1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRUNG TÂM GDTX TĨNH GIA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ HỆ THỐNG CÂU HỎI
TRONG TIẾT DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRUNG TÂM GIÁO
DỤC THƯỜNG XUYÊN ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH.
Người thực hiện: Phạm Thị Lương
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Lịch sử
THANH HÓA NĂM 2013
A. PHẦN MỞ ĐẦU.
A – PHẦN MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Trong dạy học hiện nay, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
phát huy tính tích cực của học sinh, lấy người học làm trung tâm đang được đặc
biệt chú ý. Dạy như thế nào, học như thế nào để đạt được hiệu quả học tập tốt
nhất? Muốn vậy, người giáo viên phải tổ chức một cách linh hoạt các hoạt động
của học sinh từ khâu đầu tiên đến khâu kết thúc giờ học, từ cách ổn định lớp,
kiểm tra bài cũ đến cách học bài mới, củng cố, dặn dò. Những hoạt động đó giúp
học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tự giác, chủ động, tích cực, sáng tạo và
ngày càng yêu thích, say mê môn học.
Trong dạy học lịch sử, vấn đề phát huy tính tích cực, chủ động, yêu thích môn
học của học sinh càng được đặt ra cấp thiết. Bởi đối với một bộ phận không nhỏ
học sinh hiện nay thì đây là “môn phụ”, là môn học khô khan, khó nhớ. Vậy làm
thế nào để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử? Có rất
nhiều biện pháp, ví như: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan, phương pháp
hướng dẫn học sinh ghi nhớ sự kiện lịch sử, nắm vững và sử dụng sách giáo
GDTX và nghiên cứu thực nghiệm tại các lớp 12D, 12E, 12G – Trung tâm
GDTX Tĩnh Gia.
4. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
4.1. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN.
Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về giáo dục, nhất là những vấn đề đổi mới giáo dục hiện nay
làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu đề tài.
4.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Nghiên cứu lí luận: Đọc các tài liệu về lí luận dạy học; Phương pháp dạy
học lịch sử; Tâm lí học
- Nghiên cứu trong thực tế:
+ Nghiên cứu Sách giáo khoa; Sách giáo viên Lịch sử lớp 12.
3
+ Thao giảng, dự giờ đồng nghiệp, trau dồi rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy.
+ Kiểm tra, đánh giá kết quả học và làm bài của học sinh để từ đó có điều chỉnh
và bổ sung hợp lí.
- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm việc thiết kế và sử
dụng hệ thống câu hỏi trong một tiết học cụ thể, tại các lớp 12D, 12E, 12G.
B. PHẦN NỘI DUNG.
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN :
Đai-ri nhà giáo dục Liên Xô cũ đã từng nói : “Dạy lịch sử cũng như bất cứ
dạy cái gì đòi hỏi người thầy phải khêu gợi cái thông minh chứ không phải là
bắt buộc các trí nhớ làm việc, bắt nó ghi chép rồi trả lại”. Như vậy, mục đích của
việc dạy học Lịch sử ở trường là người giáo viên không chỉ giúp cho học sinh
hình dung được những kết quả của quá khứ, biết và ghi nhớ các sự kiện, hiện
tượng của Lịch sử mà quan trọng hơn là hiểu được lịch sử, tức là phải nắm được
bản chất của sự kiện. Trong phát triển tư duy của học sinh, việc sử dụng các thao
tác lô gic có ý nghĩa rất quan trọng. Thông thường giáo viên sử dụng các thao
tác chủ yếu như: So sánh để tìm ra sự giống nhau và khác nhau về bản chất các
pháp nêu tình huống, phương pháp vấn đáp thông qua sự trình bày sinh động
giàu hình ảnh của giáo viên trong tường thuật, miêu tả, kể chuyện, hoặc nêu đặc
điểm của nhân vật lịch sử
+ Tuy nhiên, vẫn còn một số giáo viên chưa thực sự thay đổi hoàn toàn
phương pháp dạy học cho phù hợp với từng tiết dạy, chưa tích cực hoá hoạt
động của học sinh để tạo điều kiện cho các em suy nghĩ, chiếm lĩnh và nắm
vững kiến thức như:
- Giáo viên chưa nêu câu hỏi nhận thức đầu giờ học, tức là sau khi kiểm tra
bài cũ giáo viên vào bài luôn mà không giới thiệu bài qua việc nêu câu hỏi nhận
5
thức, điều này làm giảm bớt sự tập trung, chú ý bài học của học sinh ngay từ
hoạt động đầu tiên.
- Một số câu hỏi giáo viên đặt ra quá khó, học sinh không trả lời được nhưng
lại không có hệ thống câu hỏi gợi mở nên nhiều khi giáo viên phải trả lời thay
cho học sinh.Vấn đề này được thể hiện rất rõ trong hoạt động thảo luận nhóm,
giáo viên chỉ biết nêu ra câu hỏi nhưng lại không hướng dẫn học sinh trả lời câu
hỏi đó như thế nào, vì không có hệ thống câu hỏi gợi mở vấn đề .
- Một số tiết học giáo viên chỉ nêu vài ba câu hỏi và huy động một số học
sinh khá, giỏi trả lời, chưa có câu hỏi giành cho đối tượng học sinh yếu kém.
Cho nên đối tượng học sinh yếu kém ít được chú ý và không được tham gia hoạt
động, điều này làm cho các em thêm tự ti về năng lực của mình và các em cảm
thấy chán nản về môn học.
- Trong khi giảng dạy đa số giáo viên chỉ sử dụng câu hỏi trong sách giáo
khoa mà không kèm câu hỏi phụ, không có câu hỏi gợi mở, dẫn dắt học sinh trả
lời câu hỏi khó. Đối với các câu hỏi cuối sách giáo khoa thì yêu cầu học sinh về
nhà làm và học thuộc; Câu hỏi, bài tập ở nhà chỉ mang tính chất tái hiện lại kiến
thức đã học, rất ít câu hỏi mang tính chất suy luận mà học sinh phải suy nghĩ
giải quyết
Tóm lại, nếu việc thiết kế câu hỏi của giáo viên trước khi lên lớp chưa tốt,
xây dựng được hoàn chỉnh một hệ thống câu hỏi trước khi lên lớp. Hệ thống câu
hỏi rất đa dạng như:
3.1.1. Câu hỏi nhận thức.
-Trước khi bước vào bài mới, giáo viên nên nêu ngay câu hỏi định hướng
nhận thức cho học sinh nhằm động viên sự chú ý, huy động các năng lực nhận
thức của học sinh vào việc theo dõi bài giảng để tìm câu trả lời. Những câu hỏi
này là những vấn đề cơ bản của bài học mà học sinh phải nắm. Đương nhiên, khi
đặt câu hỏi không yêu cầu học sinh trả lời ngay mà chỉ sau khi giáo viên đã cung
cấp đầy đủ sự kiện thì học sinh mới trả lời được.
Ví dụ:
- Khi dạy bài 17: “Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2 – 9 -
1945 đến trước ngày 19 - 12 - 1946” (Sách giáo khoa lịch sử 12, trang 121).
7
Giáo viên nêu câu hỏi đầu giờ : Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, tình
hình nước ta có thuận lợi và khó khăn gì? Đảng ta đã phát huy thuận lợi và
từng bước giải quyết khó khăn như thế nào?
Để trả lời được câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải theo dõi bài giảng, suy
nghĩ và từ đó sẽ nắm được những nội dung cơ bản nhất của bài học.
3.1.2. Câu hỏi phát sinh, phát triển các sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Loại câu hỏi này thường xuất hiện vào phần đầu của mỗi mục giảng, được
dùng hỏi về nguyên nhân, bối cảnh hay hoàn cảnh lịch sử của sự kiện, hiện
tượng lịch sử. Bởi vì bất kì một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào đều xuất hiện
trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, đều có nguyên nhân phát sinh của nó. Đây
cũng là một đặc điểm tư duy của lịch sử cần hình thành từng bước cho học sinh .
Ví dụ:
Khi dạy mục I.1. Thực dân Pháp bội ước và tiến công nước ta (Bài 18:
Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp – Lịch sử
12), giáo viên nêu câu hỏi: Vì sao cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược bùng nổ?
Lịch sử chính là quá trình phát triển liên tục, đan xen nhau giữa các sự
kiện hoặc một hiện tượng hay một quá trình lịch sử nào đó. Cần cho học sinh
thấy rõ được kết quả của sự vận động đó, nguyên nhân thắng lợi hay thất bại và
ảnh hưởng của nó đối với quá trình phát triển lịch sử.
Ví dụ:
- Em hãy nêu ý nghĩa của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam? (Bài
13 - Lịch sử 12).
- Trình bày nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cách mạng tháng
Tám năm 1945? (Bài 16 - Lịch sử 12).
3.1.6. Câu hỏi đối chiếu, so sánh giữa sự kiện, hiện tượng lịch sử này
với sự kiện, hiện tượng lịch sử khác.
Đây là loại câu hỏi khá khó đối với học sinh. Ưu điểm của loại câu hỏi
này là vừa giúp cho học sinh củng cố, ôn tập lại kiến thức cũ vừa tiếp nhận kiến
9
thức mới và áp dụng khi hoạt động thảo luận nhóm để các em bổ trợ kiến thức
cho nhau và cùng nhau giải quyết vấn đề.
Ví dụ:
- Khi học về chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam (Bài 22 -
lịch sử 12), Giáo viên hỏi: Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và “Chiến tranh
đặc biệt” của Mĩ ở Miền Nam có điểm gì giống nhau và khác nhau?
- Khi dạy bài 15 – Lịch sử 12, Giáo viên yêu cầu học sinh: Lập bảng so
sánh phong trào dân chủ 1936 – 1939 với phong trào cách mạng 1930 – 1931
trên các mặt: Kẻ thù, nhiệm vụ, mặt trận, hình thức đấu tranh, lực lượng cách
mạng, địa bàn?
3.1.7. Câu hỏi yêu cầu học sinh làm việc với đồ dùng trực quan.
Đây là loại câu hỏi mang tính chất thực hành, không những giúp học sinh
hiểu sâu hơn vấn đề mà còn rèn cho các em một số kĩ năng như giải thích, mô tả,
trình bày sự kiện…
Ví dụ:
P H A N Đ Ì N H G I Ó T
V I Ệ T B Ắ C
M Ừ Ơ N G T H A N H
C H I Ế N T H Ắ N G
X E T H Ồ
V Õ N G U Y Ê N G I Á P
Đ Ơ C A X T Ơ R I
Từ hàng dọc: GIƠNEVƠ.
Những kiến thức này được sắp xếp trình diễn trên màn hình, (viết lên bảng
phụ hoặc trên khổ giấy to) để các em có thể quan sát được câu hỏi và hệ thống
kiến thức, học sinh tự tìm ra câu trả lời, tìm ra mối liên hệ giữa chúng. Học sinh
sẽ có cuộc tranh luận đâu là từ chìa khoá của ô chữ và học sinh sẽ phát hiện ra
chìa khoá là “GIƠNEVƠ”. Cách lập bảng như vậy hợp với cách sử dụng câu hỏi
sẽ có hiệu quả không chỉ về kiến thức mà còn có tác dụng giáo dục, rèn luyện kĩ
11
năng, kĩ xảo, phát triển tư duy cho học sinh và giúp các em tránh nhàm chán
trong các tiết học.
Việc xây dựng bảng các sự kiện qua các câu hỏi trò chơi và mối liên hệ
giữa chúng là một trong những biện pháp giúp học sinh nhớ ngay sự kiện cơ bản
ở trên lớp, đồng thời kích thích tính tích cực học tập của các em.
Tóm lại: Các loại câu hỏi nêu trên tạo thành một hệ thống câu hỏi hoàn
chỉnh, giúp cho học sinh trong quá trình học tập lịch sử phát hiện ra nguyên
nhân, diễn biến, kết quả và ý nghĩa của một sự kiện hay một quá trình lịch sử.
Những câu hỏi đó giáo viên vận dụng nhuần nhuyễn trong các tiết dạy không chỉ
giúp học sinh biết và nhớ các sự kiện mà còn đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ,
nhận thức sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử .
3.2. Sử dụng hệ thống câu hỏi ở trên lớp.
3.2.1. Sử dụng câu hỏi đầu giờ học.
Trước khi vào giảng bài mới, giáo viên có thể kiểm tra hoặc không kiểm
“thời cơ ngàn năm có một cho cách mạng nước ta”.
GV hỏi: Vì sao nói thời cơ trong cách mạng tháng Tám là “thời cơ ngàn
năm có một”?
Câu hỏi này không có sẵn trong SGK mà đòi hỏi học sinh phải biết suy
luận để trả lời. Vì vậy, có thể học sinh sẽ trả lời được hoặc không trả lời được.
Nếu học sinh không trả lời được, giáo viên cần đưa ra câu hỏi gợi mở: “Nếu như
cách mạng nước ta nổ ra sớm hơn thời điểm quân Nhật đầu hàng quân Đồng
Minh thì sẽ gặp khó khăn gì? Nếu muộn hơn thì lực lượng nào sẽ vào nước ta để
giải giáp quân đội Nhật?”.
Với câu hỏi này, học sinh sẽ dễ trả lời được: Nếu nổ ra sớm hơn thời điểm
quân Nhật đầu hàng quân Đồng Minh thì lực lượng quân Nhật còn mạnh, ta sẽ
khó giành thắng lợi. Còn nếu nổ ra muộn thì lực lượng quân đội các nước Đồng
Minh sẽ vào nước ta, ta sẽ khó có cơ hội giành độc lập. Ta phải giành độc lập
lúc này để đón tiếp quân đội các nước Đồng Minh với tư thế của một quốc qia
độc lập. Đó chính là thời cơ ngàn năm có một của cách mạng.
13
Với cách sử dụng các câu hỏi như vậy sẽ giúp giờ học trở nên nhẹ nhàng,
học sinh dễ nắm bắt và khắc sâu, hiểu được các sự kiện lịch sử.
3.2.3. Sử dụng câu hỏi để ra bài tập về nhà.
Hiện nay việc ra bài tập về nhà cũng là một khâu quan trọng trong tiết dạy
học của giáo viên. Kết thúc mỗi tiết học, giáo viên cần có một hệ thống câu hỏi
để ra bài tập về nhà cho học sinh. Câu hỏi bài tập về nhà không chỉ đơn thuần là
hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa mà đòi hỏi giáo viên cần phải đưa ra thêm
nhiều dạng câu hỏi giúp học sinh ngoài việc nắm, trình bày kiến thức … còn rèn
luyện được các kĩ năng tư duy, tường thuật, giải thích, vẽ bản đồ, sơ đồ, trình
bày trên lược đồ, lập bảng thống kê…
Ví dụ: Khi dạy xong bài 20: “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân
Pháp kết thúc” (Lịch sử 12), Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi bài tập về nhà
như sau:
dung cơ bản cần nắm vững của tiết học, không yêu cầu HS trả lời ngay.
Mục IV: Miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, chiến đấu
chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mĩ và làm nghĩa vụ hậu phương
(1969 – 1973).
Mục 1: Miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội. (Không học).
Mục 2: Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa sản xuất
và làm nghĩa vụ hậu phương.
GV hỏi: Mĩ tiến hành chiến tranh bằng không quân và hải quân phá hoại
miền Bắc lần thứ hai vào thời gian nào, trong hoàn cảnh như thế nào?
- HS trả lời.
- GV nhận xét.
Tuy nhiên đây là câu hỏi cần liên hệ kiến thức các tiết trước. Nên nếu
học sinh không trả lời được hoàn cảnh Mĩ tiến hành chiến tranh, GV cần có câu
hỏi gợi mở: Thời gian này ở miền Nam quân Mĩ như thế nào? Với câu hỏi này
HS sẽ nhớ lại được: Năm 1972 là thời điểm quân ta đang mở cuộc tiến công
chiến lược trên khắp chiến trường miền Nam, quân Mĩ đang ở vào thế thua trận.
Đó chính là hoàn cảnh Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc.
15
GV hỏi: Mục đích của Mĩ khi tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc
lần thứ hai là gì?
Từ hoàn cảnh Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai, HS
sẽ dễ dàng rút ra được mục đích của Mĩ là:
+ Đối phó với cuộc tiến công của quân ta ở miền Nam, hỗ trợ cho chiến
lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang có nguy cơ bị phá sản.
+ Tạo thế mạnh cho cuộc đàm phán ở hội nghị Pari.
GV hỏi: Khi Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai,
quân dân Miền Bắc đã đối phó như thế nào?
- HS trả lời.
- GV nhận xét, chốt ý.
- GV nhận xét, chốt ý.
GV hỏi: Việc kí kết hiệp định Pari có ý nghĩa như thế nào?
- HS trả lời.
- GV nhận xét, chốt ý.
*Củng cố: GV củng cố nội dung tiết học bằng cách cho HS chơi trò chơi ô chữ,
xác định mối liên hệ, xâu chuỗi các sự kiện.
Hệ thống câu hỏi cho trò chơi: Có 4 ô hàng ngang, và tìm từ khóa hàng
dọc.
- Hàng ngang số 1(20 chữ cái): Chiến thắng của quân dân Miền Bắc
trong cuộc chiến đấu chống cuộc tập kích 12 ngày đêm của Mĩ cuối năm 1972
được gọi là gì?
- Hàng ngang số 2 (5 chữ cái): Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, Mĩ
dùng máy bay B52 ném bom xuống ……, Hải Phòng và các thành phố khác ở
miền Bắc. (Từ còn thiếu trong dấu ….là từ gì?).
- Hàng ngang số 3 (8 chữ cái): Từ năm 1968 ta bắt đầu đấu tranh chống
Mĩ trên cả 3 mặt trận: Quân sự,…., ngoại giao. (Từ còn thiếu trong dấu ….là từ
gì?).
- Hàng ngang số 4 (13 chữ cái): Người được phong danh hiệu “Nữ hoàng
Việt cộng” trong kháng chiến chống Mĩ là ai?
17
Ô chữ hàng dọc (4 chữ cái): Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là
chiến thắng quyết định buộc Mĩ phải kí hiệp định này?(Tên hiệp định là gì?)
ĐÁP ÁN Ô CHỮ.
- Hàng ngang số 1: ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG.
- Hàng ngang số 2: HÀ NỘI.
- Hàng ngang số 3: CHÍNH TRỊ.
- Hàng ngang số 4: NGUYỄN THỊ BÌNH.
Đ I Ê N B I Ê N P H U T R Ê N K H Ô N G
H A N Ô I
lớp và đối tượng học sinh mà vận dụng.
- Khi nêu câu hỏi phải ngắn gọn, đủ ý, đơn giản, dễ hiểu, gợi sự suy nghĩ
và tư duy của học sinh. Không nên sử dụng câu hỏi “Có” hay “Không”, “Đúng”
hay “Sai” mà phải sử dụng câu hỏi phát huy tính độc lập tư duy ở học sinh
(tránh tình trạng học sinh trả lời một cách công thức hoặc chung chung).
- Khi tổ chức học sinh tiếp nhận thông tin giáo viên chú ý sử dụng câu hỏi
gợi mở (chuẩn bị kĩ ở giáo án) để giải quyết câu hỏi đặt ra đầu giờ.
- Giáo viên cần kết hợp các phương tiện dạy học khác như đồ dùng trực
quan, hình ảnh, tranh vẽ trong sách giáo khoa, hệ thống thao tác sư phạm khi lên
lớp để góp phần phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong mỗi tiết
học, nâng cao hiệu quả giờ dạy.
- Khi đặt câu hỏi không nên đặt câu hỏi quá dễ làm cho học sinh thoả
mãn, đi đến chủ quan về vốn hiểu biết của mình, mà phải làm cho học sinh hiểu
rằng sự trả lời đúng, đầy đủ câu hỏi do giáo viên nêu ra là tốt, song vẫn phải tiếp
tục suy nghĩ để trả lời hay hơn, sâu sắc hơn và thông minh hơn.
- Cần tạo cơ hội cho học sinh trong cả lớp trả lời, thảo luận nhóm, tạo
không khí thoải mái, nhẹ nhàng, không làm nặng nề giờ học để đạt kết quả tối
đa.
- Nên có những buổi học ngoại khoá, tham quan du lịch các di tích, bảo
tàng lịch sử.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
19
1. Kết luận.
“Thiết kế và sử dụng hiệu quả hệ thống câu hỏi trong tiết dạy học lịch sử
ở trung tâm Giáo dục thường xuyên để phát huy tính tích cực của học sinh”
được vận dụng trong các tiết dạy sẽ đạt được kết quả học tập cao nhất của học
sinh về tất cả các mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. Đây là hoạt động
tương hỗ giữa thầy và trò nhằm giúp cho học sinh độc lập lĩnh hội kiến thức
một cách thông minh, vận dụng một cách sáng tạo vào thực tế. Điều này quan
môn lịch sử, hiểu biết và kinh nghiệm chắc chắn không tránh khỏi những sai sót,
rất mong được sự góp ý chân thành của các đồng chí, đồng nghiệp.
Tôi xin cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 8 tháng 4 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Phạm Thị Lương
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Ngọc Liên (Chủ biên), (2002), Phương pháp dạy học lịch sử, tập
1,2, NXB Giáo dục.
2. Đairi, (1979), Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào, NXB Giáo dục. Hà
Nội.
3. Phan Ngọc Liên, Nguyễn Xuân Trường (Chủ biên), Hướng dẫn thực hiện
chuẩn kiến thức, kĩ năng môn lịch sử lớp 12, NXB Giáo dục Việt Nam.
4. Phan Ngọc Liên (Chủ biên), (2009), Lịch sử 12, NXB Giáo dục.
22
5. Phan Ngọc Liên (Chủ biên), (2009), Sách giáo viên Lịch sử 12, NXB
Giáo dục.
6. Nguyễn Hồng Liên (Chủ biên), (2009), Hướng dẫn dạy học Lịch sử lớp
12 giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông, NXB Giáo dục Việt
Nam.
7. Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Xuân Trường, (2008), Giới thiệu giáo án Lịch
sử 12, NXB Hà Nội.
23