MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM HUY ĐỘNG TRẺ VÀO
BÁN TRÚ Ở TRƯỜNG MẦM NON VÙNG KHÓ KHĂN DTTS
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc
học đầu tiên, mở đầu cho các bậc học tiếp theo. Nhiệm vụ quan trọng của GDMN
là hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa
và tạo tiền đề vững chắc cho trẻ khi bước vào trường tiểu học. Như vậy việc chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non là vô cùng cần thiết trong quá
trình đào tạo nhân cách con người, giúp trẻ phát triển một cách toàn diện. Phát
triển GDMN là nền tảng cho sự nghiệp phát triển nguồn lực con người phục vụ
cho mục tiêu phổ cập GD Tiểu học, Phổ cập Trung học cơ sở và tiến tới Phổ cập
Trung học phổ thông.
Việc tổ chức cho trẻ ăn trưa tại trường, nhất là tại các điểm trường vùng
DTTS, có vai trò hết sức quan trọng: Tỉ lệ huy động trẻ đi học chuyên cần ngày
một nâng cao rõ rệt, chất lượng bữa ăn đảm bảo góp phần giảm tỉ lệ trẻ suy dinh
dưỡng; việc trẻ ăn ngủ cùng cô tại trường nhằm gắn kết tình cảm giữa cô và trẻ,
giáo viên có nhiều thời gian giao lưu trò chuyện với trẻ bằng tiếng phổ thông từ đó
chất lượng chăm sóc, giáo dục được nâng lên, tạo sự công bằng trong giáo dục cho
các trẻ học ở các điểm trường cũng như điểm trường trung tâm.
Việc tổ chức cho trẻ ăn trưa tại trường đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu
số góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của địa phương, thay vào hàng
ngày người dân đưa trẻ đi nương rẫy hay phải chuẩn bị bữa ăn cho trẻ tại nhà, nay
người dân đã hoàn toàn yên tâm cho con em mình ăn ngủ tại trường từ sáng đến
chiều để yên tâm lao động, sản xuất, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Trường Mầm non Hoa Pơ Lang thuộc xã Dur Kmăn là một xã vùng khó
khăn của Huyện Krông Ana. với Dân số toàn xã có 1.519 hộ với 7.129 khẩu, trong
đó có 7 dân tộc anh em cùng sinh sống( chiếm 46,21% dân số là đồng bào dân tộc
thiểu số và tại chỗ). là đồng bào DTTS nên còn nhiều hủ tục lạc hậu, đa số Cha
mẹ Học sinh chưa hiểu hết tầm quan trọng của GDMN, đặc biệt nhiều gia đình
chưa dạy trẻ biết tiếng phổ thông, mọi giao tiếp hoàn toàn bằng tiếng mẹ đẻ dẫn
vào bán trú ở trường mầm non vùng khó khăn DTTS tại trường Mẫu giáo Hoa Pơ
Lang.
4. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và kiến thức của bản thân có hạn Nội dung nghiên cứu chỉ
trong phạm vi hẹp đó là Nghiên cứu, đề ra một số biện pháp quản lý nhằm huy
động trẻ vào bán trú ở trường mầm non vùng khó khăn DTTS tại trường Mẫu giáo
Hoa Pơ Lang, của xã Dur Kmăn huyện Krông Ana.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài ngiên cứ nà thành công, tôi đã thực hiện các phương
pháp sau:
a. Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Tôi sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu thêm những kiến thức và luận
chứng để lý giải vấn đề nghiên cứu.
b. Phương pháp điều tra.
2
Phương pháp điều tra nghiên cứu từ thực tế hình thức tổ chức dạy học, công
tác tổ chức bán trú trong trường Mầm non.Thống kê số liệu những năm học trước,
phân tích những nguyên nhân dẫn đến việc huy động trẻ ra lớp thấp
c. Phương pháp phân tích.
Dựa trên những chứng cứ đã nghiên cứu, kết hợp với luận chứng của đề tài,
phân tích các yếu tố và đưa ra những lý giải của vấn đề.
C Phương pháp tổng hợp :
Tiến hành tổng hợp và kết luận về nội dung nghiên cứu. Từ đó có cơ sở để đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học bán trú trong trường
Mầm non. Ngoài ra tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp khác để bổ sung
cho quá trình nghiên cứu của đề tài. Tiếp xúc trao đổi vận động các tổ chức, ban
ngành đoàn thể và tuyên truyền tới các bậc cha mẹ học sinh về việc cần thiết phải
Tiếp tục công tác chăm sóc giáo dục trẻ, làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng mà
vấn đề cốt lõi là: Làm sao để huy động phụ huynh gửi con vào bán trú đạt chỉ tiêu,
yêu cầu của trường chuẩn quốc gia, trường tiên tiến xuất sắc. Để thực hiện các chỉ
tiêu đó cũng như sự mong đợi của lãnh đạo các cấp và nhân dân trong toàn xã.
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy: sự tăng tốc
trong qua trình phát triển thể lực của trẻ phụ thuộc vào mối liên quan chặt chẻ giửa
dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe còn việc hình thành các kỹ năng vận động thô,
vận động tinh, sự khéo léo và phối hợp các giác quan phụ thuộc rất nhiều vào môi
trường GD cũng như quá trình tự rèn luyện của đứa trẻ có sự định hướng của
người lớn.
Cơ sở chính trị và và pháp lý:
Ngay từ luật GD năm 1998, chúng ta thấy Đảng và nhà nước ta đã thực sự
coi trọng GDMN, coi GDMN là nền móng then chốt chất lượng cho các bậc học
tiếp theo. do vậy, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra mục tiêu, chiến
lược phát triển GDMN giai đoạn 2001-2020, mục tiêu được đặt ra đến năm 2020
là " xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học MN cho hầu hết trẻ em trong độ
tuổi" đồng thời mục tiêu cụ thể là phải đảm bảo hầu hết trẻ 5 tuổi được học
chương trình MG lớn chuẩn bọ vào lớp 1.
Quyết định 161.2002/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính
sách phát triển GDMN cũng nêu rõ" ưu tiên phát triển GDMN ở nơi có điều kiện
khó khăn, các vùng nứi cao, vùng đồng bào dân tộc giảm sự chênh lệch về chất
lượng giữa vùng khó khăn và các địa bàn thuận lợi khác"
2. Thực trạng
- Trường Mẫu giáo Hoa Pơ Lang được thành lập năm 1996 thuộc xã Dur
Kmăn; thuộc vùng đặc biệt khó khăn, được phong tặng xã Anh hùng Lực lượng vũ
trang năm 2002; Đa số nhân dân là đồng bào DTTS; đời sống kinh tế của người
dân còn nhiều khó khăn. Chủ yếu là trồng cây lúa nước. Nhà trường gồm có 8
điểm học nằm rãi rác ở các thôn buôn
* Đặc điểm về đội ngũ cán bộ GVNV:
- Tổng số có 42 cán bộ GVNV, trong đó: BGH có 03 đ/c, GV có 34 đ/c,
- Trường có 7 điểm học cách xa nhau. Đường sá đi lại khó khăn, phức tạp;
mùa mưa lầy lội; có điểm học đã xa mà lại phải vượt qua đèo khúc khuỷu…
- Cơ sở vật chất do sử dụng đã trên 20 năm và xây dựng không cùng giai
đoạn nên chất lượng đã xuống cấp trầm trọng và quy mô cũng chưa phù hợp mầm
non.
- Điều kiện kinh tế của nhân dân trong xã còn nghèo, công tác xã hội hóa
gặp nhiều khó khăn, ngoài tiền hỗ trợ ăn trưa của nhà nước, kinh phí tổ chức ăn
bán trú cho trẻ thấp (từ 5 đến 7 ngàn đồng/ ngày) vì vậy việc thiết kế khẩu phần
ăn, thực đơn trong ngày, trong tuần gặp nhiều khó khăn.
- Điều kiện sinh hoạt của cô và trò còn nhiều hạn chế, thiếu nhà công vụ,
nơi ăn nghỉ của GV còn khó khăn.
- Số lượng giáo viên đi học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đạt
trên chuẩn còn nhiều. Giáo viên vừa đi học, vừa đi làm nên ảnh đến chất lượng
giáo dục và hiệu quả công tác. Năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề của giáo
viên không đồng đều. Nhiều giáo viên mới ra trường trình độ tay nghề còn non
5
nên cũng ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong
nhà trường.
Qua khảo sát chất lượng giáo viên đầu năm còn thấp, so với yêu cầu thì
chưa đảm bảo.
2.2 .Thành công- hạn chế
Trong khi vận dụng đề tài này vào thực tế nhà trường Mầm non Hoa Pơ
Lang: những thành công nhất định, Được sự đồng tình, ủng hộ, cùng phối hợp của
các chính quyền địa phương, đoàn thể trong và ngoài nhà trường như Công đoàn,
Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, ban đại diên cha mẹ học sinh của
trường, ban tự quản thôn buôn...
- Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, năng động, chịu khó chịu khổ đã hoàn thành
tốt nhiệm vụ được giao.
bán trú ở trường mầm non vùng khó khăn DTTS, theo tôi bước đầu đã thành công
nhờ các yếu tố chính, Sau đây là Nguyên nhân của những mặt mạnh
* Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động của người quản lý
* Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiêm túc.
* Thực hiện nghiêm túc quy trình quản lý của người Hiệu trưởng.
* Bồi dưỡng đội ngũ toàn diện về nhận thức và hành vi.
* Xây dựng ý thức tự giác, phát huy tinh thần trách nhiệm cao, làm việc vì
danh dự.
* Không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để có được những
phẩm chất đạo đức và phẩm chất năng lực của người cán bộ quản lý để hoàn thành
được nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.
Nguyên nhân của những mặt yếu:
Điều kiện kinh tế và dân trí của đồng bào DT còn hạn chế, vẫn còn nhiều
tập quán hủ tục, lạc hậu. Đa số Cha mẹ học sinh chưa hiểu hết tầm quan trọng của
việc cho trẻ trong độ tuổi mầm non ăn bán trú tại trường.
Địa bàn xã quá rộng, dân cư thưa thớt, đường xá đi lại khó khăn. Đa số
người dân làm nương rẫy cho nguồn thu nhập chính, rất nhiều gia đình đã sinh
sống theo mùa vụ, dẫn đến việc đi học của các cháu rất khó khăn và ảnh hưởng rất
lớn đến các công tác huy động trẻ ra lớp của nhà trường...
Trường có nhiều điểm lẻ, những năm đầu cơ sở vật chất của nhà trường còn
quá thiếu thốn, mượn nhờ...điều kiện chăm sóc giáo dục trẻ còn gặp nhiều khó
khăn dẫn đến chất lượng chưa cao.
Đề tài đã được nghiên cứu, áp dụng từ năm học 2013-1014. năm học 20142015 và năm học này 2015-2016 đã thu được kết quả đáng kể, tuy nhiên để đề tài
đạt hiệu quả cao hơn, năm học 2015-2016 này tôi tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và
đưa vào áp dụng thêm một số biện pháp nhằn nâng cao tỷ lệ huy động trẻ vào
bán trú ở trường mầm non vùng khó khăn DTTS cao hơn năm học trước
Kết quả điều tra:
Năm học 2013-2014 Tổng số học sinh, 394 cháu Tỷ lệ huy động trẻ ăn bàn
trú 65 cháu/ đạt tỷ lệ 16,5% trẻ ra lớp
Năm học 2014-2015 Tổng số học sinh 410 cháu; tỷ lệ huy động trẻ ăn bán
thực hiện đổi mới tại 100% nhóm – lớp, các chuyên đề được triển khai thực hiện
tốt.
- Quy chế tuyển sinh được thông báo công khai sau khi được giao chỉ tiêu
từ đầu tháng 7 hàng năm.
- Quy định về lương, các chế độ phụ cấp của cô và trẻ – công tác tài chính :
Thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách của các cấp, các ngành. Thu chi theo quy
định của cấp trên – Có quy chế chi tiêu nội bộ được thông qua Hội nghị Viên chức
hàng năm.
- Thực hiện dân chủ hoá: Chính quyền cùng Công đoàn – Đoàn Thanh niên
dưới sự lãnh đạo của Chi bộ xây dựng được quy chế thực hiện dân chủ trong nhà
trường, quy chế làm việc trong BGH, quy chế phối hợp giữa chính quyền và Công
đoàn.
8
- Mọi chủ trường của nhà trường đều được thông qua liên tịch và hội đồng GV,
Hiệu trưởng là người phải ra quyết định và chịu trách nhiệm hoàn toàn về quyết định
đó.
- Xây dựng cao ý thức tự giác của cán bộ GV – NV
- BGH luôn gương mẫu từ lời nói tới việc làm.
- GV đạt khá chuẩn trong nhận thức và hành vi, tỉ lệ GV đạt khá - tốt có
chiều hướng tăng rõ sau khi áp dụng các biện pháp tích cực. Tuy nhiên vẫn còn
hạn chế một số GV cắt xén thao tác, quy chế chuyên môn, đối phó khi kiểm tra.
- Nhân viên : Có nhiều cố gắng trong công tác, có tiến bộ trong thực hiện
giờ giấc làm việc, giao tiếp với mọi người xung quanh, Không còn nhân viên nào
có sức ỳ, chưa tự giác, nhận lỗi rồi lại tái phạm, trong các hoạt động của nhà
trường
3. Giải pháp, biện pháp
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Tôi xin trình bày một số biện pháp dưới dạng sáng kiến kinh nghiệm với đề
cuộc họp xóm, họp phụ nữ để tuyên truyền trong các tổ chức để mọi phụ huynh
thấm nhuần và gửi con vào bán trú
-Mặt khác chúng tôi thường tổ chức giao lưu văn nghệ, thể dục, thể thao
với các đoàn thể trong xã, các buôn kết nghĩa trên địa bàn khu vực trường tạo
10
nên sự gắn bó thân tình, từ đây sẽ thuận lợi hơn cho công tác tuyên truyền.
- Công tác tuyên truyền được thực hiện xuyên suốt từ lúc xây dựng kế
hoạch cho đến lúc triển khai.
- Khi đa số các bậc phụ huynh đã đồng tình gửi con, nhưng còn một số ít
đình ở buôn Krang chua mạnh dạn cho con ăn ngủ tại lớp. Chúng tôi lại tiếp tục
phân công 1 Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm cùng với thôn đến tận hộ gia
đình để nắm tình hình cụ thể và tìm cách động viên họ gửi con vào bán trú.
Giải pháp 2: Nâng cao chất lượng nuôi dưỡng- chăm sóc- giáo dục trẻ
Chất lượng nuôi dưỡng- chăm sóc- giáo dục trẻ là cơ sở quan trọng để làm
tốt cô ng tác huy động trẻ ăn bán trú. cho nên tôi luôn chú trọng chỉ đạo thực hiện
tốt công tác nuôi dưỡng- chăm sóc- giáo dục trẻ.
Chất lượng nuôi dưỡng- chăm sóc- trẻ: Do điều kiện là xã vùng đồng bào
DTTS, vùng khó khăn, trường có nhiều điểm lẻ cách xa khu trung tâm và điều
kiện kinh tế của cha mẹ các cháu quá nghèo nên việc tổ chức bán trú cho trẻ tại
trường còn hạn chế, mức ăn của trẻ quá thấp, nên tôi đã chỉ đạo cho giáo viên dinh
dưỡng phải xây dựng thực đơn phù hợp, năng động, tìm tòi thực phẩm để trẻ có
bửa ăn đủ lượng đủ chất và cân đối về dinh dưỡng
Cân đo theo biểu đồ tăng trưởng và khám sức khỏe định kỳ cho 100% trẻ
của trường để kịp thời có những biện pháp giảm tỷ lệ SDD như thay đổi, chế biến
các món ăn hợp khẩu vị để trẻ ăn hết xuất.
Tuyên truyền vận động cha mẹ trẻ tăng khẩu phần trứng sửa cho trẻ trong
tuần, chỉ đạo giáo viên chú ý tới trẻ SDD nhiều hơn trong bửa ăn, tăng cường công
tác tuyên truyền kiến thức dinh dưỡng hợp lý và VSATTP cho phu huynh
nhà trường tiến hành mời những nhân viên nấu ăn được hợp đồng và một số phụ
huynh tại các điểm bản đến trường để bồi dưỡng, tư vấn cách chế biến thực phẩm,
cách quản lý giữ gìn thực phẩm, vệ sinh các dụng cụ nhà bếp, cách sử dụng dụng
cụ nhà bếp hợp lý khoa học
* Bồi dưỡng chuyên môn hè: hằng năm, sau khi tập huấn bồi dưỡng chuyên
môn hè từ Phòng GD&ĐT về, tôi đã triển khai nghiêm túc công tác bồi dưỡng đến
100% giáo viên trong trường, có bồi dưỡng thêm những nội dung mà nhiều giáo
viên còn vướng mắc. xây dựng các tiết dạy minh họa để giáo viên rút kinh
nghieejm, thống nhất phương pháp dạy học.
* Bồi dưỡng chuyên môn qua các buổi sinh hoạt chuyên môn: trong các
buổi sinh hoạt chuyên môn của trường, của các tổ chuyên môn, tôi đều chỉ đạo các
tổ trưởng tập trung cho giáo viên trao đổi, thảo luận về kỷ năng chăm sóc trẻ, về
đổi mới hình thức dạy học, cách chọn bài phù hợp khi lên mạng hoạt động, cách tổ
chức hoạt động góc theo hướng đổi mới, và chương trình tăng cường tiếng Việt,
Triển khai tới 100% cán bộ giáo viên nắm được kế hoạch, nội dung của phong trào
thi đua" Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực". Giáo dục trẻ có ý
thức xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp, có hành vi, thái độ thân thiện, ứng xử
phù hợp để giữ gìn và bảo vệ môi trường. Bòi dưỡng cho giáo viên về cách thiết
kế giờ học sinh động, hấp dẫn, cách lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi
trường, giáo dục an toàn giao thông đường bộ, giáo dục dinh dưỡng và VS ATTP
vào các môn học để dạy trẻ. Qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi còn chú ý
cung cấp cho giáo viên những thông tin mới về đổi mới chương trình, về các mô
hình giáo dục tiên tiến về các kinh nghiệm giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, về
các tấm gương đạo đức nhà giáo hay những thông tin về những biểu hiện vi phạm
đạo đức nhà giáo để giáo viên học tập hay rút kinh nghiệm cho bản thân mình.
* Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên thông qua việc chỉ đạo điểm: Điểm
chỉ đạo là nơi để giáo viên nhìn nhận đúng năng lực chuyên môn, phấn đấu học
tập vươn lên để vững vàng hơn trong tay nghề, do vậy tôi đã lựa chọn điểm chỉ
12
đóng góp củi đốt, rau, củ quả sẵn có tại địa phương. Sau đó, nhà trường tuyên
truyền rộng ra đến các nhà hảo tâm, các chương trình dự án, sự đóng góp của đội
ngũ CB-GV-NV trong nhà trường đầu tư mua sắm các thiết bị, dụng cụ nấu ăn,
thực phẩm,… góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ.
Làm tốt công tác xã hội hóa để tu sửa CSVC, mua săm trang thiết bị:
Cơ sở vật chất rất quan trọng trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
trẻ, cơ sở vật chất đầy đủ khang trang sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động
của trẻ, các bậc cha mẹ trẻ sẽ tin tưởng hơn khi cho con em tới trường vì vậy hằng
năm, vào đầu năm học tôi đều xây dựng kế hoạch đầu tư , tu sửa CSVC và mua
sắm trang thiết bị phù hợp với địa phương và tình hình thực tế của nhà trường. là
13
một xã thuộc vùng khó khăn, vùng đồng bào DTTS nên trường được đầu tư xây
dựng CSVC khang trang tại Buôn Krông, Sơn Thọ, Buôn triết..., tuy nhiên các
trang thiết bị như bàn ghế, tủ góc, phản nằm cho trẻ không có nên tôi đã tham mưu
các cấp chính quyền tìm biện pháp huy động nguồn kinh phí từ cha mẹ của trẻ,
thống nhất với ban đại diện cha mẹ học sinh để trang bị mua sắm...
Giải pháp 4: Xây dựng vườn rau cho bé. Nhà trường động viên giáo viên nhân viên tiến hành khai hoang cải tạo đất để chăn nuôi, trồng rau sạch, lợi dụng
ưu thế khí hậu nhà trường để trồng những loại rau, củ quả phù hợp theo mùa và
thời tiết, nhằm cung ứng thực phẩm sạch tại chỗ cho cô và trẻ. Khuyến khích giáo
viên và nhân viên các điểm bản huy động phụ huynh làm vườn tại các điểm bản
nhằm chủ động nguồn rau sạch tại chỗ, tiết kiệm chi phí và công vận chuyển.
Giải pháp 5: Xây dựng thực đơn đảm bảo khẩu phần ăn hàng ngày hợp lý,
phù hợp với định mức, điều kiện đi lại và bảo quản thực phẩm tại các điểm
bản (VD: bố trí những bữa cá thịt đầu tuần và trứng với vừng lạc vào cuối
tuần). Kết hợp với trưởng bản, trưởng các điểm trường tiểu học phụ giúp công tác
chuyển thực phẩm từ trung tâm vào điểm trường. Trong ngày mưa hoặc thời tiết
lạnh giá, có kế hoạch mua sản phẩm của nhân dân trong bản phục vụ nấu ăn bán
trú cho trẻ.
mặt cho nhà trường thực tốt nhiệm vụ giáo dục.
- Xã hội hóa giáo dục phải dựa vào cộng đồng, làm cho mỗi thành viên
trong cộng đồng thấy rõ ý nghĩa của phát triển giáo dục mầm non trong sự nghiệp
giáo dục. Hoạt động xã hội hóa giáo dục phải đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng và
công khai.
- Việc tổ chức thực hiện các nội dung phải rõ ràng, phải tạo được niền tin
đối với các cấp lãnh đạo, phụ huynh, nhân dân bằng việc làm không ngừng nâng
cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
a. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Khi thực hiện đề tài này; Tôi đã sử dụng các giải pháp phù hợp với tình hình
thực tế của đơn vị, các giải pháp có tính quan hệ lôgic để có kết quả khả thi, tối ưu
b. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Phải nói rằng xã hội hóa công tác giáo dục ở trường Mẫu Giáo hoa Pơ Lang
trong những năm qua đặc biệt là đầu năm học 2014 – 2015 đã thu được một kết
quả to lớn đáng khích lệ. Cách làm của nhà trường được dư luận toàn xã hội đồng
tình ủng hộ. Nhờ có xã hội hóa công tác giáo dục mà cơ sở cảnh quan nhà trường
được cải thiện đáng kể. Và cũng vì xã hội hóa công tác giáo dục mà phụ huynh
học sinh quan tâm hơn đến việc phát triển toàn diện cho con em mình. Thể hiện là
họ tạo điều kiện cho các em luyện tập thể dục thể thao, tham gia học bồi dưỡng ở
các môn năng khiếu như: Bé khéo tay, Đặc biệt các hoạt động phong trào của
trường ngày càng được quan tâm và đi vào chiều sâu chất lượng. Các hoạt động
được phụ huynh quan tâm, Xã tạo điều kiện và cử đoàn viên vào hỗ trợ. Những
hoạt động ngoại khoá của trường đã thu hút sự quan tâm của toàn thể nhân dân địa
phương và phụ huynh học sinh. Việc tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị dạy
và học được tăng cường, các hoạt động tập thể ngày càng sôi động, chất lượng
giáo dục ngày càng được khẳng định. Cụ thể là: Số lượng, chất lượng học sinh
ngày càng tăng. Điều đó một lần nữa khẳng định tác dụng và vai trò to lớn của xã
hội hóa công tác giáo dục.
* Bài học: Để xã hội hóa công tác giáo dục có hiệu quả bản thân tôi thấy
mình cần làm tốt các khâu sau đây:
công tác giáo dục thể hiện chính kiến của riêng mình tránh tình trạng là cho rằng
thấy mọi người nhất trí tôi cũng nhất trí theo thì khi tiến hành bao giờ tôi cũng
phát phiếu xin ý kiến cho từng thành viên. Các thành viên có quyền mang phiếu về
nhà bàn bạc trao đổi với gia đình. Nếu nhất trí với nội dung nào thì ghi đồng ý với
nội dung đó, nếu không nhất trí thì ghi không đồng ý. Nếu có ý kiến khác thì ghi ý
kiến của mình. Một tuần sau tôi sẽ thu lại các phiếu đó. Các phiếu thu lại, được
Ban giám hiệu, thường trực Hội cha mẹ học sinh cùng nhau kiểm tra, tập hợp các
ý kiến đó lại để có quyết định chính thức trước khi triển khai. Nếu được 80% trở
lên thì công việc được triển khai. Và những người không đồng ý với việc làm về
xã hội hóa công tác giáo dục thì ta tiếp tục vận động hoặc xem xét. Có thể không
để họ tham gia (nhất là các khoản đóng góp). Đây là cách làm mà được các bạc
cha mẹ học sinh rất đồng tình, ủng hộ.
4. Khi đã tiến hành làm xã hội hóa công tác giáo dục thì người Hiệu trưởng
phải thực hiện đúng những lời hứa của mình trước phụ huynh học sinh, trước các
cấp lãnh đạo tránh để lâu mới tiến hành hoặc sử dụng kinh tế sang mục đích khác
để mất uy tín với phụ huynh học sinh. Sau mỗi việc làm phải có đánh giá sơ kết,
16
có tuyên dương khen thưởng, nếu là tài chính phải công khai thu chi. Có như vậy
mới tạo niềm tin với nhân dân và các công việc về sau mới diễn ra thuận tiện, có
hiệu quả
Các giải pháp, biện pháp được nêu trong đề tài có mối quan hệ
3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
- Kết quả khảo nghiệm: so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng đề tài (kết
quả khảo nghiệm phải được trình bày cụ thể);
- Giá trị khoa học: Đề tài đã mang lại giá trị khoa học như thế nào cho
ngành giáo dục đào tạo, hay công tác quản lí giáo dục, dạy học …
4. Kết quả
Với phạm vi hẹp của đề tài, tôi chỉ đưa ra những biện pháp nhằm huy động
của mỗi dân tộc để tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của
GDMN tới các bậc CMHS và tòan cả cộng đồng
Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cho giáo viên là yếu tố quyết định
trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục và nuôi dưỡng trẻ MN vì vậy
rất cần phải chú ý đến khâu bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GVMN
Cần chú trọng đến công tác tham mưu, công tác xã hội hóa GD để đầu tư
CSVC, trang thiết bị dạy học, tạo những điều kiện tốt nhất cho các hoạt động học
tập, vui chơi và sinh hoạt tại trường của các cháu giúp cha mẻ trẻ tin tưởng yên
tâm cho trẻ đến trường ăn bán trú.
2. Kiến nghị
Tôi xin kiến nghị với các cấp chính quyền nên quan tâm đến trẻ mầm non
vùng khó khăn, vùng DTTS về đầu tư CSVC, trang thiết bị, về chế độ trẻ ăn trưa,
mở rộng đến đối tượng nhóm trẻ nhà trẻ( đọ tuổi từ 0-2 tuổi)...
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân về công tác huy động trẻ
vào bán trú vùng khó khăn DTTS, sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, phạm vi
nghiên cứu còn hạn hẹp. Rất mong nhận được sự góp ý của hội đồng khoa học các
cấp!
Dur Kmăn, Ngày 20 tháng 3 năm 2016
Người viết
Nguyễn Văn Nhẫn
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
KT/CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
(Ký tên, đóng dấu)
18
8.. Nghị quyết Hội đồng nhân dân các cấp về công tác XHHGD.Công tác GDMN
8.
Nghị quyết Hội đồng giáo dục va nghị quyết Đảng ủy xã Dur Kmăn về công tác
Giáo dục.
9.
Nghiên cứu báo chí, tài liệu, chuyên san và các số liệu tổng kết xã hội hóa Giáo dục
và tổ chức ăn bán trú ở địa phương qua các năm gần đây.
10. Báo cáo tham luận về xã hội hóa công tác giáo dục của một số đơn vị quận huyện,
một số đơn vị trường họctiêu biểu
20