Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa
tới cộng đồng dân cư Huyện Ứng Hòa, Thành
phố Hà Nội
Nguyễn Hoàng Yến
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Khoa Môi trường
Luận văn Thạc sĩ ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
Mã số: 60 85 15
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Anh Tuấn
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Tổng quan về đô thị hóa và chỉ số đô thị hóa. Xây dựng và củng cố cơ sở
lí luận về nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới cộng đồng dân cư của
huyện Ứng Hòa. Phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ứng
Hòa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay. Đánh giá khả năng tiếp
cận của cộng đồng dân cư địa phương tới hệ thống dịch vụ xã hội của địa phương.
Đề xuất một số giải pháp đối với sự phát triển bền vững huyện Ứng Hòa, thành phố
Hà Nội dưới ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa.
Keywords. Tài nguyên môi trường; Đô thị hóa; Cộng đồng dân cư; Hà Nội
Content
Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XII (Ngày 29/5/2008) đã thông qua Nghị quyết về
việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội. Theo đó, thành phố Hà Nội mở rộng
có diện tích tự nhiên 334.470,02 ha (3.344,7002 km
2
) và dân số là 6.232.940 người.
môi trường sống ở những vùng quê vốn yên bình ngày càng bị đảo lộn. Tệ nạn xã hội gia
tăng, giá trị đạo đức truyền thống trong nhiều gia đình bị lung lay…
Khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội như văn hóa, y tế, giáo dục,…là một trong
những thước đo về sự biến đổi của nông thôn dưới tác động của quá trình đô thị hóa. Trong
điều kiện thực tế của địa bàn nghiên cứu - huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội - khả năng tiếp
cận của cộng đồng dân cư địa phương tới các dịch vụ xã hội tuy có nhiều thuận lợi hơn so với
các địa phương khác trong cả nước. Tuy nhiên, dịch vụ xã hội đã đem lại cho người dân
những tiện ích như thế nào? Những vùng có khả năng cung cấp dịch vị xã hội phân bố ở đâu?
Là những câu hỏi đặt ra cho các cấp quản lý địa phương.
Chính vì vậy, đề tài đã được lựa chọn nghiên cứu với tiêu đề: “Đánh giá ảnh hưởng
của quá trình đô thị hóa tới cộng đồng dân cư huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội”.
Tóm tắt nội dung các chương:
Chương I: Tổng quan các vấn đề về lý luận
1.1 Khái niệm và bản chất của đô thị hóa:
Khái niệm:
Hiện nay, khái niệm đô thị hóa chưa có sự thống nhất do các cách tiếp cận và đối tượng
nghiên cứu khác nhau của các chuyên ngành khoa học. Có thể dẫn ra dưới đây một số định
nghĩa tiêu biểu:
Trong tác phẩm “Đô thị Việt Nam” Đàm Trung Phường cho rằng: “đô thị hóa là quá
trình chuyển dịch hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung
trên một số địa bàn thích hợp”. Mặt khác, cũng theo tác giả này: “đô thị hóa cũng bao gồm
quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị, tập trung ngày càng nhiều dân cư trong những
vùng lãnh thổ hạn chế, gọi là đô thị”. Về điểm này, tác giả Nguyễn Thanh Thủy làm rõ: “thực
chất đô thị hóa là một quá trình thay đổi hình thức cư trú của con người, từ hình thức sống ở
nông thôn tiến lên hình thức sống ở thành thị theo yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, thương mại, dịch vụ và giao lưu quốc tế khi mở rộng quy mô các đô thị cũ hoặc
xây dựng các đô thị mới”.
Bên cạnh đó, theo báo cáo của Viện nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội, quá
trình đô thị hóa được nhìn từ hai góc độ, một mặt đó là “quá trình hình thành và phát triển
các điểm dân cư được tập hợp lại và phổ biến lối sống thành thị, đồng thời phát triển các
Chỉ số thứ hai thường được sử dụng trong các nghiên cứu dự báo về động lực và xu
hướng phát triển của đô thị hóa là chỉ số dân thành thị-nông thôn (Urban - Rural Ratio). Chỉ
số này được xác định bằng công thức:
Trong đó:
URR
t
: Chỉ số Đô thị - Nông thôn tại thời điểm t
PU
t
: Dân số đô thị tại thời điểm t
PR
t
: Dân số nông thôn tại thời điểm t
Về bản chất, chỉ số này thể hiện tỷ lệ dân số đô thị so với dân số nông thôn tại một thời
điểm cố định. Qua đó, phản ánh được sự phát triển của đô thị trong khu vực nghiên cứu.
Bên cạnh đó, chỉ số đô thị hóa còn được tính theo công thức dưới đây:
Trong đó:
g
ur
: Chỉ số phát triển đô thị hóa
gp
u
: Chỉ số dân số đô thị
gp
r
: Chỉ số dân số nông thôn
PU
t
chứa đựng tất cả các vấn đề tiêu biểu nhất trong quá trình đô thị hóa của thành phố Hà Nội
hiện nay.
Với việc sát nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã của
tỉnh Hòa Bình, Hà Nội mới là một trong 20 thủ đô có diện tích tự nhiên lớn nhất trên thế giới.
Việc mở rộng thủ đô là một bước ngoặt trong việc phát triển không gian đô thị hiện đại của
Hà Nội nói riêng và quá trình đô thị hóa của cả nước nói chung.
Áp dụng chỉ số đô thị - nông thôn nhằm phân tích đặc điểm của quá trình đô thị hóa
của thành phố Hà Nội qua các giai đoạn khác nhau. Kết quả cho thấy chỉ số đô thị hóa của Hà
Nội giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1989 khá thấp, chủ yếu biến động từ 0,519 đến 0,602.
Điều đó chứng tỏ dân số đô thị trong giai đoạn này chiếm tỷ lệ nhỏ và không có thay đổi lớn.
Đô thị hóa là sự mở rộng đô thị, tức là tỷ lệ phần trăm dân số đô thị so với dân số nông thôn.
Chỉ số đô thị thấp, thể hiện lối sống thành thị của Hà Nội năm 1980 đến năm 1989 chưa phát
triển. Giai đoạn từ năm 1980-1989, đời sống của người dân Hà Nội còn rất khó khăn, chất
lượng cuộc sống thấp do hậu quả chiến tranh để lại còn rất nặng nề.
Năm 1978, Quốc hội quyết định mở rộng thủ đô lần thứ 2 một số huyện của tỉnh Vĩnh
Phúc và Hà Tây với diện tích đất tự nhiên 2.136 km
2
, dân số là 2,5 triệu người. Vì vậy, dân số
nông thôn tăng lên dẫn tới chỉ số đô thị hóa thấp. Sau một giai đoạn phát triển, năm 1990 thì
chỉ số đô thị hóa đã tăng lên 1,064 có sự đột biến rõ rệt. Tức là năm 1990 thì số dân thành thị
và nông thôn đã gần tương đương nhau. Đây được coi là kết quả của quá trình phát triển lâu
dài của Việt Nam, hồi phục nền kinh tế sau cải cách năm 1986. Từ năm 1991, địa giới hành
chính tiếp tục thay đổi, chỉ còn 924 km
2
với 4 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành, nhưng
dân số vẫn ở mức hơn 2 triệu người. Trong suốt thập niên 1990, cùng với việc các khu vực ở
ngoại ô dần được đô thị hoá, dân số Hà Nội tăng đều đặn, đạt 2.672.122 người vào năm 1999.
Đó là lý do giải thích, mặc dù địa giới hành chính đã tách một số huyện của tỉnh Bắc Ninh và
Hà Tây ra, tức là số huyện nông thôn giảm xuống. Điều đó đồng nghĩa rằng, tỷ lệ dân số nông
thôn cũng giảm hơn trước, nên chỉ số đô thị hoá giai đoạn năm 1991-1999 đã lớn hơn 1(giao
Vị thế trung tâm kinh tế của Hà Nội đã được thiết lập từ rất lâu trong lịch sử. Tên
những con phố như Hàng Bạc, Hàng Đường, Hang Than đã minh chứng cho điều này. Tới
thế kỷ gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Nam Bộ,
Hà Nội chỉ còn giữ vị trí quan trọng thứ hai trong nền kinh tế Việt Nam.
Sau một thời gian dài của thời kỳ bao cấp, từ đầu thập niên 1990, kinh tế Hà Nội bắt
đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thành phố
thời kỳ 1991-1995 đạt 12,52%, thời kỳ 1996-2000 là 10,38%. Từ năm 1991 tới 1999, GDP
bình quân đầu người của Hà Nội tăng từ 470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 so với trung bình
của Việt Nam. Theo số liệu năm 2010, GDP của Hà Nội chiếm 12,73% của cả quốc gia và
khoảng 41% so với toàn vùng Đồng bằng sông Hồng.
Giai đoạn phát triển của thập niên 1990 cũng cho thấy Hà Nội đã có những thay đổi về
cơ cấu kinh tế. Từ 1990 tới 2000, trong khi tỷ trọng ngành công nghiệp tăng mạnh từ 29,1%
lên 38% thì nông-lâm nghiệp và thủy sản từ 9% giảm xuống còn 3,8%. Tỷ trọng ngành dịch
vụ cũng giảm trong khoảng thời gian này, từ 61,9% xuống còn 58,2%. Ngành công nghiệp
của Hà Nội vẫn tập trung vào 5 lĩnh vực chính, chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất công
nghiệp, là cơ-kim khí, điện-điện tử, dệt-may-giày, chế biến thực phẩm và công nghiệp vật
liệu. Bên cạnh đó, nhiều làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, may ở Cổ Nhuế, đồ mỹ
nghệ Vân Hà cũng dần phục hồi và phát triển.
Cơ cấu kinh tế của thành phố Hà Nội năm 2005 đã cho thấy ngành công nghiệp giữ vai
trò chủ đạo (chiếm 96,2%). Đến năm 2010, tỷ trọng ngành công nghiệp giảm xuống còn
92,1%, đóng góp của ngành nông nghiệp có sự gia tăng. Do việc mở rộng địa giới hành
chính, đa phần giá trị sản lượng của ngành nông nghiệp của tỉnh Hà Tây đã làm gia tăng tỷ
trọng của ngành trong cơ cấu kinh tế chung của toàn vùng Hà Nội.
b) Cơ cấu kinh tế ngành
Ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản
- Nông nghiệp: giá trị sản xuất ngành nông nghiệp có sự thay đổi đáng kể, đặc biệt là từ năm
2008 đến nay. Do sự đóng góp của giá trị sản xuất nông nghiệp của các khu vực sau khi sáp
nhập vào Hà Nội
- Lâm nghiệp: Sản lượng lâm nghiệp của Hà Nội tăng giảm không đều trong giai đoạn 1995-
2010. Năm 1995, giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 3,4 tỷ đồng tăng đột biến vào năm 1996 là
chí cho việc mua thức ăn chiếm tỷ trọng lớn với 52,4%. Cũng vào giai đoạn này, hàng hóa
dịch vụ rất khan hiến nên số người tiêu dùng cho dịch vụ cũng như tiêu thụ sản phẩm thức
uống thấp chỉ chiếm 2,07 % tổng số tiền mà họ chi tiêu.
b) Đánh giá mức sống giai đoạn 1999-2010
Năm 1995, mức thu nhập bình quân hàng tháng của lao động nhà nước là 373 nghìn
đồng/tháng, nhưng đến năm 2010 với 15 năm phát triển và nỗ lực, mức thu nhập hàng tháng
của lao động đã được cải thiện lên 3125,8 nghìn đồng/tháng. Như vậy, sau khi hoàn thành 3
kế hoạch 5 năm, hiệu quả đạt được là đã cải thiện mức thu nhập bình quân, tăng được 2751,9
nghìn đồng/tháng.
Mức chi tiêu của người dân khu vực thành thị biến động tăng dần từ năm 1999 đến năm
2010. Năm 1999 thì mức chi tiêu cho đời sống của người dân khu vực thành thị, trong đó có
Hà Nội trung bình là 373 nghìn đồng/tháng. Đến năm 2010, mức chi tiêu này là 1726 nghìn
đồng/thàng. Như vậy, sau 10 năm phát triển thì mức chi tiêu của người dân khu vực thành thị
đã tăng 1353 nghìn đồng/tháng (tức là gấp 4,6 lần)
Như vậy, mức chi tiêu phản ánh sự phát triển của một nền kinh tế. Mức chi tiêu thể
hiện chất lượng cuộc sống của người dân khu vực thành thị. Trong giai đoạn 1999-2010, hệ
quả quả của việc Việt Nam ra nhập WTO, đã mở rộng thi trường, đa dạng hóa sản phẩm và
người dân có cơ hội tiếp xúc với nhiều sản phẩm của nhiều quốc gia, đặc biệt là người dân
sinh sống tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Khi dịch vụ phát triển gắn liền với nhu cầu
của người dân và nhu cầu tăng thì mức chi tiêu cũng tăng theo.
Khi so sánh với mức chi tiêu bình quân khu vực thành thị với mức thu nhập bình quân
tại Hà Nội cho thấy rằng, mức thu nhập cao hơn mức chi tiêu. Cụ thể như năm 1999, mức thu
nhập so với mức chi tiêu dư 160 nghìn đồng/tháng; năm 2010 mức thu nhập so với mức chi
tiêu dư 1399,8 nghìn đồng/tháng. Như vậy, số tiền tích lũy được của người dân đã tăng lên
trong giai đoạn 1999-2010. Số tiền tích lũy trên có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau
như hỗ trợ con cái học hành, đầu tư làm ăn, sử dụng khi ốm đau…, giúp người dân nâng cao
chất lượng cuộc sống.
2.2.6. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội đến 2030
a. Dự báo các chỉ số phát triển kinh tế Thủ đô giai đoạn đến năm 2030
- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2001-2009 là >11%/năm. Phấn đầu đạt khoảng
1. Tổng GDP,
giá 1994
tỷ
đồng
72.913
128.498
216.527
536.602
12,0
11,0
9,5
Dịch vụ
tỷ
đồng
37.377
66.446
112.777
286.611
12,2
11,2
9,8
Công nghiệp,
xây dựng
tỷ
đồng
31.001
57.118
98.435
243.944
13,0
2.733.991
Công nghiệp,
xây dựng
tỷ
đồng
103.127
259.838
560.009
1.884.232
Nông lâm thuỷ
sản
tỷ
đồng
15.195
24.361
33.376
54.887
3. Cơ cấu
%
100
100
1,2
4. GDP HH
theo USD
tỷ
USD
13,3
29,7
56,8
150,3
GDP/người theo
USD
USD
2.021
4.079
7.135
15.962
Nguồn: QHTT phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tháng 3/2011
b. Các chỉ số phát triển văn hóa-xã hội
- Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2030 đạt 65-68%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng >55% vào năm 2015 và 70-75% vào năm 2020.
Đơn
vị
Hiện
trạng
DSTB
năm
2008
Dự báo
2010-
2020
2020-
2030
2030-
2040
2040-
2050
Toàn thành phố
HN mới(I+II)
1.000
người
6.350,0
7.956,0
9.135,5
10.025,9
10.733,5
1
Tỉ lệ gia tăng dân
số
%
0,06
-0,02
Số dân tăng/giảm
do tăng cơ học cả
giai đoạn(thuần)
1.000
người
743,2
351,0
91,8
-147,9
2
Tỉ lệ đô thị hoá
%
40,7
58,8
68,1
69,4
70,0
I
Dân số thành thị
1.000
người
2.583,3
4.676,8
6.218,5
6.960,0
7.510,5
%
2,46
4,1
2,0
0,32
-0,04
Số dân tăng/giảm
do tăng cơ học cả
giai đoạn(thuần)
1.000
người
1.676,5
1.056,2
211,3
-25,8
II
Dân số nông thôn
1.000
người
3.766,7
3.279,2
2.917,0
3.066,0
3.223,0
Tỉ lệ gia tăng dân
số
%
-0,40
-0,39
Số dân tăng/giảm
do tăng cơ học cả
giai đoạn(thuần)
1.000
người
-933,3
-705,3
-119,5
-122,1
Nguồn: Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội tới 2030
Bảng 2.5. Dự báo dân cư nông thôn (cấp huyện) trong QHC Hà Nội
(Đơn vị tính:1.000người)
TT
Hạng mục
Dân số
(2020)
Dân số
(2030)
Dân số
(2050)
I
Toàn thành phố HN mới
7.956,0
9.135,5
10.733,5
1
Trục giữa sông Đáy và sông Tích (Bắc-
480,0
530,0
588,0
TT
Hạng mục
Dân số
(2020)
Dân số
(2030)
Dân số
(2050)
Nam)
B.1
Phúc Thọ
181,0
200,0
220,0
B.2
Quốc Oai
122,0
135,0
148,0
B.3
Thanh Oai
177,0
195,0
220,0
C
Phía Tây sông Tích
718,0
585,0
645,4
D.1
Thường Tín
203,0
170,0
185,0
D.2
Phú Xuyên
224,0
172,0
190,4
D.3
Ưng Hòa
291,0
243,0
270,0
E
Phía Bắc sông Hồng
501,2
517,0
571,1
E.1
Mê Linh
66,2
58,7
66,7
E.2
Đông Anh
động của quá trình đô thị hóa tới huyện Ứng Hòa trên các khía cạnh: kinh tế, xã hội và sử
dụng đất sẽ được phân tích và đánh giá trong các phần tiếp theo của đề tài.
2.3.2 Những biến đổi về kinh tế
Xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của Đại hội Đảng bộ huyện Ứng Hòa lần
thứ XXI là: Nâng cao năng lực chỉ đạo và sức chiến đầu của các cấp ủy và tổ chức Đảng.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của Đảng bộ và nhân dân trong huyện, tiếp tục sự nghiêp đổi
mới toàn diện, phát huy mọi nguồn lực đề khai thác tiềm năng lợi thế của toàn huyện và từng
vùng nhằm tăng tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
– hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu
cây trồng, vật nuôi, sản xuất hang hóa tăng nhanh giá trị, hiệu quả bền vững. Mở rộng sản
xuất tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp – dịch vụ, tạo điều kiện thu hút đầu tư phát triển
công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng. Phát triển văn hóa – xã hội tương đương với nhịp độ
phát triển kinh tế. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đảm bảo an ninh
quốc phòng, phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương xã hội. Xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể vững mạnh. Phấn đấu xây dựng huyện trở thành huyện kinh tế -
xã hội phát triển.
Cho đến nay, kinh tế của huyện tiếp tục tăng trưởng khá, hầu hết các chỉ tiêu về kinh tế
đạt và vượt mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ huyện đề ra, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn
2005-2010 đạt 11,6%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh và phù hợp với quá trình công
nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước cũng như Đại hội Đảng bộ huyện đề ra, tổng giá trị
sản xuất năm 2010 theo giá cố định năm 1994 đạt 1.208 tỷ đồng, cơ cấu kinh tế theo giá cố
định năm 1994: Nông nghiệp chiếm 49,5%, công nghiệp và xây dựng chiếm 30,5%, thương
mại – dịch vụ chiếm 20%, thu nhập bình quân theo đầu người đạt 7,5 triệu đồng/năm.
2.3.3 Những biến đổi về hiện trạng sử dụng đất
Số liệu thống kê cho thấy diện tích đất tự nhiên của huyện Ứng Hòa không có nhiều
thay đổi trong giai đoạn 2005 -2010. Từ năm 2009 đến nay, tổng diện tích đất tự nhiên tăng
lên do công tác kiểm kê đất đai thực hiện tốt hơn, việc rà soát diện tích đất tự nhiên trên thực
tế đã làm tăng (khoảng trên 4ha) diện tích đất tự nhiên. Đất nông nghiệp của huyện có xu
hướng giảm trong vòng 5 năm trở lại đây. Khoảng trên 30 ha đất nông nghiệp đã được
chuyển sang mục đích sử dụng khác (chủ yếu là chuyển đổi thành đất thổ cư – xây dựng các
ONT
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp của NN
TSC
Đất trụ sở khác
TSK
Đất chợ
DCH
Đất cơ sở thể dục - thể thao
DTT
Đất cơ sở dịch vụ về xã hội
DXH
Sau khi đã tách từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất, những khu đất có dân cư sinh sống
đều được thống kê lại như bảng 3.1. Toàn bộ khoanh vi các khu vực định cư dân cư phân bố
rải rác khắp khu vực Ứng Hòa. Dữ liệu dân cư sẽ được raster hóa để đồng bộ hóa với dữ liệu
tốc độ di chuyển của người dân sau này. Việt raster hóa sẽ giúp chúng ta xác định mật độ dân
số trên 1 ô pixel, thống kê tốt được những khu vực, số lượng người dân có thể và không thể
tiếp cận tới các điểm dân cư trong khu vực nghiên cứu.
- Khu vực nghiên cứu nằm trong khoanh vi huyện Ứng Hòa với diện tích vào khoảng
18372 km
2
, tác giả đã lấy kích thước của 1 ô raster (cell) là 10m nhằm sử dụng mỗi cell như
là một hộ gia đình. Và tính giá trị của cell bằng giá trị dân số trung bình/100m
2
của từng xã:
C =
Trong đó C: giá trị cell
P: dân số của các xã
S: Tổng diện tích đất thổ cư
- Sau đó chuyển sang dạng trung gian là shape file và từ đó chuyển sang dạng
grid để chạy được accessmod nhờ tool: Grid analyst extension của acrview 3.2.
viện trong khu vực nghiên cứu sẽ được thể hiện lên bản đồ (bảng 3.3). Qua bảng 3.3, chúng
ta có thể thấy 6 trạm xá, 12 trường học trong khu vực. Các điểm này phân bố dọc khắp huyện
Ứng Hòa với sức chứa vào khoảng 1000 học sinh cho mỗi trường học và khoảng 300 bệnh
nhân cho mỗi điểm y tế.Mặc dù vậy, chúng ta có thể so sánh với số lượng dân trong toàn
huyện vào khoảng 179.900 dân vào năm 2009 thì số lượng trạm xá và trường học này còn
quá ít để đáp ứng đủ nhu cầu cho người dân trong huyện. Chính vì thế, việc mô hình hóa
được không gian đáp ứng nhu cầu cho người dân trong vùng là nhiệm vụ cần thiết. Số lượng,
vị trí đặt các điểm trường học và y tế sẽ quyết định tới vấn đề cung ứng cho người dân trong
vùng rất lớn.
c. Phân tích các yếu tố liên quan tới tốc độ và thời gian du hành
Nghiên cứu tốc độ du hành của người dân địa phương qua các loại hình sử dụng đất là
một trong những nhân tố hết sức cần thiết để xác định khả năng tiếp cận của cộng đồng tới
các điểm văn hóa, giáo dục, y tế. Đối với từng lứa tuổi, từng kiểu địa hình và từng kiểu
đường khác nhau thì người dân sẽ có những cách tiếp cận tới điểm cần đến một cách khác
nhau. Trong phạm vi khóa luận, báo cáo chú ý tới khả năng di chuyển của người dân trên
từng loại hình sử dụng đất khác nhau. Tốc độ du hành này được thống kê theo như bảng dưới
đây:
Bảng 3.4. Bảng thống kê các loại hình sử dụng đất và tốc độ di chuyển
Loại hình sử dụng đất
Ký
hiệu
Phân loại
Tốc độ du hành
(km/h)
Đất tin ngưỡng
TIN
1
10
Đất nghĩa trang, nghĩa địa
NTD
Đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt
TSN
3
0.06
Đất có mặt nước chuyên dùng
MNC
3
0.06
Đất cơ sở sản xuất, kinh doanh
SKC
4
15
Đất khu công nghiệp
SKK
4
15
Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ
SKX
4
10
Đất ở tại đô thị
ODT
5
20
Đất ở tại nông thôn
ONT
5
10
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp của
NN
Trong đó:
- V
0
là vận tốc khi không có độ dốc.
- S là độ dốc tính bằng %.
Công thức tính thời gian du hành của người dân được sử dụng trong báo cáo như sau: 3.2.3. Kết quả đánh giá khả năng tiếp cận của cộng đồng dân cư tới các cơ sở y tế, giáo dục
Như đã phân tích ở trên, dữ liệu đầu vào khi đánh giá khả năng tiếp cận cộng đồng dân
cư tới các cơ sở y tế, giáo dục bao gồm:
1. Các điểm trạm y tế, bệnh viện, trường học có đầy đủ các thuộc tính như sức chứa,
thời gian di chuyển tối đa của bệnh nhân tới trạm y tế, giáo dục đó có thể đáp ứng được… (dữ
liệu được đưa vào dưới dạng điểm).
2. Mạng lưới dân cư trong khu vực nghiên cứu với mật độ dân trung bình trên 1 đơn vị
diện tích (dữ liệu được đưa vào dưới dạng GRID).
3. Thời gian du hành của người dân trên từng đơn vị sử dụng đất (dữ liệu được tổng
hợp từ hệ thống đường giao thông, sông suối, yếu tố sử dụng đất,…)(dữ liệu được đưa vào
dưới dạng GRID).
Toàn bộ dữ liệu được đưa vào mô hình AccessMod như hình trên và với các mức thời
gian di chuyển của người dân khác nhau thì ta sẽ có những kịch bản khác nhau khi xét đến
3,5* 0,05
0
*6*
S
V V e
*60
*1000
dục rất có thể lên tới 40%. Điều này cho thấy việc khoanh vùng nghiên cứu, đánh giá khả
năng tiếp cận trên đây là hết sức cần thiết. Đặc biệt hơn, chúng ta cần có những quy hoạch,
bố trí những điểm y tế, trường học một cách hợp lý hơn để có được sự bao phủ hoàn toàn của
các cơ sở đó.
KẾT LUẬN
Quá trình đô thị hóa ở huyện Ứng Hòa nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung diễn ra
với tốc độ khá nhanh. Đặc biệt kể từ khi thành phố Hà Nội mở rộng địa giới hành chính từ
năm 2008 đánh dấu quá trình đô thị hóa ở khu vực nghiên cứu có sự thay đổi rõ rệt. Theo dự
báo của Liên hiệp quốc, đến năm 2025, tỷ lệ dân số đô thị của Hà Nội lên đến 57% với số dân
lên đến hơn 7 triệu người (chỉ tính riêng Hà Nội cũ). Như vậy, áp lực dân số tới tài nguyên
thiên nhiên có xu hướng ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, tác động của quá trình đô thị hóa
tới cơ cấu các ngành kinh tế, cơ sở hạ tầng, cấu trúc xã hội góp phần làm thay đổi bộ mặt khu
vực nghiên cứu.
Trong 10 năm từ 2000 đến 2010, cùng với sự ra đời của các chính sách, huyện Ứng
Hòa cũng trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, tuy nhiên vẫn nằm trong những nét
chung nhất của cả nước. Giai đoạn 2000-2010 là giai đoạn bứt phá và phát triển mạnh mẽ của
huyện Ứng Hòa nói riêng và cả nước nói chung, bước đầu đã nhìn rõ những thành quả của
chính sách đổi mới, kinh tế nông thôn phát triển nhờ ứng dụng công nghệ hiện đại trong sản
xuất nông nghiệp. Đô thị hóa cần được kiểm soát chặt chẽ bởi các cấp chính quyền từ thành
phố tới các cấp thấp hơn. Cần có những chính sách phù hợp để đô thị hóa có những tác động
tích cực tới quá trình phát triển kinh tế-xã hội theo hướng bền vững. Cùng với việc kiểm soát
quá trình dô thị hóa, cần tiếp tục phát huy và đẩy mạnh quá trình phi tập trung hóa trong kinh
tế và trong quản lí, thúc đẩy phát triển kinh tế cá thể, khuyến khích và có hỗ trợ phát triển
kinh tế tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ đặc biệt là các ngành nghề truyền thống, có
giá trị kinh tế cao.
Dựa trên những kết quả nghiên cứu, luận văn rút ra một số phân tích, nhận xét tổng hợp
về khả năng tiếp cận hệ thống giáo dục, y tế của huyện Ứng Hòa như sau:
+ Xác lập cơ sở lý thuyết trong nghiên cứu “khả năng tiếp cận” của cộng đồng dân cư
tới các cơ sở y tế, giáo dục. Đồng thời thành lập phương pháp nghiên cứu “khả năng tiếp cận”
trên cơ sở sử dụng GIS.
Ninh, thành phố Bắc Giang, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân khoa học môi trường,
Hà Nội
5. UBND TP Hà Nội, (2011), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tới năm
2030.
6. UBND TP Hà Nội, (2010), Số liệu thống kê 1945 – 2010.
7. UBND huyện Ứng Hòa, (2007), Niên giám thống kê năm 2006.
8. UBND huyện Ứng Hòa, (2008), Niên giám thống kê năm 2007.
9. UBND huyện Ứng Hòa, (2009), Niên giám thống kê năm 2008.
10. UBND huyện Ứng Hòa, (2010), Niên giám thống kê năm 2009.
11. UBND huyện Ứng Hòa, (2011), Niên giám thống kê năm 2010.
12. Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội, (2005), Báo cáo khoa học tổng
kết đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường cho những
vùng có tốc độ đô thị hóa nhanh ở Hà Nội.
Tiếng Anh
1. Jianquan Cheng, (2003), Modelling Spatial and Temporal Urban Growth,
Doctoral Dissertation in ITC, University of Twente, 202 pp.
2. Benedict J. Tria Kerkvliet, Dough J Porter, (1995), Vietnam’s Rural
Transformation, Westview Press. INC.
3. Le Van Thanh, (2007), Economic development, urbanization and environmental
changes in Ho Chi Minh City, Vietnam: relations and policies, Workshop on
Urban population, Development and Environment Dynamics in Developing
Countries, Kenya.
4. Tran Anh Tuan, Tran Van Tuan, Le Tuan An, Hoang Thanh Tung, (2007),
An assessment of healthcare system accessibility of local communities in Yen
Chau District, Son La Province. VNU Journal of Science, Earth Sciences 23, 265
– 272.
5. Liu Yun, (2004), Urban growth in Tianjin, 1993 – 2003, Master thesis in ITC,
University of Twente, 82 pp.