Xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao trường THPT - Pdf 34

PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập
với cộng đồng quốc tế. Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đổi mới
nền giáo dục là trọng tâm của sự phát triển. Nhân tố quyết định thắng lợi của
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người. Công
cuộc đổi mới này đòi hỏi nhà trường phải tạo ra những con người lao động năng
động, sáng tạo làm chủ đất nước, tạo nguồn nhân lực cho một xã hội phát triển.
Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4 ( khoá VII) đã xác định: phải
khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để
bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
Định hướng này đã được pháp chế hoá trong luật Giáo dục điều 24.2,
trong Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT: Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp
với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp
học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.
Đổi mới phương pháp học tập nhằm phát huy tối đa sự sáng tạo và
năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thí nghiệm, ngoại
khoá, làm chủ kiến thức tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay…. Chính vì thế
trong thời gian gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo khuyến khích giáo viên sử
dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm hoạt động hoá người học.
Năm học 2008 -2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai trên phạm vi
toàn quốc chương trình sách giáo khoa lớp 12 mới THPT và năm học với

1


nhiệm vụ được xác định là “Năm học đẩy mạnh công nghệ thông tin, xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

để kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh trên lớp.
II. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu các phương pháp dạy học tích cực áp dụng trong môn hóa học.
-Thiết kế, xây dựng và tuyển chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm
thuộc chương trình hoá học lớp 12 nâng cao dùng để phát huy tính tích cực
của học sinh trong dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 NC trường THPT
và dùng để củng cố, nâng cao kiến thức, đánh giá kết quả học tập của học
sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hoá học trong giai đoạn hiện nay.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
-Nghiên cứu cơ sở lý luận của các phương pháp dạy học tích cực.
-Nghiên cứu cơ sở lý luận về bài tập hóa học:
+ Trắc nghiệm tự luận.
+ TNKQ.
- Nghiên cứu mục tiêu , nội dung chương trình và sách giáo khoa hoá
học lớp 12 nâng cao.
- Tuyển chọn xây dựng hệ thống bài tập tự luận và TNKQ dạng nhiều
lựa chọn theo chương trình hoá học lớp 12 NC dùng để phát huy tính tích
cực của học sinh.
-Nghiên cứu sử dụng hệ thống bài tập trên để phát huy tính tích cực
của học sinh trong quá trình dạy học hóa học lớp 12NC.
-Thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả của hệ thống bài tập đã
xây dựng.
- Xử lý kết quả thực nghiệm bằng toán học thống kê.
IV. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
-Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học ở trường THPT.
-Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bài tập hoá học phần hữu cơ lớp 12
NC nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.
3



VII. Điểm mới của đề tài
- Lần đầu tiên tuyển chọn và biên soạn hệ thống bài tập tự luận và
TNKQ theo các mức độ biết, hiểu, vận dụng thuộc chương trình hoá học 12
NC, phần hóa học hữu cơ.
-Đề xuất phương hướng sử dụng hệ thống bài tập này nhằm phát huy
tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học hóa học ở trường THPT.
- Góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa và tác dụng của BTHH trong quá trình phát
triển tư duy và phát huy tính tích cực của HS trong dạy học hoá học THPT.
VIII. Phạm vi ứng dụngcủa đề tài
-Sử dụng trong quá trình dạy học hóa học lớp 12NC phần hóa học hữu cơ.
- Dùng để củng cố và nâng cao kiến thức, kỹ năng hoá học của học
sinh lớp 12 nâng cao sau mỗi bài học.
- Dùng trong kiểm tra- đánh giá kiến thức hoá học của học sinh lớp 12
NC phần hóa học hữu cơ.

5


PHẦN II:NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
I.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TÍCH CỰC

I.1.1.Tính tích cực nhận thức [36]
I.1.1.1. Tính tích cực nhận thức
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người. Con người không
chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra
những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, chủ
động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội.
Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của

mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học.
- Kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản chí trước những tình
huống khó khăn….
Tính tích cực học tập được sắp xếp theo những cấp độ từ thấp đến cao như:
- Bắt chước: gắng sức là theo các mẫu hành động của thầy, của
bạn…. Bắt chước thường được biểu hiện trong các tiết thực hành: học sinh
bắt chước các kĩ năng biểu diễn thí nghiệm của giáo viên và khi đạt được ở
mức độ cao hơn thì biến thành kỹ năng của mình.
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải
quyết khác nhau về một vấn đề…, được biểu hiện khi học sinh tự giải bài tập
hoá học hay tự tiến hành thí nghiệm theo hướng nghiên cứu….
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu.
Tính tích cực trong hoạt động học tập liên quan trước hết đến động cơ
học tập. Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Tính
tích cực tạo ra nếp tư duy độc lập. Tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo.
Sự biểu hiện và cấp độ từ thấp đến cao của tính tích cực học tập, mối liên
quan giữa động cơ và hứng thú trong học tập được diễn đạt trong sơ đồ sau:

7


Tích cực học
tập

Biểu hiện

Cấp độ

- Khao khát học,hăng
hái trả lời câu hỏi

- Vic dy hc phi c tin hnh mc gng sc i vi HS.
Cn phi lụi cun hc sinh vo hot ng nhn thc tớch cc, kớch thớch s
ham hiu bit ca hc sinh, cú chỳ trng n nng lc v kh nng ca hc
sinh sao cho mi hc sinh phi huy ng ht mc trớ lc ca mỡnh. Giỏo viờn
khụng nờn lm cho hot ng hc tp tr nờn khú khn vi hc sinh bng bi
8


tập tình huống khó mà phải tạo cho học sinh một chướng ngại nhận thức bằng
những bài tập sáng tạo và rèn luyện ý chí nhận thức.
- Việc nắm vững kiến thức lý thuyết phải chiếm ưu thế. Cần giúp học
sinh nắm vững một cách sâu sắc nội dung lý thuyết, đi sâu vào bản chất của
các hiện tượng và các chất nghiên cứu nhằm lĩnh hội những quan điểm và
khái niệm quan trọng nhất. Nội dung lý thuyết, khái niệm là cơ sở cho tư duy
hoạt động trí tuệ.
- Trong quá trình dạy học phải duy trì nhịp độ khẩn trương của việc
nghiên cứu tài liệu, còn những kiến thức đã lĩnh hội sẽ được củng cố khi
nghiên cứu kiến thức mới. Qua thực tế đã chứng minh việc dừng lại lâu để
nghiên cứu một nội dung học tập sẽ chóng làm học sinh mệt mỏi vì tính chất
đơn điệu của nó, nên khi học sinh đã hiểu một số vấn đề rồi thì phải chuyển
sang nghiên cứu vấn đề khác. Như vậy hoạt động của học sinh sẽ được liên
tục, không bị nhàm chán.
- Trong dạy học phải tích cực chăm lo sự phát triển trí tuệ của tất cả các
đối tượng học sinh (khá giỏi, trung bình, yếu kém). Giáo viên điều khiển, chỉ đạo
hoạt động trí tuệ của học sinh theo năng lực của họ làm cho học sinh tư duy tích
cực để vượt qua chướng ngại nhận thức bằng hoạt động tự lực, độc lập.
Như vậy những nguyên tắc trên đều hướng tới các hoạt động điều khiển
của giáo viên nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong đó
có chú trọng đến việc dạy học sinh phương pháp học tập, phương pháp hoạt
động trí tuệ, hình thành năng lực giải quyết vấn đề và khả năng tự đánh giá

- Về phương pháp: Coi trọng rèn luyện cho HS phương pháp tự học, tự
khám phá và giải quyết vấn đề, phát huy sự tìm tòi tư duy độc lập sáng tạo của
HS thông qua các hoạt động học tập. Trong các phương pháp học thì cốt lõi là
phương pháp tự học. Học sinh chủ động tham gia các hoạt động học tập. Giáo
viên là người tổ chức, điều khiển, động viên, huy động tối đa vốn hiểu biết,
kinh nghiệm của từng HS trong việc tiếp thu kiến thức và xây dựng bài học.
10


- Về hình thức tổ chức: Không khí lớp học thân mật tự chủ, bố trí lớp
học linh hoạt phù hợp với hoạt động học tập, đặc điểm của từng tiết học. Giáo
án bài dạy cấu trúc linh hoạt có sự phân hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển năng khiếu của cá nhân.
- Về kiểm tra đánh giá: Giáo viên đánh giá khách quan, học sinh tham
gia vào quá trình nhận xét đánh giá kết quả học tập của mình (tự đánh giá),
đánh giá nhận xét lẫn nhau. Nội dung kiểm tra chú ý đến các mức độ: biết,
hiểu, vận dụng.
- Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm
tòi, học sinh được phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi, tự tin
trong cuộc sống.
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm đặt vị trí của người học vừa là chủ
thể, vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phát huy tối đa những
tiềm năng của từng người học. Do vậy vai trò tích cực, chủ động, độc lập sáng
tạo của người học được phát huy. Người giáo viên đóng vai trò là người tổ
chức, hướng dẫn động viên các hoạt động độc lập của học sinh, đánh thức các
tiềm năng của mỗi học sinh giúp họ chuẩn bị tham gia vào cuộc sống.
Như vậy bản chất của “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” là đặt
người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, chú trọng đến những
phẩm chất, năng lực riêng của mỗi người, họ vừa là chủ thể vừa là mục đích
cuối cùng của quá trình dạy học, phấn đấu cá thể hoá quá trình dạy học để cho

đổi mới phương pháp dạy học.
Các biện pháp hoạt động hoá người học áp dụng trong dạy học hoá học như:
- Khai thác nét đặc thù môn hoá học tạo ra các hình thức hoạt động đa
dạng, phong phú của học sinh trong giờ học như:
+Tăng cường sử dụng thí nghiệm hoá học, các phương tiện trực quan
(mô hình, tranh vẽ…), phương tiện kĩ thuật trong dạy học hoá học (máy
chiếu, máy tính, các phần mềm dạy học…).
12


+ Trong giờ học cần sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động
phong phú của học sinh như: thí nghiệm, dự đoán lí thuyết, mô hình hoá, giải
thích, thảo luận nhóm… giúp học sinh được hoạt động tích cực chủ động.
- Tăng thời gian hoạt động của học sinh trong giờ học. Hoạt động của
giáo viên chú trọng đến việc thiết kế, hướng dẫn điều khiển các hoạt động và
tư duy hay hoạt động nhóm. Giáo viên cần động viên học sinh hoạt động
nhiều hơn trong giờ học, giảm tối đa các hoạt động nhận thức thụ động.
- Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động của học sinh thông qua việc
lựa chọn nội dung và hình thức sử dụng các câu hỏi, bài tập có sự suy luận,
vận dụng kiến thức một cách sáng tạo.
Như vậy tư tưởng chủ đạo của định hướng đổi mới phương pháp dạy
học theo hướng hoạt động hoá người học là học sinh được phát huy tính tích
cực nhận thức học tập đến mức tối đa thông qua các hoạt động chủ động, độc
lập, sáng tạo trong giờ học.
I.1.2.3. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học [6]
Cốt lõi của đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập tích cực,
chống lại thói quen học tập thụ động. Đổi mới nội dung và hình thức hoạt
động của giáo viên và học sinh, đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới
hình thức tương tác xã hội trong dạy học với định hướng:
- Chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ một chiều sang mô hình dạy

học sinh học được tri thức, kĩ năng, phương pháp học tập luôn gắn quyện vào
nhau theo quá trình học kiến thức- hoạt động đến biết hoạt động và muốn hoạt
động, qua đó mà phát triển nhân cách người lao động tự chủ, năng động và
sáng tạo. Người học- đối tượng của hoạt động “ dạy” đồng thời là chủ thể của
hoạt động “ học”- được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và
chỉ đạo thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ.
- Dạy học có chú trọng rèn luyện kĩ năng, phương pháp và thói quen tự
học, từ đó mà tạo cho HS hứng thú, lòng ham muốn, khát khao học tập, khơi
14


dậy những tiềm năng vốn có trong mỗi HS để giúp họ dễ dàng thích ứng với
cuộc sống của xã hội phát triển. PPDHTC xem việc rèn luyện phương pháp
học tập không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một
mục tiêu dạy học.
- Dạy học chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động học tập của từng
học sinh, hoạt động hợp tác trong tập thể nhóm, lớp học thông qua tương tác
giữa GV với HS, giữa HS với HS. Bằng sự trao đổi, tranh luận, thể hiện quan
điểm của từng cá nhân, sự đánh giá nhận xét những quan điểm của bạn mà học
sinh nắm được kiến thức, cách tư duy, sự phối hợp hoạt động trong một tập thể.
Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan
hệ hợp tác giữa các cá thể trên con đường chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng.
Thông qua thảo luận, tranh luận ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng
định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận
dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của HS, lớp học sẽ sinh động và kích
thích được sự hứng thú học tập nhờ sự động viên khích lệ của thầy, của bạn.
Học hợp tác làm tăng hiệu quả học tập nhất là khi xuất hiện nhu cầu
phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung.
Trong việc học hợp tác tính cách, năng lực của mỗi thành viên được
bộc lộ, tính ỷ lại được uốn nắn, ý thức tổ chức, tình bạn, tinh thần tương trợ

khiển các hoạt động học tập của học sinh để đạt được các mục tiêu cụ thể ở
mỗi bài học.
Như vậy hoạt động cụ thể của giáo viên sẽ là:
- Thiết kế giáo án (kế hoạch giờ dạy) gồm các hoạt động của học sinh
theo những mục tiêu cụ thể của mỗi bài học mà học sinh cần đạt được.
- Tổ chức các hoạt động trên lớp để học sinh hoạt động theo cá nhân
hoặc theo nhóm như: nêu vấn đề cần tìm hiểu, tổ chức hoạt động tìm tòi, phát
hiện tri thức và hình thành kĩ năng hoá học, kĩ năng nghiên cứu hoá học ....
16


- Định hướng điều chỉnh các hoạt động của học sinh: giáo viên có
nhiệm vụ làm chính xác hóa các khái niệm, kết luận, nhận xét về các hiện
tượng, bản chất của quá trình hoá học mà học sinh đã tự tìm tòi trong hoạt
động học tập của mình và thông báo thêm một số thông tin có liên quan đến
bài học mà học sinh không thể tự tìm tòi được qua hoạt động trên lớp....
- Thiết kế và thực hiện việc sử dụng các phương tiện trực quan, thí
nghiệm hoá học, hiện tượng thực tế như là nguồn kiến thức để học sinh tìm
tòi, phát hiện những kiến thức kĩ năng cần nghiên cứu, tiếp thu.
Trong quá trình tổ chức, điều khiển luôn tạo điều kiện để học sinh được
bộc lộ và vận dụng nhiều hơn những kiến thức đã có của mình để giải quyết các
vấn đề học tập và các vấn đề có liên quan đến hoá học trong đời sống sản xuất.
b. Đổi mới hoạt động học tập của học sinh
Quá trình học tập hoá học không phải là quá trình tiếp nhận một cách
thụ động kiến thức mà chủ yếu là quá trình tự học, tự nhận thức, tự khám phá,
tìm tòi các tri thức hoá học một cách chủ động, tích cực. Đó chính là quá trình
tự phát hiện và giải quyết các vấn đề hay là quá trình tập nghiên cứu khoa học
dưới sự điều khiển của giáo viên. Như vậy trong giờ học, học sinh được tiến
hành các hoạt động như:
- Tự phát hiện vấn đề hoặc hiểu được vấn đề, nhiệm vụ do giáo viên nêu ra.

phòng học đa phương tiện, ở ngoài trường học…HS thu nhận thông tin qua
nhiều kênh khác nhau như SGK, băng, đĩa, mạng internet…
Khi lựa chọn các hình thức tổ chức lớp học giáo viên cần chú ý tạo ra
môi trường học tập đảm bảo được mối liên hệ tương tác giữa hoạt động của
giáo viên, hoạt động của học sinh và nhằm đảm bảo cho học sinh tiến hành
các hoạt động học tập có hiệu quả, chất lượng cao.
Các phương tiện dạy học được đa dạng hóa , không chỉ là phấn, bảng,
sách vở…mà còn là dụng cụ thí nghiệm, mô hình , mẫu vật, máy chiếu, bản

18


trong, máy tính, phần mềm ứng dụng dạy học. Phương tiện dạy học, thí
nghiệm hóa học được sử dụng như là nguồn kiến thức để HS tìm tòi, phát
hiện, thu nhận kiến thức.
d. Sử dụng phối hợp, linh hoạt các phương pháp đặc thù của hóa học
Với yêu cầu đổi mới quá trình dạy học hoá học, GV cần chú ý đến việc
khai thác các yếu tố tích cực trong từng phương pháp dạy học được sử dụng
để tạo điều kiện cho HS được hoạt động nhiều hơn, tích cực, chủ động hơn
trong giờ học. Sử dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực đóng
vai trò quan trọng, có tính chất quyết định đến chất lượng dạy và học hoá học.
Trong dạy học hoá học có nhiều phương pháp được sử dụng theo hướng dạy
học tích cực như: sử dụng các PPDH dạy học truyền thống theo hướng tích
cực, sử dụng thí nghiệm, phương tiện dạy học, sử dụng bài tập hoá học …,
tiếp thu có chọn lọc những phương pháp dạy học hiện đại như: dạy học kiến
tạo, dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ, dạy học tương tác….
I.1.3.4. Một số phương pháp dạy học tích cực [6]
Trong hệ thống các PPDH dạy học truyền thống có một số PPDHTC,
đó là:
- Nhóm phương pháp trực quan: Sử dụng thí nghiệm hay các phương

Trong dạy học hoá học, bản thân bài tập hoá học đã được coi là phương
pháp dạy học có hiệu quả cao trong việc rèn luyện kỹ năng hoá học. Nó giữ
vai trò quan trọng trong mọi khâu, mọi loại bài dạy hoá học. Song tính tích
cực của phương pháp này còn được nâng cao hơn khi được sử dụng như là
nguồn kiến thức để học sinh tìm tòi chứ không phải để tái hiện kiến thức.
Với tính đa dạng của mình bài tập hoá học có tác dụng:
- Đối với học sinh, nó là phương pháp học tập tích cực, hiệu quả và không
có gì thay thế được giúp học sinh nắm vững kiến thức hoá học, phát triển tư
duy, hình thành kĩ năng, vận dụng kiến thức hoá học vào thực tiễn, từ đó làm
giảm nhẹ sự nặng nề căng thẳng của khối lượng kiến thức lý thuyết và gây
hứng thú say mê học tập cho học sinh.
- Đối với giáo viên, bài tập hoá học là phương tiện, là nguồn kiến thức để
hình thành khái niệm hoá học, tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
trong quá trình dạy học. Cụ thể là:
20


+ Bài tập hoá học được sử dụng như là nguồn kiến thức để học sinh
tìm tòi, phát triển kiến thức, kỹ năng.
+Bài tập hoá học dùng để mô phỏng một số tình huống thực tế đời sống
để học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề của thực tế đặt ra.
+ Sử dụng bài tập để tạo tình huống có vấn đề kích thích hoạt động tư
duy tìm tòi sáng tạo và rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề học tập, nâng cao
hứng thú học tập bộ môn.
Như vậy bài tập hoá học được coi như là một nhiệm vụ học tập cần giải
quyết, giúp học sinh tìm tòi, nghiên cứu đi sâu vận dụng kiến thức hoá học
một cách sáng tạo từ đó giúp học sinh có năng lực phát hiện vấn đề - giải
quyết vấn đề học tập hoặc thực tiễn đặt ra có liên quan đến hoá học.
I.2.2. Phân loại bài tập hoá học
I.2.2.1. Dựa vào nội dung có thể phân bài tập hoá học thành 4 loại

thành 2 loại [41]
*Bài tập trắc nghiệm khách quan: là loại bài tập hay câu hỏi có kèm
theo câu trả lời sẵn và yêu cầu học sinh suy nghĩ rồi dùng 1 ký hiệu đơn giản
đã quy ước để trả lời.
Các dạng bài tập trắc nghiệm khách quan:
- Điền khuyết.
- Đúng sai.
- Ghép đôi.
- Nhiều lựa chọn.
Ưu điểm nổi bật của bài tập TNKQ là:
- Trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều nội dung kiến
thức, tránh được tình trạng học tủ, học lệch.
- Việc chấm điểm là khách quan, không phụ thuộc vào người chấm nên
độ tin cậy cao hơn các phương pháp kiểm tra đánh giá khác.
- Rèn luyện cho học sinh khả năng nhận biết, khai thác, xử lý thông tin
và khả năng tư duy phán đoán nhanh.
22


- Giúp người học tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập kết quả của mình
một cách khách quan.
Tuy nhiên loại bài tập trắc nghiệm khách quan cũng có những nhược
điểm đáng kể như:
- Ít góp phần phát triển ngôn ngữ hoá học
- Không thể dùng để kiểm tra kỹ năng thực hành hoá học
- Giáo viên chỉ biết kết quả suy nghĩ của học sinh, rất khó đánh giá khả
năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ và tư duy của HS để đi đến câu trả lời.
Trong 4 loại bài tập trắc nghiệm khách quan trên thì bài tập nhiều lựa
chọn là loại hay dùng nhất vì có nhiều ưu điểm hơn như xác suất đúng ngẫu
nhiên thấp, dễ chấm.

- Bài tập thực nghiệm định lượng.
Trong mục tiêu môn học có nhấn mạnh đến việc tăng cường rèn luyện kĩ
năng hoá học cho học sinh, trong đó chú trọng đến kĩ năng thí nghiệm hoá học.
Bài tập thực nghiệm là một phương tiện có hiệu quả cao trong việc rèn luyện kĩ
năng thực hành, phương pháp làm việc khoa học, độc lập cho học sinh. Giáo
viên có thể sử dụng bài tập thực nghiệm khi nghiên cứu, hình thành kiến thức
mới, khi luyện tập, rèn luyện kĩ năng cho học sinh, trong giờ thực hành….
I.3.3. Tăng cường sử dụng bài tập thực tiễn
Theo phương hướng dạy học tích cực giáo viên cần tăng cường sử dụng,
giúp học sinh vận dụng kiến thức hoá học giải quyết các vấn đề thực tiễn có
liên quan đến hoá học. Thông qua việc giải bài tập thực tiễn sẽ tạo cho học sinh
hứng thú, say mê trong học tập hoá học. Các bài tập có liên quan đến kiến thức
thực tế còn có thể dùng để tạo tình huống có vấn đề trong dạy học hoá học. Các
bài tập này có thể ở dạng bài tập lí thuyết hoặc bài tập thực nghiệm.
I.3.4. Sử dụng sơ đồ, đồ thị trong việc giải, chữa bài tập
Sử dụng bài tập có hình vẽ, mô hình, sơ đồ, đồ thị để tổ chức các hoạt
động học tập của học sinh có tác dụng phát triển năng lực quan sát tư duy trừu
tượng và khả năng vận dụng kiến thức một cách tổng hợp.
Có thể sử dụng sơ đồ ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình dạy học đặc
biệt ở giai đoạn ôn tập, củng cố, hoàn thiện, hệ thống hoá kiến thức.
24


I.3.5. Sử dụng các bài toán có nội dung biện luận để tăng cường tính suy
luận cho học sinh khi học tập hoá học
Nhiều bài toán có phần tính toán đơn giản nhưng có nội dung biện luận
hóa học phong phú, sâu sắc là phương tiện tốt để tích cực hóa hoạt động của
HS trong quá trình dạy học và rèn luyện tư duy hóa học cho học sinh.

Tiểu kết chương I


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status