Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề
tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
tận tình về nhiều mặt của các cá nhân và tổ
chức.
Tôi xin được bày tỏ lòng cám ơn sâu sắc tới:
-
Th.S Vũ Thành Huy – thầy giáo trực tiếp hướng
dẫn và giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành đề tài
này.
-
Lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế,
quý thầy cô giáo khoa Kinh tế - chính trò, các
phòng ban trường Đại học Kinh tế Huế đã tạo
điều kiện thuận lợi nhất cho chúng tôi học tập
và nghiên cứu.
-
Sự giúp đỡ, tạo điều kiện trong quá trình điều tra,
xin số liệu của UBND huyện Phú Lộc, UBND xã
Vinh Hiền, xã Lộc Thủy. Phòng công thương huyện
Phú Lộc, phòng nông nghiệp và phát triển nông
thôn huyện Phú Lộc, cục thống kê huyện Phú
Lộc.
6.
7.
8.
9.
CN-XD :
KH-CN :
KH –KT
KT-XH :
LNTT :
NTM
SX - KD
TM, DV :
TTCN
:
:
:
:
10. VH - XH
11. XDNTM
2
SVTH: Huỳnh Thị Phương
Cơng nghiệp-Xây dựng
Khoa học-Cơng nghệ
Khoa học - Kỹ thuật
Kinh tế-Xã hội
Làng nghề truyền thống.
4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Vũ Thành Huy
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
5
SVTH: Huỳnh Thị Phương
5
Khóa luận tốt nghiệp
6
SVTH: Huỳnh Thị Phương
GVHD: ThS. Vũ Thành Huy
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Vũ Thành Huy
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Vũ Thành Huy
nghiệp, dịch vụ, gắn phát triển nông thôn với với đô thị đang quy hoạch…Chính vì
vậy, phát triển làng nghề truyền thống hiện nay là khâu quan trọng nhằm phát huy
lợi thế so sánh của mỗi vùng, giảm dần và thu hẹp khoảng cách về thu nhập giữa
thành thị và nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông thôn, khai
thác các tiềm năng sẵn có nhằm ổn định và phát triển các làng nghề, ngành nghè tiểu
thủ công nghiệp theo cơ chế thị trường, chủ động hội nhập, kinh tế quốc tế, từng
bước phát triển kinh tế nông thôn.
Trên địa bàn huyện Phú Lộc có 03 làng nghề truyền thống gồm: Làng nghề
chế biến thủy hải sản làng Phụ An, xã Vinh Hiền, làng nghề chế biến nước mắm cá
cơm làng Bình An, xã Lộc Vĩnh, làng nghề sản xuất chế biến dầu tràm làng Nước
ngọt, xã Lộc Thủy và 06 nghề gồm: Nghề Xay xát, tinh chế bột sắn xã Lộc An, nghề
Thêu, nghề Sản xuất vật liệu xây dựng, nghề Xây dựng, nghề May mặc dựng, nghề
Gia công sửa chữa cơ khí nhỏ nằm trong kế hoạch khôi phục và phát triển nghề và
làng nghề giai đoạn 2015-2020.
Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực về hiệu quả kinh tế - xã hội, nhiều
làng nghề đang đứng trước khó khăn trong việc duy trì và phát triển sản xuất như
nguồn vốn hạn hẹp, công nghệ lạc hậu, môi trường sản xuất kinh doanh đang bị ô
nhiễm, thị trường làng nghề không ổn định…Những vấn đề này đã hạn chế khả năng
phát triển của các làng nghề truyền thống hiện nay trên địa bàn huyện Phú Lộc và là
lực cản trong quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông
thôn mới (Ban chỉ đạo chương trình NTM,2013). Như vậy, thách thức đặt cho huyện
Phú Lộc là phát triển làng nghề truyền thống gắn với xây dựng NTM như thế nào để
cả hai mục tiêu đều đạt được. Vì vậy, việc phát triển các làng nghề truyền thống
cũng như xây dựng NTM có ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt kinh tế mà còn
góp phần ổn định chính trị xã hội.
- Đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề
truyền thống gắn với chương trình xây dựng NTM ở huyên Phú Lộc, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển làng nghề truyền thống gắn với chương
trình xây dựng NTM của huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề truyền thống gắn
với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu: chọn mẫu, điều tra, phỏng vấn…
- Phương pháp phân tích thống kê, đặt biệt là thống kê mô tả
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thu thập thông tin
9
SVTH: Huỳnh Thị Phương
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Vũ Thành Huy
- Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
- Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển làng nghề truyền
thống trên địa bàn huyện Phú Lộc. Đánh giá sự hình thành và quá trình phát triển
của làng nghề truyền thốnghiện nay dựa trên các tiêu chí về xây dựng NTM.
- Về thời gian: Nghiên cứu phát triển làng nghề truyền thống gắn với xây dựng
NTM ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Làng nghề, làng nghề truyền thống
1.1.1.1 Làng nghề
Làng nghề là mô hình sản xuất truyền thống, gắn liền với lịch sử phát triển
kinh tế, xã hội của nước ta. Làng nghề đóng vai trò tích cực đến phát triển kinh tế và
xã hội của nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn ở nước ta. Vì vây, nhiều
nhà khoa học đã nghiên cứu về làng nghề và đưa ra nhiều khái niệm về làng nghề.
Các khái niệm làng nghề này nhìn chung có nhiều điểm tương đồng với nhau và
được tóm tắt như sau:
-
Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là làng ấy tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và
chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội mốt số nghề cổ truyền
tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiêp hay bán chuyên nghiệp, có phường,
có ông trùm, có phó cả…cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình
công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống
chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công [8]. Quan niệm này
đúng với làng nghê truyền thống, song đối với làng nghề nói chung lại còn bất cập bởi
đối với những làng nghề mới hoạt động, yêu cầu nổi trội nghề cổ truyền, tinh xảo với
-
một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp…là điều khó thực hiện.
Quan niệm thứ hai: Một số nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm làng nghề kèm theo
tiêu chí cụ thể về lao động và thu nhập. Ví dụ như “Làng nghề là những làng đã từng
có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề
chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm” (Mai Thế Hởn và
cs.,2003), hay trong Dự thảo Nghị định của Chính phủ về một số chính sách khuyến
khích phát triển ngành nghề nông thôn được Bộ NN & PTNT đệ trình tháng 5-2005
định tại Nghị định 66/2006/NĐ-CP, Thông tư 113/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính,
Thông tư 46/2011/TT-BTNMT của Bộ TN&MT.
•
Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông
thôn.
• Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghị
công nhận.
• Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
1.1.1.2. Làng nghề truyền thống
Quan niệm về làng nghề truyền thống:
-
Quan niệm thứ nhất: Làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư, cư trú trong
một phạm vi địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp,
cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một
12
SVTH: Huỳnh Thị Phương
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Vũ Thành Huy
hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi. Quan niệm này mới thể hiện
được yếu tố truyền thống lâu đời của làng nghề, còn những làng nghề mới, những
-
Số hộ và lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50% trở lên so với tổng
-
số hộ và lao động của làng.
Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên 50% tổng giá
-
trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm.
Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hóa và bản sắc dân tộc
Việt Nam.
13
SVTH: Huỳnh Thị Phương
Khóa luận tốt nghiệp
-
GVHD: ThS. Vũ Thành Huy
Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác.
1.1.2. Phát triển làng nghề
1.1.2.1. Phát triển làng nghề
Trong kinh tế, phát triển được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của
nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, bao gồm cả sự tăng thêm về lượng và sự
tiến bộ về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn
đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Như vậy, phát triển là một quá trình lâu dài
và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định, khái quát thông qua sự gia tăng
triển bền vững, về cơ bản bao hàm 3 phương diện: Môi trường bền vững, kinh tế bền
vững và xã hội bền vững.
Phát triển bền vững làng nghề là phát triển làng nghề đảm bảo tính ổn định, lâu
dài và việc phát triển không làm ảnh hưởng đến lợi ích cho các thế hệ tương lai. Đó
là sự phát triển dựa trên mức tăng trưởng cao và ổn định, hướng tới mục tiêu tiến
bộvà công bằng xã hội nông thôn, khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên
thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
1.1.3. Nông thôn mới và chương trình xây dựng nông thôn mới
1.1.3.1. Nông thôn mới
Nông thôn mới (NTM) là “phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các
thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân
xã, có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại, sản xuất bền vững theo hướng
hàng hóa, có đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao,
bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển, xã hội được quản lý tốt và dân
chủ” [6].
1.1.3.2. Chương trình xây dựng nông thôn mới
Chương trình xây dựng NTM là một trong những nội dung nhiệm vụ trọng
tâm rất quan trọng để thực hiện Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Hội nghị lần thứ 7 Ban
chấp hành Trung Ương Đảng khóa X ngày 05/8/2008 “Về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn”.
Hiện nay, do kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm, thủy lợi…)
còn nhiều yếu kém, vừa thiếu lại vừa không đồng bộ, nhiều hạng mục công trình đã
xuống cấp, cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hóa còn hạn chế, mạng lưới chợ
nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp. Mặt bằng để
xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố
rải rác, kinh tế hộ kém phát triển. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, ứng dụng
khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, tỷ trọng chăn nuôi
trong nông nghiệp còn thấp, thiếu sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần
kinh tế khác ở khu vực nông thôn, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp,
15
Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 491/QĐ-TTg, ban
hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành
5 nhóm cụ thể: Nhóm tiêu chí về quy hoạch; về hạ tầng kinh tế - xã hội; về kinh tế
và tổ chức sản xuất; vềvăn hóa - xã hội - môi trường và về hệ thống chính trị.
Theo đó, Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng
vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên
16
SVTH: Huỳnh Thị Phương
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Vũ Thành Huy
hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long phù
hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng.
Đối với Trung du miền núi phía bắc bộ 19 tiêu chí để xây dựng mô hình NTM
bao gồm: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học,
cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, thu nhập bình quân
đầu người/năm, tỷ lệ hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo
dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và an
ninh, trật tự xã hội.
1.2.2. Mối quan hệ hai chiều giữa phát triển làng nghề truyền thống với xây
dựng nông thôn mới
Làng nghề là cơ sở rất thuận lợi để xây dựng kinh tế và đời sống văn hóa của
NTM. Chỉ cần quan tâm đầu tư, đánh thức những tiềm năng văn hóa của làng nghề
là có được bộ mặt NTM vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Khi các
làng nghề truyền thống được vực dậy với những nét văn hóa độc đáo sẽ trở thành
những điểm du lịch hấp dẫn. Du lịch làng nghề truyền thống phát triển không những
đóng góp phần thúc đẩy du lịch huyện Phú Lộc phát triển mà còn có tác dụng nâng
phát triển này sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn, từ đó tạo ra một nền tảng kinh
tế đa dạng ở khu vực nông thôn, không chỉ có nông nghiệp thuần nhất mà còn có các
-
ngành TTCN, TM, DV.
Thứ hai, khi các ngành nghề truyền thống phát triển sẽ làm thay đổi tập quán sản xuất
nhỏ, manh mún, độc canh mang tính tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, sản xuất có
-
quy mô lớn gắn với thị trường tiêu thụ hàng hóa.
Thứ ba, các làng nghề truyền thống phát triển là tiền đề quan trọng để hình thành và
phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính các doanh nghiệp lớn với nền công
nghiệp sản xuất hiện đại. Đây là cầu nối, là bước trung gian để chuyển nông thôn
-
thuần nông lên nông thôn hiện đại, thực hiện quá trình đô thị hóa tại chỗ.
Giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn: Phát triển làng nghề truyền thống đã
thu hút được nhiều lao động nông thôn có việc làm ổn định, tăng thu nhập cho các
hộ lao động, nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn ở huyện Phú Lộc. Trong điều
kiện hiện hiện nay, ở nông thôn đất đai canh tác ngày càng ít, nguồn vốn hạn hẹp…do
đó, lượng lao động dư thừa ngày càng lớn. Vì vây, phát triển làng nghề truyền thống ở
nông thôn là biện pháp hữu nghị để giải quyết việc làm cho người lao động. Việc phát
triển làng nghề truyền thống ở nông thôn với nhiều ngành nghề phong phú với nhiều
loại hình đa dạng thì không chỉ thu hút lao động ở làng, xã mà còn thu hút được nhiều
lao động từ các địa phương khác đến làm thuê đồng thời kéo theo nhiều dịch vụ khác
phát triển, tạo thêm nhiều việc làm mới cho lao động, góp phần nâng cao đời sống nhân
Phát triển làng nghề truyền thống góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa địa phương
phát triển du lịch (tiêu chí số 16 về văn hóa ).
Bộ tiêu chí xây dựng NTM có 19 tiêu chí trong đó có những tiêu chí đáp ứng
và gắn kết chặt chẽ với việc phát triển các làng nghề truyền thống và được coi là tiền
đề, động lực thúc đẩy quá trình xây dựng NTM.
Chiều tác động ngược lại xây dựng NTM đến phát triển làng nghề truyền thống:
-
Xây dựng NTM sẽ góp phần xây dựng cơ sử vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất, hỗ
trợ quy hoạch giao thông, thủy lợi, xây dựng mặt bằng cụm công nghiệp, tiểu thủ
-
công nghiệp, làng nghề.
Xây dựng NTM sẽ hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ nâng cao
-
thu nhập.
Khi XDNTM sẽ góp phần đào tạo năng lực phát triển cộng đồng, đào tạo bồi dưỡng
-
đội ngũ cán bộ cơ sở, nâng cao trình độ dân trí của người dân.
Xây dựng NTM gắn với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường ở nông thôn. Vấn đề
bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường từ việc quản lý nguồn cấp nước, thoát nước
đến quản lý thu gom rác thải ở huyện Phú Lộc cũng đã trở nên đáng báo động. Đã
đến lúc cơ quan địa phương cần có những biện pháp quản lý môi trường địa phương
như: Xây dựng hệ thống xử lý rác thải, tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi
hàng hoá đáng kể, đáp ứng nhu cầu đa dạng của đời sống nhân dân, góp phần quan
trọng vào việc phát triển kinh tế địa phương và tăng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên
mẫu mã, chủng loại sản phẩm của các làng nghề chưa đáp ứng được nhu cầu của
người tiêu dùng trong và ngoài nước. Hiện nay, hầu hết sản phẩm làng nghề vẫn
đang gặp phải nhiều khó khăn khi tìm cho mình một chỗ đứng trên thị trường, do
chưa thực sự chú trọng đến việc xây dựng và phát triển thương hiệu. Việc không có
thương hiệu, đã làm giảm đáng kể sức tiêu thụ hàng hoá. Nhiều ý kiến cho rằng, các
doanh nghiệp vẫn ngại đăng ký thương hiệu vì thủ tục rườm rà, rắc rối, chồng chéo.
Theo đánh giá của các chuyên gia, để tạo sức cạnh tranh cao trên thị trường, việc
xây dựng thương hiệu cho mỗi sản phẩm làng nghề là việc làm khó khăn, vì nó đòi
hỏi phải đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm,... Chính
vì vậy, việc xây dựng và phát triển thương hiệu của các làng nghề trong bối cảnh
XDNTM hiện nay (đi kèm với tự do hóa thương mại, hội nhập toàn cầu) trở thành
yếu tố cạnh tranh cơ bản của làng nghề để tồn tại và phát triển một cách bền vững.
20
SVTH: Huỳnh Thị Phương
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Vũ Thành Huy
1.3.1.2. Phát triển các tổ chức kinh tế
Nói cách khác, đây chính là“ tái cấu trúc doanh nghiệp làng nghề trong điều
kiện mới” [6]. Hiện nay, ở các làng nghề nước ta, cơ sở sản xuất phổ biến là hộ
gia đình, bên cạnh đó là các tổ sản xuất, và một số công ty TNHH và doanh
nghiệp tư nhân, phần lớn quy mô nhỏ và vừa (dưới đây, gọi chung là doanh
nghiệp). Đây là quy mô phù hợp trong sản xuất thủ công mỹ nghệ, vì dễ linh hoạt trong
sáng tạo, đổi mới, có thể nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của thị trường. Trước yêu cầu
XDNTM, tái cấu trúc doanh nghiệp làng nghề phải tập trung vào hai loại việc sau:
nghề gắn với chương trình XDNTM phải đảm bảo được các kết quả: Lao động từ
năng suất thấp sang năng suất cao, từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang cơ cấu công
nghiệp và dịch vụ chiếm phần lớn. Bộ mặt nông thôn được khởi sắc; kinh tế và văn
hóa phát triển, đời sống nâng cao, nông thôn khang trang, tươi đẹp, tệ nạn xã hội
không còn; góp phần vào kim ngạch xuất khẩu, tăng trưởng GDP của cả nước; tăng
thu nhập cho nhân dân địa phương.
1.3.2.Phát triển văn hóa - xã hội làng nghề
1.3.2.1.Tạo việc làm và thu hút lao động
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Hội nghị tổng
kết 5 năm thực hiện Nghị định 66/2006/NĐ-CP, “hoạt động ngành nghề nông thôn
đã thu hút gần 30% lực lượng lao động tham gia vào cơ sở sản xuất tại các làng
nghề” [7]. Các làng nghề thu hút khoảng 12 triệu lao động, ngoài ra còn tạo việc
làm cho hàng triệu lao động lúc nông nhàn. Sự lan tỏa của các làng nghề đã mở rộng
quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động, kéo theo sự phát triển của
nhiều ngành nghề khác, góp phần làm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, thương mại
và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới,
các làng nghề Việt Nam cũng lâm vào tình trạng hàng hóa tồn đọng ở nhiều nơi,
hàng triệu lao động mất việc làm. Cho nên trong chương trình XDNTM phải có
những biện pháp giải cứu cho làng nghề trước hết tháo gỡ khó khăn về kinh tế, về
sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động
nhất là những người mất việc làm ở thành phố, khu công nghiệp trở về làng.
1.3.2.2. Hình thành các mối liên kết trong phát triển sản xuất kinh doanh
Thực tế, việc hình thành các mối liên kết trong phát triển SXKD chính là vấn
đề tái cấu trúc làng nghề. Đây là một nhiệm vụ quan trọng cho việc bảo tồn, phát
huy những tinh hoa văn hóa trong thiết chế làng xã qua hàng nghìn năm lịch sử của
dân tộc ta mà yêu cầu của XDNTM đòi hỏi. Hình thành các mối liên kết trong phát
triển SXKD là “văn hóa làng”, thể hiện ở tính cộng đồng và tính tự quản trong
mối quan hệ giữa các cư dân, các tổ chức trong làng. Để hình thành các mối liên
kết trong phát triển SXKD trước hết: Cần tăng cường các quan hệ liên doanh, liên
kết về nhiều mặt trong sản xuất, kinh doanh, khắc phục tình trạng doanh nghiệp nào
- Tổ chức các ngày Giỗ Tổ nghề một cách trang trọng, có ý nghĩa thiết thực,
tránh hình thức; những lễ hội tôn vinh các vị Tổ nghề; những truyền thống tốt
đẹp của “văn hóa làng” trong làng nghề, v.v….
- Cùng nhau chung sức bảo tồn và xây dựng những công trình vừa có ý nghĩa
tôn vinh truyền thống, vừa có ý nghĩa giáo dục cho đời sau đối với làng nghề như:
tôn tạo các di tích truyền thống, di tích lịch sử, lập phòng trưng bày sản phẩm,
bảo tàng làng nghề (bảo tàng tổng hợp của cả làng hoặc bảo tàng về một loại sản
phẩm đặc trưng của làng nghề).
23
SVTH: Huỳnh Thị Phương
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Vũ Thành Huy
1.3.3. Môi trường làng nghề
1.3.3.1. Hệ thống xử lý chất thải
Đối với các làng nghề, bên cạnh hoạt động sinh hoạt thông thường còn có hoạt
động sản xuất, mà trong đó không tránh khỏi quá trình phát thải gây ô nhiễm môi
trường. Vì vậy, có thể nói nhóm tiêu chí này quyết định nhiều đến sự phát triển bền
vững của các làngnghề theo quy hoạch NTM. Yêu cầu của phát triển môi trường
làng nghề theo định hướng NTM đòi hỏi:
- Các chất thải rắn trong quá trình sản xuất phải được thu gom và tập trung tại
một chỗ chờ xử lý.
- Chất thải lỏng và nước thải sinh hoạt trong khi chờ đợi hệ thống xửlý cần
phải được thu gom vào hồ điều hòa, không xả thẳng ra ao hồ trong làng nghề.
- Tăng cường diện tích cây xanh.
1.3.3.2. Công trình cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường
Trong quá trình XDNTM, thực hiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông
giống nhau. Tuynhiên, hiểu theo một cách khái quát chúng bao gồm những yếu tố cơ
bản sau:
1.4.1. Chính sách phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông
thôn mới
Phát triển các làng nghề trong bối cảnh XDNTM phụ thuộc rất lớn vào
quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước thông qua việc ban hành, thực thi các
chủ trương, chính sách và pháp luật; phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan về
phát triển tiểu thủ công nghiệp. Khi các chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn
của Đảng và Nhà nước công nhận về pháp lý sự tồn tại, phát triển, vai trò tác
dụng tích cực lâu dài của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân sẽ giải
phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác tiềm năng, khôi phục, mở ra nhiều
nghề mới, cơ sở sản xuất được cải tạo, được tổ chức sản xuất, quản lý theo hướng
hiện đại thúc đẩy sản xuất trong toàn bộ nền kinh tế nói chung, các làng nghề nói
riêng phát triển. Có thể nói, Quyết định 2636/QĐ-BNN-CB của Bộ NN&PTNT
(2011) về việc phê duyệt Chương trình Bảo tồn và Phát triển làng nghề, gắn với quá
trình XDNTM là động lực cho việc phát triển làng nghề trong bối cảnh hiện nay.
Trong các chính sách của Nhà nước ảnh hưởng đến phát triển làng nghề gắn với quá
trình XDNTM, các chính sách về: quy hoạch; chuyển dịch cơ cấu, phát triển
kinh tế, nâng cao thu nhập; đất đai phục vụ phát triển làng nghề; Vốn phục vụ phát
triển làng nghề; Chính sách đầu tư và xúc tiến TM; Chuyển giao công nghệ phát
triển làng nghề… sẽ đóng vai trò quan trọng.
1.4.2. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
25
SVTH: Huỳnh Thị Phương