô
nhiễm nghiêm trọng, từ đó dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh
tế- xã hội.[14]
2.2. Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Thực tiễn đô thị hóa trên thế giới [12]
Quá trình phát triển đô thị trong thế kỷ 20
Trong thế kỷ 20 quá trình phát triển đô thị xảy ra với tốc độ nhanh chóng so
với hàng ngàn năm trước đó.
Năm 1900, đã có 220 triệu cư dân thành thị (chiếm 13%) trên toàn thế giới.
Năm 1900, những thành phố đông dân nhất thế giới thuộc về Bắc Mỹ và Châu
Âu. Cuối thế kỷ 20 chỉ có 3 thành phố Tokyo, New York và Los Angeles là những
thành phố công nghiệp.
Vào năm 1910, tại Hoa Kỳ, bắt đầu thời kỳ đô thị hóa tăng tốc vào cuối thập
niên 1910, các nhà nghiên cứu cho biết ở thời điểm này Hoa Kỳ còn 21% dân số
sống ở nông thôn.
Trong khi dân số đô thị của thế giới đã tăng trưởng nhanh chóng (từ
220.000.000 người trong năm 1900 đến 2.800.000.000 người trong năm 2000)
trong thế kỷ 20, trong vài thập kỷ tiếp theo sẽ thấy một quy mô chưa từng thấy của
phát triển đô thị trong thế giới phát triển.
- Vào năm 1950 đã có 732 triệu cư dân thành thị (chiếm 29%) trên toàn thế
giới.
- Đến năm 1990, 75% dân số của Hoa Kỳ sống ở các thành phố.
Quá trình phát triển đô thị trong thập niên đầu thế kỷ 21
Quá trình đô thị đã được nâng cao trong khu vực phát triển hơn, nơi mà 74%
dân số sống trong năm 2003.
Ngược lại, dân số đô thị của vùng phát triển hơn được dự kiến tăng rất chậm,
từ 0,9 tỉ người trong năm 2003 đến 1 tỉ người vào năm 2030. Trung bình hằng năm
13
tỷ lệ tăng trưởng dân số này được dự kiến sẽ là 0,5% so với 1,5% ghi nhận trong
suốt thế kỷ trước.
Vào năm 2005 đã có 3.200.000 cư dân đô thị (chiếm 49%) trên toàn thế
giới.
Đến năm 2007 dân số thành thị trên thế giới vượt quá mốc 50% đánh dấu lần
đầu tiên trong lịch sử thế giới sẽ có cư dân đô thị nhiều hơn so với cư dân nông
thôn.
Vào tháng 5/2007 một sự kiện quan trọng xảy ra khi dân số Trái đất đã có số
dân cư đô thị cao hơn dân cư nông thôn. Ngày 23/05/2007 là đại diện cho một cột
mốc quan trọng lớn về nhân khẩu học đươc gọi là ngày “ đô thị Thiên niên kỷ”.
Vào năm 2010 đã có 51,3% dân số thế giới sống ở thành thị.
Quá trình phát triển đô thị tính đến năm 2011
Trong năm 2011 trên thế giới có 796 khu dân cư đô thị có từ 500.000 người
trở lên được xác định.
Trong năm 2011 trên thế giới có 205 khu dân cư đô thị có từ 2.000.000 người
trở lên được xác định. Trong đó gồm:
- Châu Phi: 25
- Châu Á: 105
- Châu Úc: 2
- Châu Âu: 21
- Bắc Mỹ: 31
- Nam Mỹ: 22
Trong năm 2011 trên thế giới có 65 khu dân cư đô thị có từ 5.000.000 người
- Đất xây dựng gồm đất xây dựng nhà ở đô thị và nông thôn, đất dùng cho
mục đích công cộng, đất dùng cho khu công nghiệp, công nghệ, khoáng sản và đất
dùng cho công trình quốc phòng.
- Đất chưa sử dụng là đất không thuộc hai loại đất trên.
Nhà nước thực hiện chế độ bồi thường đối với đất bị trưng dụng theo mục
đích sử dụng đất trưng dụng. Tiền bồi thường đối với đất canh tác bằng 6 đến 10
lần sản lượng bình quân hàng năm của 3 năm liên tiếp trước đó khi bị trưng dụng.
Tiêu chuẩn hỗ trợ định cư cho mỗi nhân khẩu nông nghiệp bằng từ 4 đến 6 lần giá
trị sản lượng bình quân của đất canh tác/ đầu người thuộc đất bị trưng dụng, cao
15
nhất không vượt quá 15 lần sản lượng bình quân của đất bị trưng dụng 3 năm trước
đó. Đồng thời nghiêm cấm tuyệt đối việc xâm phạm, lạm dụng tiền đền bù đất
trưng dụng và các loại tiền khác liên quan đến đất bị trưng dụng để sử dụng vào
mục đích khác.
2.2.2.2. Thụy Điển
Ở Thuỵ Điển, phần lớn đất đai thuộc sở hữu tư nhân nhưng việc quản lý và sử
dụng đất đai là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Vì vậy, toàn bộ pháp luật và
chính sách đất đai luôn đặt ra vấn đề hàng đâu là có sự cân bằng giữa lợi ích riêng
của chủ sử dụng đất và lợi ích chung của Nhà nước.
Bộ Luật đất đai của Thụy Điển là một văn bản pháp luật được xếp vào loại
hoàn chỉnh nhất, nó tập hợp và giải quyết các mối quan hệ đất đai và hoạt động của
toàn xã hội với 36 đạo luật khác nhau.
Các hoạt động cụ thể về quản lý sử dụng đât như quy hoạch sử dụng đất, đăng
ký đất đai, bất động sản và thông tin địa chính đều được quản lý bởi ngân hàng dữ
liệu đất đai và đều được luật hóa. Pháp luật và chính sách đất đai ở Thụy Điển về
cơ bản dựa trên chế độ sỡ hữu tư nhân về đất đai và kinh tế thị trường, có sự giám
sát chung của xã hội.
Pháp luật và chính sách đất đai ở Thụy Điển từ năm 1976 đến nay gắn liền với
Tại Việt Nam quá trình đô thị hóa được gắn liền với công cuộc CNH đất nước.
Do chú trọng quá nhiều vào việc “CNH” cộng với chất lượng quy hoạch không
cao, nên quá trình này đang bộc lộ nhiều bất cập đáng lo ngại. Cụ thể là:
- Số lượng các đô thị tăng lên nhanh chóng: Trong những năm gần đây, số
lượng đô thị ở nước ta tăng nhanh, nhất là ở các thành phố thuộc tỉnh. Năm 1986 cả
nước có 480 đô thị, năm 1990 là 500 đô thị, đến năm 2007 là 729 đô thị và đến năm
2012 cả nước đã có 755 đô thị. Trong đó, có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội, Thành
phố Hồ Chí Minh), 13 đô thị loại I trong đó có 03 thành phố trực thuộc Trung ương
(Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ) và 10 thành phố trực thuộc tỉnh, 10 đô thị loại II
còn lại là các đô thị loại III, IV và V. Tuy vậy, việc xếp loại đô thị vẫn còn nhiều
tiêu chí chưa đáp ứng như quy mô đô thị, kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế, hệ thống
kết cấu hạ tầng kỹ thuật...
- Sự gia tăng dân số đô thị: Quy mô dân số đô thị ở nước ta liên tục tăng, đặc
biệt là từ sau năm 2000. Tính đến năm 2010, dân số đô thị tại Việt Nam là 25.584,7
nghìn người, chiếm 29,6% dân số cả nước. Sự gia tăng dân số đô thị cả nước do 3
nguồn chính đó là: (i) Gia tăng tự nhiên ở khu vực đô thị; (ii) Di cư từ khu vực
nông thôn ra thành thị; (iii) Quá trình mở rộng địa giới của các đô thị.
Khi các đô thị của Việt Nam ngày càng phát triển mở rộng, thì dân số càng
tăng, dòng dịch cư càng lớn (nhóm di dân có 80% thời gian sống ở đô thị cũng
17
đang tăng nhanh tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh) dẫn đến sự
quá tải trong sử dụng hệ thống hạ tầng cơ sở sẵn có. Bên cạnh đó là việc hình thành
các khu dân cư nghèo quanh đô thị gây ô nhiễm môi trường và nguy an mất an toàn
lương thực không ngừng tăng cao.
- Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị: Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đô thị
trong những năm qua được cải thiện rõ rệt, thể hiện qua các mặt, như: nhiều tuyến
đường, cây cầu được xây dựng; chất lượng đường đô thị dần được cải thiện; các đô
thị loại III trở lên hầu hết đã có các tuyến đường chính được nhựa hoá và xây dựng
khu công nghiệp trong đô thị kéo theo nhiều hệ quả về môi trường… dẫn đến các
đô thị đứng trước nguy cơ phát triển không bền vững.[13]
2.2.4. Tình hình quản lý và sử dụng đất ở Việt Nam
Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã
làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam. Kể từ đó Đảng và Nhà nước ta
thực hiện mục tiêu trước cách mạng: “độc lập dân tộc và người cày có ruộng”. Đến
ngày 19/12/1953, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ban hành luật cải cách ruộng
đất và công tác này được ban hành vào năm 1955-1956. Tuy nhiên công tác này đã
gặp phải nhưng sai lầm nhất định và hậu quả của nó là nạn đói hoành hành, đất đai
bị hoang hóa. Do tình hình không ổn định ở nông thôn nên ngày 03/07/1958, chính
phủ ban hành chỉ thị 334/TTg cho tái lập hệ thống địa chính. Năm 1960, chính phủ
ban hành nghị định số 10/CP về nhiệm vụ tổ chức ngành địa chính, đến ngày
09/11/1979 chính phủ ban hành nghị định 404/CP thành lập hệ thống quản lý đất
đai trực thuộc hội đồng Bộ Trưởng và ủy ban các cấp.
Hiến pháp năm 1980 ra đời, nhà nước là chủ sở hữu toàn bộ đất đai và thống
nhất quản lý. Quyết định số 201/CP ngày 01/07/1980 của hội đồng chính phủ về
thống nhất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Chỉ thị số
299/TTg ngày 10/11/1980 về việc đo đạc phân hạng đất và quản lý ruộng đất. Năm
1987 lần đầu tiên luật đất đai Việt Nam ra đời tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản
lý và sử dụng đất ở nước ta. Năm 1992, luật được tiếp tục bổ sung sửa đổi nhằm
đáp ứng nhu cầu sử dụng đất trong giai đoạn mới. Do mô hình kinh tế tập trung bao
cấp bộc lộ toàn diện những tiêu cực, hạn chế mà hậu quả của nó là cuộc khủng
hoảng kinh tế xã hội vào cuối năm 1970, đầu những năm 1980. Trước tình hình đó
một số địa phương đã tìm cách tháo gỡ khó khăn và thực hiện cách quản lý mới.
Trên cơ sở đánh giá thực tiễn và rút kinh nghiệm qua các địa phương, ban bí thư
trung ương Đảng khóa V đã ra chỉ thị số 100/CT-TW về công tác khoáng sản phẩm
đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp. Từ đó đã phát
huy được năng lực cá nhân của người lao động làm cho năng suất cây trồng tăng.
Mặc dù vậy cơ chế “khoán 100” cũng không tháo gỡ hết khó khăn trong sản xuất
nông nghiệp. Để khắc phục hạn chế đó, nghị quyết 10/NQ-TW đến ngày
tăng áp lực cho hoạt động sản xuất NN [3].
Qua sự chủ trì nhiệm vụ nghiên cứu của Viện nghiên cứu quản lý đất đai đã
đưa ra kết luận: quá trình đô thị hóa ảnh hưởng đến cơ cấu sử dụng đất được
chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, diện tích đất nông nghiệp giảm nhanh
đặc biệt là diện tích đất trồng lúa; các khu đô thị mới hình thành, tỷ lệ cơ cấu ngành
nghề theo hướng công nghiệp dịch vụ tăng,... tạo nguồn thu quan trọng đóng góp
20
vào ngân sách Nhà nước. Đặc biệt, tạo ra được môi trường cạnh tranh nhằm thu hút
đầu tư thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản cũng như hỗ trợ, kích
thích cho sự phát triển của các khu công nghiệp, dịch vụ, du lịch,... tạo đà và lực
cho quá trình đô thị hóa cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trên
địa bàn [5].
Ngoài ra có những công trình nghiên cứu khác cũng đề cập tới vấn đề ảnh
hưởng của đô thị hóa đến đất sử dụng đất như: Đô thị hóa ảnh hưởng đến NN Việt
Nam của nhóm nghiên cứu thuộc các cơ quan trong lĩnh vực Tài nguyên và Môi
trường năm 2010; Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn quận
Long Biên, thành phố Hà Nội của Trần Quốc Khánh năm 2009.
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
21
Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến tình hình quản lý và sử
dụng đất nông nghiệp tại địa bàn thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
3.2 Phạm vi nghiên cứu
22
Số liệu sơ cấp sau khi thu thập được tổng hợp, phân tích và xử lý bằng phần
mềm Excel, các kết quả được thể hiện thông qua các bảng, biểu, sơ đồ, từ đó đưa
ra nhận xét, kết luận.
3.4.3. Phương pháp so sánh
So sánh chỉ tiêu của các năm với nhau để đưa ra kết luận đúng đắn của sự thay
đổi, phát triển.
3.4.4. Phương pháp kế thừa
Tham khảo, sử dụng các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được
thực hiện trước đó nhằm phục vụ cho hoạt động nghiên cứu.
3.4.5. Phương pháp bản đồ
Sử dụng bản đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Đông Hà năm 2010 và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 để thấy được quá trình đô thị hóa.
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội thành phố Đông Hà
4.1.1. Điều kiện tự nhiên [6]
23
4.1.1.1. Vị trí địa lý.
Thành phố Đông Hà có 9 đơn vị hành chính (9 phường), với tổng diện tích
tự nhiên 7.295,87 ha. Mật độ dân số khoảng 1.165 người/km 2 và có toạ độ địa lý
16 007’53’’ - 16 052’22’’ vĩ độ Bắc, 107 004’24’’ - 107 007’24’’ kinh độ Đông.
+ Phía Bắc giáp huyện Cam Lộ và huyện Gio Linh.
Chế độ khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa mưa nóng.
- Mùa khô nóng: kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8, gần như liên tục nắng nóng
kèm theo gió nóng khô Tây - Tây Nam. Do hiện tượng “Phơn” nên có những ngày
gió Tây - Tây Nam thổi rất mạnh, sức gió đến cấp 6, cấp 7.
- Mùa mưa: Tập trung vào các tháng 8 đến tháng 11 và kéo dài đến tháng 3
năm sau, mùa mưa trùng vào mùa gió mùa Đông - Bắc nên kèm theo rét lạnh kéo
dài, độ ẩm không khí rất cao.
+ Mưa: Lượng mưa bình quân năm 2.700 mm/ năm nhưng phân bố không
đều, mưa tập trung vào tháng 9,10,11, cao nhất là tháng 9 nên thường gây lũ lụt.
Trong những tháng mùa mưa thường kèm theo những cơn bão mạnh xuất phát từ
biển Đông. Bão thường kèm theo mưa lũ nên càng làm tăng thêm thiệt hại về kinh
tế cho nhân dân.
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình trong năm là 24,4 0C, trong đó nhiệt độ tối
thấp 110C, nhiệt độ tối cao 420C. Độ bốc hơi lớn gây khô hạn, ảnh hưởng đến sản
xuất nông nghiệp và đời sống.
+ Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm đạt 84%, độ ẩm trung bình tháng cao nhất
94% (tháng 9,11), tháng thấp nhất là 75% (tháng 1, tháng 2).
25