LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong đồ án là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị
nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đồ án này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đồ án đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà nội, ngày…. tháng…. năm 2015
Tác giả đồ án
Trịnh Thị Tố Uyên
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đồ án này.
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn ThS.Trần Xuân Biên, giảng viên Khoa
Quản lý Đất đai, Trường Đại học tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã trực tiếp
hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Khoa Quản lý
Đất Đai, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi
thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện Kinh Môn, Chi cục thống kê huyện Kinh Môn, UBND xã Thái Sơn đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện đồ án tại địa phương.
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện đề tài.
Tuy bản thân đã rất cố gắng, song bài khóa luận tốt nghiệp này không thể
: Công nghiệp
NN
: Nông nghiệp
TM – DV
: Thương mại – Dịch vụ
TTCN
: Tiểu thủ công nghiệp
UBND
: Ủy ban nhân dân
BVTV
: Bảo vệ thực vật
LĐ
: Lao động
GTSX
: Giá trị sản xuất
1. Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực,
nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là
địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an
ninh, quốc phòng. Chúng ta biết rằng không có đất thì không thể sản xuất, cũng
không có sự tồn tại của con người và đất là vị trí đặc biệt quan trọng với sản xuất
nông nghiệp.
Nông nghiệp là một hoạt động có từ xa xưa của loài người và hầu hết các
nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông
nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển
của các ngành khác. Vì vậy việc tổ chức khai thác sử dụng nguồn tài nguyên đất đai
hợp lý, có hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền
vững.
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của đất nước, tốc độ đô thị
hóa và công nghiệp hóa của nước ta diễn ra rất nhanh. Diện tích đất canh tác để sản
xuất nông nghiệp bị thu hẹp, trong khi lực lượng lao động lại tăng rất nhanh do nhu
cầu về việc làm của các khu công nghiệp, khu chế xuất. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và
đang từng bước giảm bớt tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất và xuất khẩu
các mặt hàng nông sản hàng hóa.
Tập trung vào sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm sản
phẩm, xuất phát từ cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước, thế
giới và dựa trên cơ sở khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng.
Xác định cơ cấu sản phẩm trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội
của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định cơ cấu, tỷ lệ
sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản hàng hoá.
Thái Sơn là một xã của huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Trong những năm
gần đây do quá trình xây dựng nông thôn mới quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu
6
mặt đất, giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa hết sức to lớn đối với hoạt động sản
xuất và cuộc sống của xã hội loài người (Hội khoa học đất Việt Nam, 2000).
* Khái niệm đất nông nghiệp: theo quan điểm truyền thống của người Việt
Nam thì đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như:
ngô, khoai, sắn... và những loại cây được coi là cây lương thực. Tuy nhiên, trên thực
tế việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để
8
trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy
sản hay để trồng cây lâu năm.
Như vậy có thể nói: đất nông nghiệp (ký hiệu NNP) là đất sử dụng vào mục
đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy
sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất
sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất
nông nghiệp khác (Bộ Tài nguyên và Môi Trường, 2007).
1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất
trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Nói về tầm quan
trọng của đất C.Mac viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, kho tàng cung cấp
các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể” (C.Mac
1949).
Đối với nông nghiệp: đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất là điều
kiện vật chất đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu tác động trong quá trình
sản xuất như: cày, bừa, xới, xáo...) và là tư liệu sản xuất hay công cụ lao động (sử
dụng để trồng trọt, chăn nuôi...). Quá trình sản xuất luôn có mối quan hệ chặt chẽ
với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất.
Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành
và phát triển của mọi nền văn minh, các thành tựu khoa học công nghệ đều được
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một
cách kinh tế, tập trung, thâm canh.
1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp
a. Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết...) có ảnh hưởng trực tiếp đến
sản xuất nông nghiệp. Bởi các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh
vật tạo nên sinh khối. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên trên cơ sở đó
xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng.
Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I. Theo
N.Borlang - người được giải Noben về giải quyết lương thực cho các nước phát
triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế
giới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì của
đất.
10
Điều kiện về đất đai, khí hậu thời tiết có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất
nông nghiệp. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể lợi dụng
những yếu tố đầu vào trong kinh tế, thuận lợi để tạo ra nông sản hàng hoá với giá
rẻ.
Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh doanh năng lượng ánh sáng mặt trời dựa
trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác.
11
- Yếu tố khí hậu:
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và phát
triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ, không khí
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Đất giữ cây đứng vững trong không gian, cung cấp cho cây các yếu tố sinh
trưởng như nước, dinh dưỡng và không khí. Độ phì là một trong những yếu tố quan
trọng nhất của đất. Vị trí từng mảnh đất có ảnh hưởng đến quá trình hình thành độ
phì của đất. Độ phì nhiêu của đất liên quan trực tiếp đến năng suất cây trồng. Do
vậy, tuỳ theo vị trí địa hình, chất đất mà lựa chọn, bố trí cây trồng thích hợp trên
từng loại đất mới cho năng suất, hiệu quả sử dụng đất cao.
- Yếu tố cây trồng:
Trong sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng là yếu tố trung tâm. Con người
hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng. Những sản phẩm này cung cấp
lương thực cho các nhu cầu thiết yếu cho con người và cho xuất khẩu.
Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất đem lại những giá trị
cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và môi trường đất. Ngược lại, nếu cây
trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không những gây thất thu cho
người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất.
Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học, kỹ thuật,
các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn
xuất hiện ngày càng nhiều. Sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển gắn với việc
tăng hệ số sử dụng đất. Vì vậy, những tiến bộ trong công tác giống cây trồng đã tạo
cơ hội cho việc phát triển nông nghiệp hàng hoá.
b. Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội
- Yếu tố con người:
Con người là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất. Khi dân
số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp còn ở mức
hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp
được đảm bảo. Ngược lại, ngày nay khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các
nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt
năng suất và hiệu quả cao hơn. Vì vậy, quy luật sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm,
tính bền vững tài nguyên đất kém hơn . Việc đảm bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo
làm và xoá đói giảm nghèo, khuyến nông... thực sự đã giúp ích rất nhiều trong quá
trình sử dụng đất nông nghiệp của những người nông dân.
Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hoá, người
nông dân thường chịu thiệt thòi do hạn chế về kiến thức thị trường, thông tin thị
trường, sức mua... hơn nữa các hiệu ứng tràn ra ngoài trong sản xuất nông nghiệp
14
cũng làm cho sản xuất không hiệu quả: việc sử dụng bừa bãi phân hoá học thuốc trừ
sâu, thuốc trừ cỏ... có tác động tiêu cực đến môi trường, nguồn nước không khí và
đất. Do vậy, việc Nhà nước can thiệp bằng các chính sách và pháp luật thích hợp đã
tạo điều kiện, khuyến khích, hướng dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm bảo tính bền
vững của các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp.
Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo
ổn định và lâu dài. Trong những năm qua, Chính phủ đã không ngừng ban hành sửa
đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai nhằm mục đích thúc đẩy sự
phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn. Luật đất đai sửa đổi (chính thức có hiệu
lực vào ngày 1/7/2003) đã thể chế hoá và nới rộng quyền của người sử dụng đất.
Đây là một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn,
thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất hàng hoá một cách có hiệu quả.
Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng pháp luật công nhận quyền sử dụng
lâu dài đối với đất. Người sử dụng đất không chỉ được quyền sử dụng lâu dài mà
còn được quyền thừa kế những đầu tư trên đất. Điều đó đã trở thành động lực quan
trọng trong phát triển nông nghiệp. Nó làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên
đất, sử dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế
so sánh của từng vùng, từng miền. Thực tế cho thấy, chính sách về đất đai thông
thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng
vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản xuất cây
việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp như giống
cây trồng vật nuôi mới, các quy trình kỹ thuật trong canh tác, trong chế biến bảo
quản… làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng vật nuôi, tăng hiệu quả sử dụng
nguồn lực như đất đai, lao động, vốn.
Lựa chọn các tác động khoa học kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử
dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật sẽ đạt được mục
tiêu đề ra.
1.2.3. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam
1.2.3.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Trên thế giới đất đai phân bố ở các châu lục không đều. Tuy có diện tích đất
nông nghiệp khá cao so với các châu khác nhưng Châu Á lại có tỉ lệ diện tích đất
nông nghiệp trên diện tích tự nhiên thấp và lại là khu vực có tỉ lệ dân số đông trên
thế giới. Có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới như: Trung Quốc, ấn Độ,
16
Indonexia. Ở Châu Á đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích, tiềm năng đất trồng trọt
nhờ nước trời là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang
được trồng trọt.
Theo kết quả điều tra của FAO,1992. Trên thế giới hàng năm có khoảng 15%
diện tích đất bị suy thoái vì lý do tác động con người, trong đó suy thoái vì xói mòn
do nước chiếm khoảng 55,70% diện tích, do gió 28% diện tích, mất chất dinh
dưỡng do rửa trôi 12,20% diện tích. Ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280
triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng;
6,67 triệu ha đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy và một số yếu tố khác chiếm
14,10% diện tích. Tại khu vực châu Á Thái Bình Dương có khoảng 860 ha đất đã bị
hoang mạc hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người. Do chế độ canh
tác không tốt đã gây xói mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở
vùng nhiệt đới và vùng đất dốc. Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục:
nông nghiệp giảm 21,5%.
Vì vậy, vấn đề đảm bảo lương thực, thực phẩm trong khi diện tích đất nông
nghiệp ngày càng giảm đang là một áp lực rất lớn. Do đó việc sử dụng hiệu quả
nguồn tài nguyên đất nông nghiệp càng trở nên quan trọng đối với nước ta.
Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du miền
núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca. Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không
bị thoái hoá thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung thường xuyên.
Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp
lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hoá đất
như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân
canh với cây họ đậu. Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập
trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất.
Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân
bón còn nhiều hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới
môi trường. Tadon H.L.S chỉ ra rằng “sự suy kiệt đất và các chất dự trữ trong đất
cũng là biểu hiện thoái hoá về môi trường, do vậy việc cải tạo độ phì của đất là
đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên và còn hơn nữa cho chính môi
trường”.
Tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp năm 2013 của cả nước so với năm
2010 tăng 184,4 ha, trong đó tăng chủ yếu ở loại đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp, tình hình tăng giảm các loại đất nông nghiệp được thể hiện cụ thể qua bảng
18
1.1 như sau:
19
26.100,1
26.280,5
(nghìn ha)
184,4
Đất sản xuất nông nghiệp
Đất trồng cây hàng năm
Trong đó: Đất trồng lúa
Đất trồng cây lâu năm
Đất lâm nghiệp
Đất rừng sản xuất
Đất rừng phòng hộ
Đất rừng đặc dụng
Đất nuôi trồng thủy sản
Đất làm muối
Đất nông nghiệp khác
SXN
CHN
LUA
CLN
LNP
RPH
RSX
RDD
NTS
LMU
+124,1
+17,2
+108,0
-1,0
+21,8
+0,4
+1,1
(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014 )
Như vậy diện tích đất trồng lúa của nước ta năm 2014 là 4.092,8 nghìn ha, so
với năm 2010 đã giảm -34,9 nghìn ha, trong đó, giảm nhiều nhất ở đồng bằng sông
Hồng, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là
2,1%, ở nhiều vùng khác dưới 0,5%. Điều đáng nói là phần lớn các sân golf ở Việt
Nam đều nằm trên những khu đất trước kia vốn là đất canh tác nông nghiệp. Một
nguyên nhân nữa làm đất nông nghiệp bị thu hẹp là do các quyết định thu hồi đất
nhằm mục đích khác như xây dựng công viên nghĩa trang hiện nay cũng đáng báo
động khi triển khai các dự án này chiếm dụng đất nông nghiệp rất lớn. Đồng thời
các thảm hoạ thiên nhiên cũng là một trong những nguyên nhân làm cho diện tích
đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp ở nước ta hiện nay.
Ô nhiễm đất nông nghiệp ngày càng thêm trầm trọng.
Ô nhiễm môi trường đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay đang là vấn đề
nghiêm trọng. Các nguyên nhân ô nhiễm đất nông nghiệp hiện nay gồm những
nguyên nhân chủ yếu sau: ô nhiễm đất vì nước thải sinh hoạt, nước thải công
nghiệp, ô nhiễm đất vì chất phế thải bởi các nguồn chất thải rắn, ô nhiễm đất do sử
dụng phân bón hoá học và nông dược trong canh tác sản xuất nông nghiệp. Thuốc
20
trừ sâu đồng thời với việc diệt các côn trùng gây hại, còn dẫn đến ngộ độc đất đai
ảnh hưởng đến môi trường đất của nước ta hiện nay.
lao động; kĩ thuật, kiến thức và quan điểm.
- Thuộc tính kỹ thuật và quản lý: sở hữu đất đai và quy mô quản lý đất; sức
kéo/cơ giới hóa; các đặc điểm trồng trọt, đầu tư vật tư, công nghệ được sử dụng
năng suất và sản lượng; thông tin kinh tế có liên quan đến đầu vào và đầu ra.
- Thuộc tính về cơ sở hạ tầng: các yêu cầu về hạ tầng cơ sở.
Không phải tất cả các thuộc tính trên đều được đề cập đến như nhau trong
trong các dự án LE mà việc lựa chọn các thuộc tính và mức độ mô tả chi tiết phụ
thuộc vào tình hình sử dụng đất của địa phương cũng như cấp độ, yêu cầu chi tiết và
mục tiêu của mỗi dự án LE khác.
1.3.2. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Đất nông nghiệp là một tài nguyên quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của mỗi quốc gia. Muốn quy hoạch và sử dụng nguồn tài nguyên đất này một cách
hiệu quả, cần đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất để tìm ra lời giải cho các vấn
đề như: diện tích các loại đất nông nghiệp bằng bao nhiêu? Cơ cấu mỗi loại đất như
thế nào? Đất nông nghiệp đang được sử dụng ra sao? Hiệu quả sử dụng cao hay
thấp? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp? Giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp...
Việt Nam là một nước nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp có vai trò đặc
biệt quan trọng. Trong những năm qua dù đã có nhiều đổi mới phù hợp với điều
kiện thực tế hơn, diện tích đất nông nghiệp có sự tăng đáng kể theo thời gian, song
diện tích đất lúa lại giảm đi, kèm theo đó công tác quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt
là đất nông nghiệp vẫn còn nhiều bất cập, dẫn đến hiệu quả sử dụng đất thấp, gây
lãng phí lớn. Nhiều diện tích đất nông nghiệp đã chuyển mục đích sử dụng nhưng
vẫn bỏ hoang trong khi có biết bao nhiêu người dân phải rơi vào cảnh thiếu đất sản
xuất.
Cũng do việc quản lý và sử dụng còn nhiều bất cập nên nguồn thu từ đất đai
cũng rất hạn chế. Theo báo cáo Bộ tài chính, thuế đất không tạo ra nguồn thu đáng
kể, tổng các nguồn thu từ đất của nước ta chỉ chiếm khoảng từ 5 - 8% tổng thu ngân
sách nhà nước, trong đó chủ yếu là tiền sử dụng đất. Đây là mức thấp so với các nước
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Trước đây, người ta thường quan
niệm kết quả chính là hiệu quả. Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khác nhau giữa
hiệu quả và kết quả. Nói một cách tổng quát và chung nhất thì hiệu quả chính là kết
quả như yêu cầu của công việc mang lại.
23
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi
hướng tới nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là
hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao
động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời
gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm
được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian.
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích
của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất
mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta
phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa
lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất
lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh
doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả.
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng
đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động
kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền. Đồng thời về
mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá trình hoạt động kinh
tế để khai thác sử dụng đất. Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả
kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải
coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là
các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…)