1
Học viện tài chính
1
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong khóa luận tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực
tế của đơn vị thực tập.
Tác giả khóa luận tốt nghiệp
(Ký và ghi rõ họ tên)
Vũ Thị Vân Anh
SV: Vũ Thị Vân Anh
Lớp: CQ49/15.04
2
Học viện tài chính
2
Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Lớp: CQ49/15.04
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
DPRR
GTCG
NHNN
NHTM
NHTW
TMCP
TCKT
TCTD
UBND
VCSH
XNK
4
Trang
31
34
35
36
38
39
41
44
45
5
Học viện tài chính
5
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1:
Hình 2.2:
Hình 2.3:
Cơ cấu tổ chức Vietcombank - chi nhánh Hà Nội
Tình hình huy động vốn giai đoạn 2012 – 2014
Chi phí huy động vốn
ngân hàng đó là hoạt động huy động vốn.
Việc nghiên cứu, tìm hiểu quá trình huy động tiền vốn, tìm hiểu quá trình
kinh doanh để có những phương án huy động vốn linh hoạt, mang tính cạnh
tranh là hết sức cần thiết và cần phải được các ngân hàng quan tâm đúng mức.
Nhận thức được điều này, sau quá trình nghiên cứu thực tiễn tại Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội, em đã chọn đề tài: “Giải
pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương
Việt Nam – chi nhánh Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Về kết cấu: Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài được chia làm
3 chương:
SV: Vũ Thị Vân Anh
Lớp: CQ49/15.04
7
Học viện tài chính
Khóa luận tốt nghiệp
Chương I: Những vấn đề cơ bản về huy động vốn của ngân hàng thương
mại.
Chương II: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương
Việt Nam – chi nhánh Hà Nội.
Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã rất cố gắng nhưng do còn nhiều
hạn chế về trình độ hiểu biết, kinh nghiệm thực tế, hạn chế về thời gian nghiên
kinh doanh của ngân hàng mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế – xã hội. Vậy, nguồn vốn của NHTM là gì?
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập và
huy động được để đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
Thực chất, nguồn vốn của ngân hàng là một bộ phận của thu nhập quốc
dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, người chủ
sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng với mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu
tư. Nói cách khác, họ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho ngân hàng để ngân
hàng trả lại cho họ một khoản thu nhập.
SV: Vũ Thị Vân Anh
Lớp: CQ49/15.04
9
Học viện tài chính
Khóa luận tốt nghiệp
Nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập và huy động được không những giúp cho
ngân hàng tổ chức được mọi hoạt động kinh doanh mà còn góp phần quan trọng
trong việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng
cũng như sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung.
1.1.2 Kết cấu nguồn vốn của NHTM
Nguồn vốn của NHTM được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như:
vốn chủ sở hữu, vốn huy động và các loại vốn khác.
1.1.2.1 Vốn chủ sở hữu
là ngân hàng cổ phần thì các cổ đông góp vốn thông qua việc mua cổ phần hoặc
cổ phiếu của ngân hàng.
- Lợi nhuận giữ lại: Khi hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận thì ngân
hàng có thể chuyển một phần lợi nhuận thành nguồn vốn nhằm tái đầu tư. Lượng
vốn tích lũy tư thu nhập tùy theo chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong thời
gian tới cũng như cân nhắc của chủ ngân hàng về tích lũy và tiêu dùng. Tỉ lệ giữ
lại này tuỳ thuộc vào sự cân nhắc quyết định của chủ ngân hàng và tuỳ thuộc vào
nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng trong các thời kì cụ thể.
- Các quỹ dự trữ: Để đảm bảo duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh
của mình, các NHTM trong quá trình hoạt động đã trích lập các quỹ: quỹ đầu tư
phát triển nghiệp vụ ngân hàng, quỹ bổ sung vốn điều lệ: có mục đích tăng cường
số vốn tự có ban đầu. Việc trích lập và sử dụng các quỹ này của ngân hàng được
thực hiện theo quy định của pháp luật trong từng thời kì cụ thể.
Vốn bổ sung
- Phần chênh lệch do đánh giá lại tài sản, nguồn vay nợ có thể chuyển đổi
thành cổ phiếu thường: các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng mà có khả
năng chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận vốn sở hữu
của ngân hàng do nguồn này có một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu
tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn.
- Dự phòng rủi ro: DPRR tín dụng được các NHTM trích lập từ thu nhập
trước hoặc sau thuế (theo quy định của từng quốc gia) theo một tỷ lệ nhất định
nào đó. Khoản trích lập này là quan trọng và cần thiết cho hoạt động ngân hàng,
vì trong nền kinh tế thị trường không thể tránh khỏi những rủi ro bất khả kháng
có thể xảy ra, khi đó, ngân hàng có thể trích các quỹ để bù đắp.
SV: Vũ Thị Vân Anh
Lớp: CQ49/15.04
một thời gian nhất định.
SV: Vũ Thị Vân Anh
Lớp: CQ49/15.04
12
Học viện tài chính
Khóa luận tốt nghiệp
Cùng với nguồn vốn huy động từ nhận tiền gửi, nguồn vốn huy động thông
qua việc phát hành GTCG cũng giữ một vị trí quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn
trong toàn bộ vốn kinh doanh của TCTD. Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng lớn
đến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của TCTD.
Vốn đi vay
Để đảm bảo khả năng thanh toán của mình, các NHTM có thể huy động
bằng cách vay các TCTD khác thông qua thị trường nội địa ngoại tệ liên ngân
hàng. Việc thực hiện quan hệ tín dụng giữa các NHTM phải được tiến hành theo
nguyên tắc “đi vay – cho vay” và phải được thỏa thuận trên cơ sở hợp đồng tín
dụng, vốn đi vay phải đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố (tiền mặt tại chỗ và các
giấy tờ có giá). Các NHTM đi vay chấp hành đầy đủ các nguyên tắc dự trữ bắt
buộc và an toàn vốn, phải có tài khoản tiền gửi thanh toán hoạt động thường
xuyên tại NHTW. Khi các NHTM vay mượn của nhau mà vẫn thiếu vốn hoặc
khả năng thanh toán bị đe dọa, các NHTM thực hiện vay vốn tại NHTW để tạo
thêm nguồn vốn bổ sung cho hoạt động kinh doanh của mình. Nguồn vốn của
NHTW là nguồn vốn cuối cùng đảm bảo khả năng thanh toán bình thường cho
các NHTM.
với nguồn vốn huy động dồi dào sẽ hoàn toàn tự quyết trong hoạt động kinh
doanh của mình, nắm bắt được các cơ hội kinh doanh. Nguồn vốn huy động dồi
dào cũng giúp ngân hàng đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán
rủi ro và thu được lợi nhuận cao vì mục tiêu an toàn và hiệu quả. Vậy vốn là cơ
sở để ngân hàng tạo ra thế chủ động trong kinh doanh.
Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh: Đối
với ngân hàng, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Với đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh
doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM. Ngân hành
là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường đó là tiền tệ.
Chính vì thế có thể nói: Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của
ngân hàng. Do đó, ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng
vốn trong suốt quá trình hoạt động.
SV: Vũ Thị Vân Anh
Lớp: CQ49/15.04
14
Học viện tài chính
Khóa luận tốt nghiệp
Vốn quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác: Tuỳ theo quy mô
và cơ cấu nguồn vốn huy động được mà các ngân hàng sẽ quyết định quy mô và
cơ cấu đầu tư. Với nguồn vốn huy động lớn, ngân hàng có đủ khả năng mở rộng
phạm vi và khối lượng cho vay không chỉ giới hạn trên thị trường trong nước mà
còn cho vay vượt ra khỏi lãnh thổ một quốc gia (cho vay trên thị trường quốc tế).
Khóa luận tốt nghiệp
hợp lý nhằm thu hút được khách hàng. Với năng lực tài chính vững mạnh,
ngân hàng sẽ chủ động huy động vốn với lãi suất thấp nhất nhưng cho vay
với lãi suất cao nhất có thể nhằm tối đa hoá được lợi nhuận nhưng vẫn đảm
bảo thu hút được khách hàng về ngân hàng mình.
1.2 Các cách thức huy động vốn của NHTM
1.2.1 Huy động tiền gửi
Trong các hình thức huy động vốn của TCTD, đây là phương thức huy
động vốn cổ xưa nhất và cho đếm hiện nay nó vẫn là hình thức huy động vốn
quan trọng nhất về mặt kinh tế và chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy
động ở mỗi TCTD.
Căn cứ vào các loại hình tiền gửi này có thể tạm phân chia thành các hình
thức huy động vốn như sau:
1.2.1.1 Huy động tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi được khách hàng gửi vào các TCTD
để thực hiện các khoản chi trả, thanh toán hoặc vì mục đích đảm bảo an toàn cho
tài sản của họ. Tiền gửi không kì hạn là khoản tiền gửi đang chờ thanh toán hoặc
nhằm đáp ứng nhu cầu rút tiền tức thời của khách hàng, đây không phải là số tiền
mà khách hàng để dành nên khách hàng có thể rút hoặc sử dụng để thanh toán bất
kì lúc nào theo yêu cầu. Loại tiền gửi này thường cũng được chia thành 2 loại:
Tiền gửi thanh toán: Mục đích chính của khoản tiền gửi này là tạo ra
phương tiện thanh toán cho khách hàng. Vì tính không ổn định của nó nên tài
khoản này thường không được trả lãi hoặc được trả lãi nhưng với lãi suất rất thấp
và cũng chính vì tính không ổn định này mà để đảm bảo an toàn tín dụng các
ngân hàng phải có một tỉ lệ dự trữ khá cao để thực hiện thanh toán. Đối với
SV: Vũ Thị Vân Anh
Lớp: CQ49/15.04
trên thực tế để thu hút khách hàng gửi lọai tiền gửi này, các TCTD có thể cho
phép khách hàng được rút tiền trước hạn (nếu số tiền rút ra lớn thì phải thông báo
trước với TCTD một vài ngày) trong trường hợp này người gửi tiền được hưởng
SV: Vũ Thị Vân Anh
Lớp: CQ49/15.04
17
Học viện tài chính
Khóa luận tốt nghiệp
mức lãi suất thấp, đôi lúc là lãi suất phạt. Tiền gửi có kì hạn là loại tiển gửi mang
tính ổn định, nên các TCTD thường chú trọng các biện pháp kích thích để huy
động loại tiền gửi này. Phổ biến nhất vẫn là phương thức làm đa dạng hóa các
loại hình tiền gửi này, đặc biệt việc đưa ra nhiều kì hạn thanh toán để đáp ứng
nhu cầu khách hàng, đối với mỗi loại kì hạn áp dụng các mức lãi suất khác nhau,
thường thì kì hạn càng dài, lãi suất càng cao. Ngoài ra kèm theo các hợp đồng
này là các dịch vụ hậu mãi của các NHTM dành cho khách hàng… Một phương
thức hạn chế nhưng rất thịnh hành trong giai đoạn gần đây của thị trường tài
chính Việt Nam là cạnh tranh về lãi suất huy động vốn. Đây là phương thức dễ
dàng thu hút sự quan tâm của khách hàng nhất.
Đặc tính quan trọng nhất của khoản tiền gửi này là có tính an toàn cao,
tính ổn định khá cao do thời gian hoàn vốn đã được xác định trước, các ngân
hàng sẽ có cơ sở rất chắc chắn cho việc hoạch định chiến lược quản trị nguồn
vốn của mình. Chính vì vậy, các NHTM thường chủ động hơn khi sử dụng nguồn
vốn này, dự trữ thấp, nhiều lợi nhuận hơn… Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của nó
tính chất không ổn định của nó nên ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và
khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Vì vậy, ngân hàng thường trả
lãi suất thấp cho loại tiền gửi này.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ
có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận
tiền gửi tiết kiệm.
Có thể nói, xét về giá trị, các khoản tiết kiệm thường nhỏ hơn so với các
loại tiền gửi khác nhưng số lượng khá nhiều, vì vậy, nếu xét về tổng thể, đây vẫn
là một nguồn vốn khá tiềm năng của các NHTM. Trên thực tiễn, các sản phẩm
tiền gửi tiết kiệm rất phong phú và đa dạng, đây là một phương cách thu hút
lượng khách hàng của các NHTM, đáp ứng nhu cầu đa dạng và biến đổi thường
xuyên của nhóm khách hàng đông đảo này. Mục tiêu quan trọng của họ khi lựa
chọn hình thức này là lợi tức có được theo định kỳ, do vậy, lãi suất đóng vai trò
quan trọng để thu hút được khách hàng. Nhìn chung, đặc trưng chính của nguồn
vốn này là có độ ổn định cao, tuy nhiên, mặt trái kèm theo của nó là chi phí huy
động vốn khá cao.
SV: Vũ Thị Vân Anh
Lớp: CQ49/15.04
19
Học viện tài chính
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.2 Phát hành giấy tờ có giá
Các NHTM nhận thấy rằng, người gửi tiền rất nhạy cảm với những thay
Học viện tài chính
Khóa luận tốt nghiệp
tư chứng khoán, kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ mà các nguồn huy động khác
chưa đáp ứng được.
Chứng chỉ tiền gửi: Chứng chỉ tiền gửi là công cụ vay nợ do ngân hàng
phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường theo đó người sở hữu được hưởng
các khoản lãi suất và được hoàn trả khi đến hạn.
Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi rất đa dạng, có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6
tháng, hoặc có thể đến 5 năm, 7 năm... Lãi suất của chứng chỉ tiền gửi được ngân
hàng ấn định dựa trên lãi suất cạnh tranh của thị trường tiền tệ, tình trạng tài
chính của người phát hành và thời hạn của chứng chỉ. Sự khác biệt chủ yếu giữa
chứng chỉ tiền gửi và các khoản tiền gửi có kỳ hạn là chúng có thể chuyển
nhượng và mệnh giá được thống nhất theo một mức giá chuẩn.
1.1.3 Vốn đi vay
Nguồn vốn này thường chiếm tỉ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn của
NHTM nhưng nó đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với sự an toàn và hoạt
động bình thường của các ngân hàng. Tuy nhiên các ngân hàng nên chỉ xem nó là
cứu cánh mang tính tạm thời và tuyệt đối không lệ thuộc vào nó, chỉ nên sử dụng
để đáp ứng những mục tiêu thanh toán mang tính tức thời, tức ngân hàng không
có khả năng dự tính được khả năng phát sinh của nó. Vì thực tế, nguồn vốn này
thường có chi phí khá cao, mức lãi suất lại thường vô cùng nhạy cảm với diễn
biến của lãi suất thị trường.
- Vốn vay của các TCTD khác: Mỗi ngân hàng là một kênh lưu chuyển
vốn, các dòng vốn này thông nhau qua sự tương quan của nó với NHTW và thị
trường tài chính. Dù rất thận trọng trong việc cho vay, NHTM cũng khó tránh
khỏi có lúc thiếu khả năng chi trả hoặc quá kẹt tiền mặt. Lúc đó, các NHTM
thường cần có một nguồn vốn khá lớn và đặc biệt là tức thời, trong tình cảnh đó,
đẩy mạnh hiệu quả của công tác huy động vốn.
Từ khi các ngân hàng ra đời thì nghiệp vụ huy động vốn đã gắn liền với
các hoạt động của nó. Hiệu quả công tác huy động vốn được các ngân hàng quan
tâm không chỉ vì nó là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng mà còn là vì
nó là một trong những hoạt động chủ yếu mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân
hàng. Do đó trong mọi giai đoạn, nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn luôn
là vấn đề được các NHTM chú trọng.
SV: Vũ Thị Vân Anh
Lớp: CQ49/15.04
22
Học viện tài chính
Khóa luận tốt nghiệp
Các NHTM hoạt động trên thị trường với tư cách là các trung gian tài
chính với chức năng chủ yếu là phân phối lại tiền tệ trong xã hội, thúc đẩy nền
kinh tế không ngừng phát triển. Hoạt động huy động vốn chính là việc thu hút
các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để rồi sau đó ngân hàng phân phối đến nơi
thiếu vốn. Làm công tác huy động vốn cũng đồng nghĩa với ngân hàng làm tốt
nhiệm vụ quan trọng nhất của mình. Cho nên mọi NHTM đều ý thức được sự cần
thiết của việc đẩy mạnh hiệu quả huy động vốn.
Như vậy có thể kết luận: hiệu quả huy động vốn là việc thực hiện tốt công
tác huy động nhằm tạo cho ngân hàng một lượng vốn đầy đủ trong hoạt động sản
xuất kinh doanh với chi phí hợp lí.
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn
khác nhau trong đó có cả nội tệ, ngoại tệ và với mức lãi suất khác biệt tương ứng
sao cho người gửi tiền chấp nhận được và cảm thấy hợp lý. Nếu những ngân
hàng có quan hệ quốc tế rộng thì nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ phải lớn,
hay nếu có chiến lược sử dụng vốn để cho vay dài hạn thì cần tăng cường huy
động vốn trung và dài hạn.
1.3.2.2 Quy mô của nguồn vốn
Công tác huy động vốn không thể có hiệu quả khi mà nguồn vốn huy động
được lại không đạt được quy mô nhất định theo kế hoạch huy động của ngân
hàng hay không đáp ứng nổi nhu cầu về khối lượng vốn cho kinh doanh. Khối
lượng vốn huy động phản ánh quy mô vốn. Quy mô vốn lớn sẽ tạo điều kiện cho
ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Trong tổng nguồn vốn của
ngân hàng thì quy mô vốn huy động là một bộ phận chiếm tỷ trọng cao nhất và
có vai trò quan trọng hơn cả. Sau khi đã huy động được khối lượng vốn lớn thì
cái mà ngân hàng cần quan tâm lúc này là tốc độ tăng trưởng ổn định của nó vì
có thể lúc này quy mô vốn lớn, nhưng sẽ là khó khăn cho ngân hàng khi đưa ra
quyết định cho vay hay đầu tư nếu ngân hàng không kiểm soát, không dự đoán
được xu hướng biến động của dòng tiền rút ra và dòng tiền gửi vào.
Tốc độ tăng
Số dư vốn huy động BQ kì này
trưởng nguồn vốn = (
- 1) x 100%
Số dư vồn huy động BQ kì trước
huy động (%)
NHTM kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế, do
vậy chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động là cơ sở đánh giá khả năng
SV: Vũ Thị Vân Anh
Lớp: CQ49/15.04
Tổng nguồn vốn huy động
Lãi suất huy động là cơ sở để xác định chi phí đối với khoản vốn huy động
từ người gửi tiền, là một trong những nhân tố chính để xác định lãi suất cho vay
đầu ra.
Chi phí khác: Bên cạnh chi phí chính là lãi suất, trong quá trình huy động
vốn còn có các chi phí khác như chi phí tiền lương cho cán bộ huy động, chi phí
SV: Vũ Thị Vân Anh
Lớp: CQ49/15.04
25
Học viện tài chính
Khóa luận tốt nghiệp
in ấn phát hành, chi phí cơ sở vật chất, chi phí giao dịch quảng cáo… Tuy chi phí
này chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ nhưng nếu tiết kiệm được cũng góp phần
giảm bớt gánh nặng cho ngân hàng.
1.3.2.4 Sự cân đối của nguồn vốn huy động
Cơ cấu vốn của ngân hàng cần có sự hợp lý giữa các nguồn vốn huy động
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, giữa vốn ngoại tệ và vốn nội tệ. Đối với ngân
hàng, do mỗi nguồn vốn có những điểm mạnh, điểm yếu riêng trong việc khai
thác và huy động nên cơ cấu vốn biến đổi sẽ dẫn tới sự biến đổi trong cơ cấu
“đầu ra”: cho vay, đầu tư, bảo lãnh và kéo theo sự thay đổi trong lợi nhuận, rủi ro
trong hoạt động kinh doanh. Cơ cấu nguồn vốn huy động phụ thuộc không chỉ
vào một phần kế hoạch của ngân hàng mà còn chịu sự tác động của các nhân tố
bên ngoài đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu tiếp cận thị trường.