Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS Buôn Trấp - Pdf 35

I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài
Ngữ văn là một môn học rất quan trọng trong hệ thống các môn học ở cấp
THCS. Mục tiêu của môn Ngữ văn là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói chung, chú
trọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp. Cụ thể, môn học Ngữ văn nhấn mạnh ba
mục tiêu chính sau: Thứ nhất rang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có
tính hệ thống về ngôn ngữ và văn học – trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam
– phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thứ hai, hình thành và phát triển ở học
sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương
pháp học tập tư duy, đặc biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều
đã học vào cuộc sống. Thứ ba, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học,
văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự
cường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinh
trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát
huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại”. Việc dạy học môn Ngữ Ngữ văn
còn là giúp cho học sinh có được những những kỹ năng giao tiếp, sự tự tin trình bày
trước đông người; giúp các em có bản lĩnh vững vàng, dám bày tỏ ý kiến, suy nghĩ
của mình. Do vậy, việc nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn là vô cùng quan
trọng.
Tuy vậy, trong việc học môn Ngữ văn hiện nay nói chung, nhiều em rất rụt rè
trong giao tiếp, không dám bày tỏ ý kiến, suy nghĩ … của mình trước lớp, thiếu chủ
động, tích cực trong việc tiếp thu kiến thức bài học. Chất lượng học tập ở những lớp
đại trà chưa được như mong muốn. Vậy làm thế nào để phát huy tính tích cực chủ
động của học sinh trong học tập là câu hỏi mà các thầy cô giáo trong đó có bản thân
chúng tôi luôn trăn trở và tìm hướng trả lời.
Xuất phát từ nhu cầu và mong muốn của bản thân chúng tôi trong quá trình dạy
học là nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn trong chương trình dạy học môn
Ngữ văn lớp 9 ở trường phổ thông, do đó chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài " Biện
pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn
lớp 9 ở trường THCS Buôn Trấp".

1. Cơ sở lí luận
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục nói
chung và vấn đề đổi mới PPDH trong trường trung học nói riêng. Vấn đề này đã được
đề cập nhiều lần trong các văn kiện Đại hội Đảng, trong Luật Giáo dục. Đặc biệt,
trong thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung
ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 đã
chỉ rõ “ Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ
một chiều. Phát huy PPDH tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm thời gian giảng lý
thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, giáo viên; gắn bó chặt chẽ
giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và
đời sống”.
2


Thực tế cho thấy: hoạt động đổi mới PPDH chỉ có thể thành công khi giáo viên
có động lực hành động và chuyển hóa được từ ý chí trở thành tình cảm và tinh thần
trách nhiệm đối với học sinh, đối với nghề dạy học.
Các chuyên đề về đổi mới PPDH được đưa ra tập huấn luôn là cơ sở cho giáo
viên nghiên cứu, vận dụng một cách chủ động, tích cực, sáng tạo phù hợp với đặc
trưng bộ môn, phù hợp với yêu cầu của từng bài học, giúp học sinh phát triển và rèn
luyện các kỹ năng cần thiết như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý thông tin, giải
quyết các tình huống, kỹ năng thực hành …
2. Thực trạng
1.2. Thuận lợi, khó khăn
a) Thuận lợi:
- Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu nhà trường rất tích cực trong việc
chỉ đạo đổi mới PPDH.
- Trường THCS Buôn Trấp có 13 giáo viên được đào tạo chuyên ngành Ngữ
văn (trong đó có 11 giáo viên đứng lớp và 02 cán bộ quản lý), được biên chế thành
một tổ chuyên môn nên dễ có điều kiện trao đổi, học hỏi nhau về kiến thức cũng như

- Giáo viên cần phải có sự chuẩn bị công phu, mất nhiều thời gian.
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu
a) Mặt mạnh: Có thể áp dụng cho nhiều cấp học, lớp học với nhiều đối tượng
học sinh.
Đây là PPDH tích cực đã được nhiều giáo viên áp dụng thành công.
b) Mặt yếu: Giờ học sẽ bị nhàm chán nếu giáo viên không biết kết hợp các
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lý.
2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
a) Nguyên nhân thành công:
- Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu nhà trường rất tích cực trong việc
chỉ đạo đổi mới PPDH.
- Bản thân chúng tôi được tham gia nhiều đợt tập huấn về đổi mới PPDH do
ngành tổ chức, đã từng tham gia giảng dạy ở các khối lớp, được làm quen với nhiều
đối tượng học sinh, được nghe rất nhiều tâm sự từ phía CMHS, học sinh … về bộ
môn.
- Đề tài này đã được áp dụng trong nhiều năm học nên trong quá trình vận
dụng đã có sự ghi nhận, đúc rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho phù hợp với học sinh.
- Có sự cộng lực của các giáo viên dạy Ngữ văn tại trường.
b) Nguyên nhân hạn chế:
- Thời gian đầu tư cho bài soạn còn hạn chế (do quá nhiều công việc cùng phải
làm trong cùng một thời điểm).
- Sử dụng phương pháp này rất cần đến nghệ thuật giao tiếp của giáo viên.
- Một số học sinh chưa thực sự cố gắng trong học tập, thiếu mạnh dạn trong
4


giao tiếp, nhiều khi tỏ ra e dè, không tự tin, ít đầu tư thời gian cho việc chuẩn bị bài ở
nhà.
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Thực tế giảng dạy cho chúng ta thấy: trong một lớp học đại trà, số học sinh học

thức thực hiện giải pháp, biện pháp như sau:
5


1. Biện pháp tổ chức hoạt động học tập của học sinh theo hướng học sinh –
đối tượng của hoạt động “dạy” trở thành chủ thể của hoạt động “học”.
- Trước hết, cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy và học. Giáo viên phải chú
trọng đến phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Trong đó học sinh dưới
sự tổ chức, gợi mở, dẫn dắt của giáo viên tự mình chiếm lĩnh tác phẩm, tự rút ra
những kết luận, những bài học cần thiết cho mình với sự chủ động tối đa.
Theo chúng tôi, trong giờ dạy văn bản, giáo viên cần tổ chức, dẫn dắt cho học
sinh theo bốn cấp độ sau đây:
Thứ nhất, giúp học sinh tri giác, cảm thụ văn bản, hiểu ngôn ngữ, tình tiết, cốt
truyện, thể loại... để có thể cảm nhận được hình tượng nghệ thuật trong sự toàn vẹn
của các chi tiết, các liên hệ.
Thứ hai, giúp học sinh tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của nghệ sĩ, thâm nhập vào
hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc của tư tưởng, tình cảm tác giả.
Thứ ba, giúp học sinh đưa hình tượng nghệ thuật vào văn cảnh đời sống và
kinh nghiệm sống của mình để thể nghiệm, đồng cảm.
Thứ tư, giúp học sinh nâng cấp lý giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tính hệ
thống, hiểu được vị trí của tác phẩm trong lịch sử văn hóa, tư tưởng, đời sống và
truyền thống nghệ thuật.
Có như vậy, học sinh mới thấy hứng thú và cảm thấy mình cũng là người
“đồng sáng tạo” với tác giả, như quan điểm của mỹ học tiếp nhận.
Ví dụ: Khi dạy văn bản Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, giáo viên phải
giúp học sinh tri giác, cảm thụ được: văn bản Lặng lẽ Sa Pa có cốt truyện rất đơn
giản, xoay quanh một cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ và anh
thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sa Pa. Nhân vật Chính –
anh thanh niên – chỉ xuất hiện trong chốc lát nhưng đã để lại cho các nhân vật khác
và đọc giả những tình cảm tốt đẹp. Nhân vật anh thanh niên trở thành một hình tượng

- Gắn với từng bài học cụ thể phù hợp với đặc trưng thể loại để hướng dẫn học
sinh chuẩn bị bài.
Mỗi bài học, mỗi văn bản được phân bố với một số lượng thời gian nhất định
trong bảng phân phối chương trình. Vì thế, giáo viên nhất thiết phải gắn với từng bài
học, từng văn bản với số tiết quy định cụ thể để hướng dẫn học sinh cách thức nội
dung, mức độ soạn bài phù hợp. Chẳng hạn với những bài học trong một tiết thì có
cách hướng dẫn chuẩn bị bài gọn, nhẹ hơn so với bài hai tiết. Giáo viên cũng cần phải
xem xét đặc điểm, tính chất của từng văn bản cụ thể để yêu cầu học sinh chuẩn bị:
Thơ khác với văn xuôi. Mặt khác, hiện nay định hướng giảng dạy phần Văn theo
phương pháp mới đặc biệt chú trọng yêu cầu tích hợp và đặc trưng thể loại. Xuất phát
từ yêu cầu tích hợp cũng như ý thức về việc bám sát đặc trưng thể loại là định hướng
đúng đắn cung cấp tri thức đọc hiểu cho học sinh, mà trước hết là ở khâu giúp các em
chuẩn bị tốt bài ở nhà. Chẳng hạn khi dạy văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ
mới (Ngữ văn 9) giáo viên phải hướng dẫn cho các em nắm vững đặc trưng của văn
nghị luận để học sinh dễ tiếp xúc với văn bản. Bên cạnh đó khi dạy giáo viên nhất
7


thiết phải tích hợp với hoàn cảnh đất nước và bản chất của con người Việt Nam để
làm rõ những mặt mạnh, mặt yếu của con người Việt Nam ta. Từ đó giáo dục cho thế
hệ trẻ biết cần phải làm gì để góp phần xây đất nước.
- Giáo viên nắm chắc ý đồ của người soạn SGK ở phần hướng dẫn học bài
sau mỗi văn bản.
Ở mỗi văn bản, mỗi bài học cụ thể có những mục đích khác nhau. Trong Sách
giáo khoa Ngữ văn sau tên mỗi văn bản là mục kết quả cần đạt. Đây là phạm vi kiến
thức trọng tâm bài học mà học sinh cần nắm được. Để đạt được kết quả đó người
soạn sách đã có những định hướng đọc- hiểu cho cả người dạy và người học ở mục
hướng dẫn học bài. Để tổ chức cho học sinh đọc hiểu văn bản sát hợp, một yêu cầu
vô cùng quan trọng là giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà đúng
trọng tâm như yêu cầu ở mục kết quả cần đạt. Ví dụ, khi học đoạn trích Kiều ở lầu

câu hỏi trong phần hướng dẫn theo cách hiểu của mình, tránh viêc ghi lại, chép lại
theo sách giải một cách đối phó, thụ động. Trong quá trình soạn bài chỗ nào các em
chưa hiểu hay còn thắc mắc, giáo viên yêu cầu các em chú ý ghi lại hoặc gạch chân,
đánh dấu để có thể trao đổi trong quá trình đọc hiểu văn bản trên lớp. Một điều nữa
không kém phần quan trọng là khi hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi trong Sách
giáo khoa, giáo viên cần hướng các em vào những ý trọng tâm, câu hỏi trọng tâm,
điều này rất có ích cho việc đọc hiểu văn bản ở trên lớp. Muốn làm được điều này
giáo viên phải có đầu tư suy nghĩ trước một bước. Và như vậy, việc hướng dẫn học
sinh chuẩn bị bài ở nhà sẽ mang lại hiệu quả hơn. Chẳng hạn khi soạn bài Mùa xuân
nho nhỏ (Thanh Hải) giáo viên yêu cầu các em chú ý và trả lời kỹ những vấn đề sau:
Cảm xúc của tác giả trước vẻ đẹp và sức sống về mùa xuân của thiên nhiên và mùa
xuân của đất nước như thế nào? Đoạn thơ “Ta làm con chim hót…Dù là khi tóc
bạc” gợi cho em những cảm nghĩ gì về ý nghĩa cuộc sống của mỗi con người? (Với
câu hỏi 1 giáo viên đã giúp học sinh tìm hiểu nội dung đoạn thơ 1 và 2 của bài thơ,
câu hỏi 2 giúp học sinh tìm hiểu nội dung khổ thơ thứ 3 trong bài; Nếu học sinh
về nhà chuẩn bị tốt theo các câu hỏi mà giáo viên đã cho khi lên lớp các em sẽ tiếp
thu bài rất nhanh)
Như vậy, việc hướng dẫn học sinh đọc Sách giáo khoa và trả lời câu hỏi là việc
làm vô cùng quan trọng, bởi đây là một bước chuẩn bị trước làm cơ sở cho việc đọc
tác phẩm trên lớp. Nếu giáo viên làm tốt bước này thì khâu lên lớp sẽ nhẹ nhàng hơn,
giờ học sôi nổi hơn và tất nhiên hiệu quả giờ học sẽ cao hơn.
- Hướng dẫn học sinh lập dàn ý khái quát sơ đồ tư duy cho bài học.
Từ những hiểu biết của bản thân, học sinh tự lập thành sơ đồ, thành những dàn
ý theo suy nghĩ của mình. Điều ấy có nghĩa rằng sau khi đọc phân tích, học sinh cần
phải tổng hợp, tái tạo lại cấu trúc của bài học. Ghi chép tóm tắt những gì và như thế
nào là phụ thuộc vào hiểu biết và kinh nghiệm của từng người. Điều quan trọng là
người học phải tự mình nêu lại được các thông tin quan trọng đã tiếp nhận bằng từ
ngữ riêng theo cách của mình.
- Tổ chức phân công từng vấn đề cụ thể cho từng nhóm học sinh.
Sau khi kết thúc một giờ học công việc thường thấy từ trước tới nay là giáo


- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở một số tiết học tác phẩm văn chương cụ
thể:
Bài 1: Chuyện người con gái Nam Xương.
+ Giáo viên lưu ý học sinh khi chuẩn bị bài cần soan kỹ câu số 2,3,4 và 5 trong
phần hướng dẫn học bài để cùng thảo luận, tranh luận ở trên lớp.
+ Tưởng tượng cảnh Vũ Nương sau khi chết xuống thủy cung và được giải
oan…
+ Tìm một số bài thơ, truyện viết về số phận người phụ nữ trong xã hôi cũ.
Bài 2: Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) Giáo viên hướng dẫn HS chuẩn bị kĩ
vấn đề sau khi soạn bài này để trao đổi trên lớp:
+ Suy nghĩ về quan niệm sống của nhà thơ được thể hiện trong bài thơ.
+ Mỗi người bày tỏ quan niệm sống của mình trong thời đại hiện nay.
3. Biện pháp tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
* Đối với giáo viên:
- Phải nắm vững nội dung bài giảng và trọng tâm bài dạy để đặt câu hỏi hướng
vào nội dung bài học. Việc đặt câu hỏi phải phù hợp với từng đối tượng học sinh cụ
thể, từng lớp học, từng điều kiện có thể có. Tránh đặt câu hỏi máy móc, hỏi cho có,
tránh lạm dụng trong việc đặt câu hỏi để rơi vào tình trạng dạy học hỏi đáp máy mọc
đơn điệu.
- Việc đặt câu hỏi phải phù hợp với phương pháp giảng dạy mà mình đã lựa
chọn: Nêu vấn đề, đàm thoại, giảng bình…và lượng câu hỏi phải hết sức hợp lí. Nội
dung câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu về cung cấp kiến thức; rèn luyện kĩ năng;
giáo dục tư tưởng, nhân cách ở học sinh.
- Điều quan trọng nhất đối với giáo viên là khâu soạn giáo án. Để giáo án có
chất lượng phải có hệ thống câu hỏi chuẩn, hợp lí. Các câu hỏi trọng tâm của bài
giảng phải cho học sinh nắm trước trong câu hỏi chuẩn bị bài ở nhà.
* Đối với học sinh:
- Khâu soạn bài: Học sinh đọc văn bản, chuẩn bị bài theo câu hỏi mà giáo viên
đã cho, đã hướng dẫn. Tuỳ loại câu hỏi giáo viên phân công học sinh chuẩn bị theo

đứa con không có bố. Nhưng thực ra chị là người phụ nữ đức hạnh, đứng đắn,
nghiêm túc)
- Câu hỏi phải tác động đến cảm xúc và rung động thẩm mỹ, đặc biệt là tác
động đến trực giác của học sinh.
Ở dạng câu hỏi này giáo viên phải biết chọn lựa những chi tiết nghệ thuật đặc
sắc, có tác dụng thẫm mỹ cao. Ví dụ: Cách sử dụng các từ “Ta làm” ở 3 câu thơ
trong khổ thơ thứ 3 trong bài “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải gợi tả được điều
gì? (Điệp ngữ “ta làm”diễn tả một cách tha thiết khát vọng được hòa nhập vào
cuộc sống của đất nước, được cống hiến phần tốt đẹp – dù nhỏ bé- của mình cho
cuộc đời chung, cho đất nước.)
Hình ảnh “con chim, cành hoa, nốt trầm” trong đoạn thơ có ý nghĩa gì?
12


(Hình ảnh con chim, nhành hoa, nốt trầm đó là những hình ảnh đẹp, giản dị
nhưng có một ý nghĩa lớn lao: Tác giả muốn nói lên ước nguyện phải đóng góp
những gì tươi đẹp nhất cho cuộc đời, cho đất nước, dù đó là sự cống hiến khiêm
nhường, giản dị. Điều đó không chỉ ước muốn của riêng tác giả mà là của tất cả
mọi người, tất cả chúng ta. Thông qua việc chuyển đổi đại từ “tôi’ sang “ta”,
nguyện ước riêng đã trở thành nguyện ước chung)
- Câu hỏi phải hướng vào thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, khái quát.
Chẳng hạn khi củng cố bài hay kiểm tra bài cũ học sinh cần tránh những câu
hỏi như sau: Em hãy đọc thuộc lòng bài thơ và cho biết nội dung, nghệ thuật của bài.
Dạng câu hỏi này không có tác dụng phát huy sự sáng tạo, tính tích cực của học sinh
vì chỉ cần chăm chỉ học thuộc phần ghi nhớ cuối sách giáo khoa chứ không cần tư
duy nhiều là học sinh trả lời được. Hơn nữa, câu hỏi này sẽ gây cho học sinh thói
quen có hại đó là thói quen học thuộc một cách máy móc.
Có thể thay dạng câu hỏi này bằng một câu hỏi có sức gợi hơn. Ví dụ: Để kiểm
tra kiến thức cũ bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu trong chương trình Ngữ văn lớp 9
thì giáo viên có thể hỏi như sau:

của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ thật thê lương ảm đạm; Con người sa sút cả về
tâm hồn lẫn tính cách. Đó chính là tinh thần phê phán xã hội phong kiến một cách sâu
sắc của Lỗ Tấn.
- Hệ thống câu hỏi phải được sắp đặt hợp lý, được xác định phù hợp với đối
tượng và phân loại đối tượng.
Kiểm tra bài cũ ở các đối tượng học sinh giáo viên tổ chức như sau:
Tổ chức trò chơi ai nhanh hơn:
Giáo viên phổ biến luật chơi: Cô sẽ cho các em xem một số hình ảnh và sau đó
chúng ta sẽ trả lời các câu hỏi phía dưới. Ai có câu trả lời đúng, nhanh nhất sẽ được
cộng thêm điểm.
Để tổ chức kiểm tra bài cũ theo phương pháp này giáo viên sưu tầm những
hình ảnh phục vụ tốt cho kiến thức cần kiểm tra, sau đó trình chiếu cho học sinh xem
rồi đặt câu hỏi. Ví dụ: Để kiểm tra bài “Những ngôi sao xa xôi” trong chương trình
Ngữ văn lớp 9, giáo viên cho các em xem hình ảnh sau:

14


Đặt các câu hỏi:
Hình ảnh các em vừa xem đại diện cho thế hệ nào trong cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước?
Em biết về họ qua văn bản nào đã được học trong chương trình Ngữ văn lớp
9?
Từ đó hãy giới thiệu những phẩm chất đáng quý nhất về họ mà em biết.
Qua những vẻ đẹp đó của họ em học tập được điều gì ?
(Hình ảnh trên đại diện cho những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến
đường Trường Sơn thời chống Mĩ, qua văn bản “Những ngôi sao xa xôi” của nữ
nhà văn Lê Minh Khuê. Họ là những cô gái xinh xắn, đáng yêu, tuổi đời mười
tám, đôi mươi. Họ sống lạc quan, hồn nhiên, yêu đời, yêu quê hương, đất nước
sâu sắc. Giàu tình yêu thương đồng đội và rất dũng cảm. Họ sẵn sàng hy sinh

- Khi kể , ông kể say sưa, 2 con mắt sáng, cái mặt biến chuyển.
- Khi đi tản cư ông nhớ làng, nhớ hoạt động kháng chiến.
- Ông nghe được nhiều tin hay tin chiến thắng của quân ta, ruột gan ông múa
lên vui quá.
+ HS cảm nhận: Tất cả thể hiện tâm trạng vui sướng, tự hào, hãnh diện ông
Hai về làng quê của mình khi tham gia hoạt động kháng chiến.
(2) Câu hỏi yêu cầu giải thích, minh hoạ: Loại câu hỏi này nhằm mục đích
làm sáng tỏ một khái niệm, đề tài nào đó. Giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi
kèm theo những ví dụ minh hoạ để giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này
được áp dụng có hiệu quả trong một số trường hợp như khi Giáo viên biểu diễn
phương tiện trực quan (băng ghi hình, máy chiếu)
Ví dụ: Em hãy quan sát các bức tranh và đọc lại bài thơ “Sang thu” của Hữu
Thỉnh?

16


(3) Câu hỏi tìm tòi (vấn đáp phát hiện)
Đây là loại câu hỏi trọng tâm nhất trong một giờ học văn. Sự cảm thụ tác phẩm
của học sinh phải qua con đường của nhận thức. Để học sinh nắm bắt chính xác tác
phẩm, người giáo viên phải đặt những câu hỏi khơi dậy tư duy ở các em. Cần tổ chức
việc trao đổi ý kiến - kể cả tranh luận - giữa thầy với cả lớp, giữa trò với trò, thông
qua đó các em nắm được tri thức mới do chính mình tìm tòi phát hiện. Hệ thống câu
hỏi được sắp đặt hợp lý nhằm phát hiện, đặt ra và giải quyết một vấn đề xác định,
buộc học sinh phải liên tục cố gắng, tìm tòi lời giải đáp. Trong vấn đáp tìm tòi, hệ
thống câu hỏi của người thầy giữ vai trò chỉ đạo, quyết định chất lượng lĩnh hội của
lớp học.Trật tự logic của các câu hỏi hướng dẫn học sinh từng bước phát hiện ra bản
chất của sự vật, quy luật của hiện tượng, kích thích tính tích cực tìm tòi, sự ham
muốn hiểu biết ở các em. Ở đây giáo viên là người tổ chức sự tìm tòi còn học sinh là
người tự lực phát hiện kiến thức mới, vì vậy kết thúc cuộc đàm thoại học sinh có

19


chiến đấu và chất trữ tình, giữa chiến tranh gian khổ và hòa bình trong sáng. Giữa
chiến sĩ và thi sĩ và là biểu hiện cao cả của tình đồng chí.
Ví dụ 3: Khi dạy xong bài Lặng lẽ Sa Pa(Nguyễn Thành Long), GV có thể
hỏi: Vì sao tên các n/v đều vô danh ? (tác giả muốn họ vô danh, nhằm bình thường
hoá họ; muốn nói rằng đó là những con người lao động bình thường, phổ biến,
thường gặp trong quần chúng nhân dân ta trên khắp nẻo đường đất nước)
* Câu hỏi yêu cầu có sự so sánh đối chiếu: Sự so sánh đối chiếu là một hình
thức của thao tác phân tích trong tư duy. Qua việc so sánh đối chiếu trong giờ học
văn bản, học sinh có thể nhận ra những nét độc đáo, những ý nghĩa sâu sắc của tác
phẩm. Các loại câu hỏi đưa ra có thể là để so sánh các hình ảnh chi tiết trong tác
phẩm hoặc với các tác phẩm khác.
Ví dụ: Khi dạy bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
(Ngữ văn 9 tập 1), Giáo viên có thể hỏi: Em hãy so sánh nụ cười chiến sĩ qua hai câu
thơ:
- Miệng cười buốt giá
( Chính Hữu)
- Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
( Phạm Tiến Duật)
Từ đó chỉ ra điểm gặp gỡ của hai nhà thơ và nét đẹp của người lính trong hai thời kì
kháng chiến chống ngoại xâm.
Bằng câu hỏi gợi mở, GV giúp HS tìm được điểm chung, điểm riêng của hai
câu thơ:
+ Nét riêng ở từng câu thơ:
Trong câu thơ của Chính Hữu: nụ cười “buốt giá” gợi cho người đọc
cảm nhận được thời tiết khắc nghiệt, nụ cười của người chiến sĩ đã sưởi ấm không
gian, thể hiện tình đồng chí, đồng đội gắn bó.
Trong câu thơ của Phạm Tiến Duật: Tiếng cười “ha ha” là cười to,

xác định được nội dung trọng tâm.
- Cần phối hợp nhiều phương pháp, trong đó chú ý đến phương tiện dạy học
hiện đại (dùng công nghệ thông tin, màn ảnh, máy chiếu, âm thanh...) để củng cố bài
học tạo nên sự hứng thú của học sinh.
- Cung cấp thêm những tư liệu liên quan đến tác giả, tác phẩm hoặc những lời
bình về tác phẩm, chẳng hạn:
+ Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận), Bếp lửa
( Bằng Việt), Chiệc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng),... Bến quê ( Nguyễn Minh
Vhaau), Ánh trăng( Nguyễn Duy),...
+ Giới thiệu thêm tác phẩm có liên quan đến cùng nội dung chủ đề của cùng
tác giả: sau khi học xong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, đọc thêm cho
học sinh nghe bài thơ “Một khúc ca xuân”, Bài thơ cuối cùng của Tố Hữu,...
21


+ Đọc những bài thơ, câu thơ được khơi gợi cảm xúc từ những hình tượng
nhân vật văn học: ví dụ những câu thơ viết về Thánh Gióng, Hồ Chí Minh, Phan Bội
Châu,...
+ Dùng sơ đồ, biểu bảng... để tổng kết những nội dung cơ bản hoặc cấu trúc
bài học:
- Sử dụng hệ thống câu hỏi để kiểm tra, đánh giá năng lực nhận thức, rung
động cảm xúc và khả năng sáng tạo của học sinh bằng một số kiểu câu hỏi theo cấp
độ tăng dần như sau:
+ Những câu hỏi mang tính chất tái hiện lại, liệt kê lại kiến thức:
Ví dụ: Sau khi học xong 3 đoạn trích trong Truyện Kiều, hãy nêu nội dung và
nghệ thuật tiêu biểu trong mỗi đoạn trích đó?
+ Những câu hỏi để tìm hiểu cảm xúc chủ quan của học sinh về một vấn đề:
Ví dụ: Cảm nhận của em về khung cảnh mùa xuân dưới ngòi bút của Nguyễn
Du qua đoạn trích “Cảnh ngày xuân” . Em có suy nghĩ gì về hình tượng người lính
trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu?

dạn trình bày những cách hiểu khác nhau nhưng điều quan trọng là xem xét đến sự lí
giải của các em. Từ đó giúp các em biết được nhiều “kênh” khác nhau, đồng thời rèn
luyện cho các em “bản lĩnh” nghiên cứu, sáng tạo...
- Ngoài ra có thể kết hợp với các hình thức sau:
+ Sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Hình thức kiểm tra này
rất phù hợp bởi trong một khoảng thời gian ít ỏi nhưng có thể kiểm tra được nhiều
đơn vị kiến thức
+ Sử dụng các hình thức kiểm tra theo kiểu “vừa học vừa chơi” như câu đố,
chơi ô chữ.
Giáo án minh hoạ việc áp dụng Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS Buôn Trấp.
Tiết Ppct: 102
Văn bản:
CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THẾ KỈ MỚI
- Vũ Khoan A- Mục tiêu cần đạt
1. Kiến thức:
- Giúp HS nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam và
yêu cầu phải nhanh chóng khắc phục điểm yếu, hình thành những đức tính và thói
quen tốt trong bối cảnh đất nước đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thế kỉ
mới.
- Nhận xét được cách trình bày và nghệ thuật lập luận của văn bản.
2. Kĩ năng:
Trình bày, phân tích được những đặc điểm của con người Việt Nam (điểm
23


mạnh và điểm yếu).
3. Thái độ: Có ý thức rèn luyện những đức tính và thói quen tốt đối với bản
thân ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
4. Giáo dục kĩ năng sống:

Hoạt động 1: Đọc – Tìm hiểu chung về văn I. Đọc – Hiểu văn bản
bản
1. Đọc – Tìm hiểu chung
Phương pháp: phát biểu, trao đổi
- Đọc, tìm hiểu từ khó
24


- GV hướng dẫn HS đọc văn bản
- HS đọc văn bản.
- Sau khi cho HS tìm hiểu từ khó, xác định thể
loại GV yêu cầu HS suy nghĩ và trình bày vấn
đề chính đặt ra trong văn bản và trình bày lập
luận của tác giả trong văn bản.
- GV chốt lại: + Vấn đề đặt ra của văn bản:
thể hiện ở câu văn mở đầu văn bản.
+ Trình tự lập luận: * Tác giả đặt vấn đề:
Trong hành trang để bước vào thế kỉ mới, sự
chuẩn bị bản thân con người là quan trọng
nhất.
* Tiếp đó, tác giả phân tích những điểm
mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam.
* Kết luận: Cần phát huy điểm mạnh, khắc
phục điểm yếu, hình thành thói quen tốt.
Hoạt động 2: Tìm hiểu văn bản
Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu nội dung văn bản
Phương pháp: trao đổi nhóm
- GV chia nhóm và nêu yêu cầu thảo luận:
Nêu và phân tích những điểm mạnh, điểm yếu
của con người Việt Nam được trình bày trong

của con người Việt Nam, tác giả
nêu ngay những điểm yếu đi liền
theo. Cụ thể:
+ Cái mạnh đầu tiên là sự thông
minh….khả năng thực hành và sáng
tạo hạn chế.
+ cái mạnh thứ hai là sự cần cù,
sáng tạo, …thiếu tôn trọng kỉ luật
trong công việc.
+ Cái mạnh thứ ba là truyền thống
đùm bọc, đoàn kết … thường có
tâm lí hơn thua, đố kị,…
=> Thế hệ trẻ Việt Nam cần nhận
thức đúng đắn về những nội dung
Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu nghệ thuật lập luận trên,…việc làm nhỏ nhất.
của văn bản
b) Nghệ thuật lập luận của văn bản
Phương pháp: phát biểu, trao đổi chung cả
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status