LỜI GIỚI THIỆU
1. Tính cấp thiết đề tài
Đồ thị hóa với tốc độ ngày càng cao là xu thế tất yếu của các
quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của các quốc gia, các đô thị
đóng vai trò như những hạt nhân quan trọng. Các hoạt động kinh tế,
văn hoá chủ yếu của quốc gia đã và diễn ra chủ yếu là ở các đô thị.
Trong tương lai, đô thị Việt Nam sẽ phát triển hết sức mạnh vì
đó là xu thế chung của thế giới và với hoàn cảnh thuận lợi hiện nay là
sự hợp tác của các nước trong khu vực và trên thế giới.
Đô thị hoá ở Sầm Sơn là xu thế và là tính tất yếu, của quá trình
đô thị hoá đang diễn ra một cách mạnh mẽ ở nước ta hiện nay. Tuy
nhiên, trong quá trình đô thị hoá nó lại bộc lộ những tồn tại cần được
xem xét như: công tác quản lý, chất lượng phục vụ điều kiện phát
triển…
Chính những nguyên nhân trên đã làm ảnh hưởng ít nhiều đến
quá trình đô thị hoá ở thị xã Sầm Sơn, trong những năm qua.
Vì vậy để tìm hiểu, và nghiên cứu sâu hơn về quá trình đô thị
hoá ở thị xã Sầm Sơn. Em đã lựa chọn đề tài "Thực trạng và một số
giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình
đô thị hoá ở thị xã Sầm Sơn".
2. Phạm vi nghiên cứu
Đi sâu vào nghiên cứu quá trình đô thị hoá ở thị xã Sầm Sơn từ
năm 2000-2006 và đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết những vấn
đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa ở thị xã Sầm Sơn trong giai
đoạn 2006-2010.
1
3. Mục tiêu đề tài
Thông qua đề tài này em muốn đưa ra một số giải pháp nhằm
1.1. Khái niệm
Đô thị là điềm tập rung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao
động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng
hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát
triển - kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một
tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện.
Trong khái niệm này cần lưu ý một số điểm sau đây:
- Trung tâm tổng hợp: Những đô thị là những trung tâm tổng
hợp, khi chúng có vai trò và chức năng nhiều mặt về chính trị, kinh
tế , văn hoá, xã hội.v.v…
- Trung tâm chuyên ngành: Những đô thị là trung tâm chuyên
ngành, khi chúng có vai trò chức năng chủ yếu về một mặt nào đó
như: Công nghiệp cảng, du lịch, nghỉ dưỡng, đầu mối giao thông
v.v…
- Một đô thị là trung tâm tổng hợp của một vùng hay của một
tỉnh có thể cũng là trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh
hoặc toàn quốc. Do đó, việc xác định một trung tâm tổng hợp hay
chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùng
lãnh thổ nhất định.
3
- lãnh thổ đô thị gồm : Nội thành hoặc nội thị ( gọi chung là nội
thị) và ngoại ô. các đơn vị hành chính của nội thị gồm: Quận và
phường, còn các đơn vị hành chính của ngoại ô gồm: Huyện và xã.
- Cơ sở hạ tầng đô thị: Cơ sở hạ tầng đô thị gồm hạ tầng kỹ thuật
( giao thông, thông tin - liên tục, cấp nước, cấp năng lượng, thoát
nước, xử lý rác thải, vệ sinh môi trường) và hạ tầng xã hội ( nhà ở, các
công trình thương nghiệp, dịch vụ công cộng, ăn uống, nghỉ dưỡng, y
Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hoá là một quá trình
biến đổi về sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất, bố trí dân cư
những vùng không phải đô thị thành đô thị.
Đô thị hoá có những đặc điểm sau đây:
Đô thị hoá mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy
mô, số lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành
các chùm đô thị.
Đô thị hoá gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội
của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông
vận tải, xây dựng, dịch vụ. Do vậy, đô thị hoá không thể tách rời một
chế độ kinh tế - xã hội.
Phương hướng và điều kiện phát triển của quá trình đô thị hoá
phụ thuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất.
ở các nước phát triển, đô thị hoá đặc trưng cho sự phát triển các
nhân tố chiều sâu ( điều tiết và khai thác tối đa các ích lợi, hạn chế bất
lợi của quá trình đô thị hoá). đô thị hoá nâng cao điều kiện sống và
làm việc…công bằng xã hội, xoá bỏ khoảng cách thành thị và nông
thôn.
ở nước đang phát triển, như Việt Nam, đô thị hóa đặc trưng cho
sự bùng nổ về dân số, còn sự phát triển công nghiệp tỏ ra yếu kém. Sự
gia tăng dân số không dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp và phát
triển kinh tế. Mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trở nên sâu sắc
do sự mất cân đối, do độc quyền trong kinh tế.
Tiền đề cơ bản của đô thị hoà là sự phát triển công nghiệp hay
công nghiệp hoá là cơ sở phát triển của đô thị hóa. Đô thị hoá trên thế
5
giới bắt đầu từ cách mạng công nghiệp ( tượng trương là máy hơi
đã tạo nên các vùng đô thị. Thông thường vùng đô thị bao gồm một
vài thành phố lớn và xung quanh là các thành phố nhỏ, vệ tinh.
Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng
lớn, số lượng các thành phố có số dân trên một triệu người ngày càng
nhiều chứng tỏ mức độ tập trung dân cư cao trên một đơn vị diện tích
Ba là, việc hình thành và mở rộng quy mô đô thị với hạ tầng kĩ
thuật hiện đại dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp là
chủ yếu sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ
Bốn là, dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh do cường độ
cao của quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị đang làm thay đổi
tương quan dân số thành thị và nông thôn. Lối sống của thành thị cũng
được phổ biến rộng rãi ở nông thôn,văn hoá làng xã chuyển dần sang
văn hoá đô thị, văn minh nông nghiệp chuyển dần sang văn minh công
nghiệp.
Năm là, mức độ đô thị hoá biểu thị trình độ phát triển xã hội nói
chung song có đặc thù riêng cho mỗi quốc gia.
Đô thị hoá được coi là kết quả của sự phát triển nói chung, cũng
như quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng, là quá trình
biến đổi xã hội nông nghiệp nông thôn thành xã hội đô thị, công
nghiệp.Thực chất của quá trình đô thị hoá là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và cơ cấu xã hội. Đối với các nước đang phát triển như
nước ta hiện nay, đang trong giai đoạn thực hiện nhiệm vụ công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước thì quá trình đô thị hoá diễn ra với
tốc độ nhanh là một điều tất yếu .
Đối với các nước phát triển, đô thị hoá diễn ra chủ yếu theo
chiều sâu, chất lượng cuộc sống đô thị ngày càng hoàn thiện. Còn đối
với các nước đang phát triển, đô thị hoá tượng trưng cho sự bùng nổ
về dân số. Sự gia tăng dân số không dựa trên sự phát triển công
có khoảng 400 thị trấn, nay tăng lên khoảng 651 thị trấn. Cuối những
năm 90 của thế kỉ XX, dân số của các thị trấn dao động từ 2000 –
30000 người thì nay dao động này từ 2000 – 50000 người. Tỉ lệ dân
số phi nông nghiệp của thị trấn phổ biến ở mức 30 – 40% vào cuối
8
những năm 90, nay đã lên mức 50 – 60%. Năm 1998 có khoảng 60 đô
thị loại 4 nay tăng lên 84 đô thị.
Đô thị hoá nông thôn là một quá trình phát triển tất yếu của một
quốc gia, đặc biệt đối với nước ta là nước đang trong giai đoạn đầu
của công cuộc công nghiệp hoá đất nước.Kinh tế càng phát triển, tốc
độ đô thị hoá diễn ra càng nhanh.
Quá trình đô thị hoá đã làm biến đổi bộ mặt kinh tế xã hội và
đời sống của người dân ở nông thôn. Trong thời gian gần đây, một
điều chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy được là nông thôn đang xích
lại gần hơn với thành thị. Quá trình đô thị hoá nông thôn đã biến nền
sản xuất nông nghiệp độc canh trở thành nền sản xuất hàng hoá đa
ngành nghề. Lối sống thành phố du nhập vào nông thôn rất nhanh, tác
động lớn tới cuộc sống, phong tục, tập quán thôn quê Việt Nam và
những giá trị văn hoá truyền thống lâu đời. Đời sống vật chất của
người dân ngày một nâng cao, nhà cửa khang trang, sạch đẹp hơn,
đường sá được mở rộng, nâng cấp giúp đi lại thuận tiện hơn. Người
nông dân trước kia chỉ quanh quẩn trong thôn làng, giờ mở rộng quan
hệ ra bên ngoài.Quá trình đô thị hoá thực sự là một công cuộc vận
động xã hội sâu xa và đồng bộ.Đó là một quá trình tiến tới sự ngang
bằng dần các tiêu chuẩn sống, tiện nghi sống giữa thôn quê và đô thị.
Bên cạnh những mặt tích cực thì quá trình đô thị hoá cũng làm
nảy sinh những mặt tiêu cực như thu hẹp đất đai canh tác nông nghiệp,
phát triển một cách đồng đều hơn. Khu đô thị mới là khu đô thị đang
được phát triển tập trung theo dự án đầu tư xây dựng hoàn chỉnh, đồng
bộ các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình sản xuất, các công
trình phúc lợi và nhà ở. Việc xây dựng các khu đô thị mới là kết quả
của việc thực hiện chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô
thị hoá xuất phát từ yêu cầu thực tế cải thiện chất lượng cuộc sống
cũng như nhằm giải quyết sự quá tải về dân số trong điều kiện quá tải
của thành phố . Công việc này đòi hỏi có sự đầu tư lớn của Nhà nước
trên cơ sở quy hoạch cụ thể.
10
- Hiện đại hoá và nâng cao trình độ các đô thị hiện có
Đây là quá trình thường xuyên và tất yếu của quá trình tăng
trưởng và phát triển.Các nhà quản lí đô thị và các thành phần kinh tế
trên địa bàn đô thị thường xuyên vận động nhằm làm giàu thêm cho
đô thị của mình. quá trình đó đòi hỏi nhà quản lí cần phải có năng lực
điều tiết và sử dụng hiệu quả tối đa các nguồn lực có trên địa bàn trên
cơ sở hiện đại hoá trên mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội ở đô thị . Ngày
nay, tính bền vững của chiến lược phát triển đô thị phụ thuộc rất lớn
vào nội lực của mỗi thành phố
2.2. Xu hướng đô thị hoá ở Việt nam
- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ
trong các đô thị lớn
Sự hình thành các trung tâm có tính chất chuyên ngành trong
những đô thị lớn là xu thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đô
thị, là biểu hiện của chuyên môn hoá cao trong sản xuất.Đây cũng là
một trong những biểu hiện của quá trình đô thị hoá theo chiều sâu .Tất
cả các hoạt động có cùng đặc điểm, tính chất được tập trung vào một
Dù quá trình đô thị hoá diễn ra theo hình thức mở rộng quy mô
diện tích đô thị hay hiện đại hoá và nâng cao trình độ các đô thị hiện
có thì đều dẫn đến sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất. Hình thức phát
triển theo chiều rộng đưa đến tình trạng thu hẹp đất canh tác nông
nghiệp nhanh chóng do Nhà nước thu hồi để phục vụ cho việc phát
triển đô thị, phát triển cơ sở hạ tầng, các khu công nghiệp, xây dựng
các công trình công cộng. Thực chất của quá trình này là thay đổi
mụcđích sử dụng đất : Từ đất nông nghiệp chuyển sang đất sản xuất
công nghiệp, thương mại, dịch vụ, đất ở...Quá trình này góp phần làm
tăng hiệu quả sử dụng đất nói chung nhưng cũng gây ra không ít vấn
đề xã hội.
- Vấn đề dân số, lao động và việc làm
Trong quá trình đô thị hoá, dân số và lao động các đô thị tăng
lên nhanh chóng do nhiều lí do như hiện tượng di dân từ các vùng
khác đến, sự dôi dư lao động nông nghiệp do bị thu hẹp diện tích đất
nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá. Một thực tế cho thấy tỉ lệ tăng
12
dân số tự nhiên ở các đô thị lớn nói chung là rất thấp nhưng tỉ lệ tăng
dân số cơ học lại rất cao. Điều này gây ra áp lực giải quyết việc làm
rất lớn đối với các đô thị, đặc biệt là trong giai đoạn đô thị hoá diễn ra
mạnh mẽ như hiện nay.
Trong quá trình đô thị hoá nói chung và đô thị hoá theo chiều
rộng nói riêng, cơ cấu dân cư theo tuổi, giới tính, tầng lớp xã hội,
nghề nghiệp thay đổi một cách nhanh chóng. Thu nhập của mỗi nhóm
dân cư, mỗi ngành nghề là rất khác nhau. Sự phân hoá giàu nghèo gia
tăng. Điều này đòi hỏi phải có những giải pháp phối hợp tổng thể
xuyên suốt nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều thành phần trong xã
hội.
đô, ngoại thành.. là nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình đô thị
hoá.
- Vấn đề văn hoá xã hội
Đô thị hoá góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
nhân dân, hình thành lối sống công nghiệp, hiện đại.Tuy nhiên do quy
mô dân số tăng nhanh, tiền Nhà nước đền bù đất để hỗ trợ nông
chuyển đổi nghề không được sử dụng đúng mục đích sẽ làm cho tỉ lệ
thất nghiệp gia tăng nhanh chóng kéo theo một loạt các vấn đề xã hội
khác.
Bên cạnh đó, sự thay đổi lối sống, phong tục, tập quán, sự phân
hoá giàu nghèo diễn ra nhanh chóng, nhu cầu giáo dục, ytế gia tăng,
các vấn đề về tệ nạn xã hội và nghèo đói được đặt ra và là những
thách thức lớn đối với các đô thị trong quá trình phát triển kinh tế xã
hội
- Vấn đề phát triển hạ tầng kĩ thuật
Quá trình đô thị hoá là quá trình hình thành nhanh chóng kết cấu
hạ tầng kĩ thuật như : hệ thống điện, nước, giao thông vận tải,thông
tin liên lạc, hệ thống chợ, các khu chung cư mới, hệ thống trường học,
bệnh viện, công viên...Các yếu tố này không phải lúc nào cũng phát
triển kết hợp với các nhu cầu thực tế ở các đô thị. Bên cạnh đó, cùng
với sự gia tăng dân số, nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hoá...làm cho
mật độ giao thông ở các đô thị tăng lên nhanh chóng. Vấn đề tắc
14
nghẽn giao thông ở các đô thị trong cả nước luôn là vấn đề bức xúc
cần giải quyết
II. ĐÔ THỊ HOÁ Ở SẦM SƠN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT
SINH
1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế,xã hội của Thị Xã Sầm Sơn
2.1. Quá trình đô thị hoá ở Sầm Sơn
2.1.1. Mục tiêu đô thị hoá
2.1.2. Quá trình đô thị hoá ở Sầm Sơn
Năm 1997, sau khi mất đi phần lớn những khu đô thị , địa bàn
công nghiệp thương mại, dịch vụ hoạt động sôi động nhất, thị xã còn
lại 1 thị trấn và 15 xã phần lớn còn mang nặng tính chất thuần nông.
Kinh tế của thị xã thực sự chỉ khởi sắc trở lại sau năm 2000, khi mà
quá trình đô thị hoá trên địa bàn diễn ra một cách mạnh mẽ.
Quá trình đô thị hoá ở Sầm Sơn gắn liền với việc thực hiện các
chương trình, dự án lớn của thành phố trên địa bàn huyện. Trong giai
đoạn đầu của quá trình đô thị hoá ( 2001 – 2005 ), các dự án lớn như :
Trung tâm thể dục thể thao quốc gia, các trung tâm thương mại, tài
chính , các khu đô thị mới, khu công nghiệp tập trung vừa và nhỏ, khu
ngoại giao đoàn..... đã tạo ra cho thị xã một bộ mặt không gian mới.
Việc xây dựng các chương trình dự án lớn của quốc gia, thành phố và
của thị xã trong thời kì này đã làm giảm mạnh diện tích đất nông
nghiệp trên địa bàn, tất yếu dẫn đến cơ cấu ngành nông nghiệp có sự
thay đổi.
Quá trình hình thành khu công nghiệp tập trung vừa và nhỏ đã
thu hút các doanh nghiệp vào hoạt động, thêm vào đó là các doanh
nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp từ nơi khác chuyển đến đã tạo
ra sự tăng trưởng khá nhanh ngành công nghiệp của huyện.
Cơ cấu kinh tế của thị xã nhờ đó đã có sự chuyển dịch
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự chuyển dịch cơ
cấu lao động. Tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp giảm dần.
Tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng dần.
Ngoài ra, sự hình thành các khu đô thị mới cùng với việc ngày
càng nhiều các doanh nghiệp về hoạt động trên địa bàn thị xã đã kéo
16
Về hệ thống điện :
17
Đến năm 2003 thị xã đã hoàn thành đề án điện nông thôn với
100% xã có mạng lưới điện được nâng cấp, cải tạo. Chất lượng điện
nhờ đó cũng được tăng lên, tổn thất điện năng giảm từ 5 – 7%, giá bán
điện dưới mức giá trần của nhà nước, góp phần đáp ứng nhu cầu điện
sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân. Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 100%.
Về nước sạch
Nhu cầu sử dụng nước sạch trong địa bàn thị xã là rất lớn và
quan trọng. Trong giai đoạn 2001 – 2004, thị xã dã xây dựng được 9
trạm cấp nước tập trung và 32,2 km đường ống tại 8 xã, góp phần
nâng tỷ lệ dân được sử dụng nước sạch lên con số 99%
2.2.2. Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch nhanh chóng
Nhận thức được vị trí quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đối với nền kinh tế của huyện, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần
thứ X đã xác định nhiệm vụ bao trùm của thị xã trong 5 năm 2001 –
2005 là : “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế gắn với chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, kết hợp chặt chẽ giữa hiệu quả kinh tế với giải quyết
những vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường ...”. trong giai đoạn 2001
–2004, cơ cấu kinh tế do thị xã quản lí có xu hướng chuyển dịch tích
cực. Kết quả đó được thể hiện rõ trong bảng số liệu dưới đây :
18
Biểu 1 : Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thị xã Sầm Sơn
giai đoạn 2001 – 2004
2001
Về phát triển các ngành công nghiệp xây dựng
Trong giai đoạn 2001 – 2004,tốc độ gia tăng giá trị sản xuất
bình quân ngành công nghiệp xây dựng trên địa bàn xấp xỉ 25%.
19
Biểu 2 :Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp - xây
dựng thị xã Sầm Sơn giai đoạn 2000 - 2004
∑GTSX
2000
183.625
2001
223.607
2002
2003
261.843 439.567
2004
534.972
(triệu đ)
Tốc độ tăng
21,77
17,1
67,86
21,7
298.673
2004
354.115
(triệu đ)
Tốc
độ
17,2
18,4
17,66
18,56
tăng
trưởng(%)
Nguồn : Phòng kinh tế - kế hoạch và phát triển nông thôn thị
xã Sầm Sơn
( Giá trị sản xuất được tính theo giá cố định năm 1994)
Về phát triển nông nghiệp
20
Trong giai đoạn 2001 – 2004, do tốc độ đô thị hoá nhanh nên
diện tích đất nông nghiệp giảm 962 ha, do đó giá trị sản xuất ngành
nông nghiệp ( theo giá cố định năm 1994), tăng 2,7% so với năm
2000, tăng bình quân 0,45%/ năm ( chỉ tiêu đặt ra là 1-2%)
Biểu 4 : Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp thị xã Sầm
Sơn giai đoạn 2000 - 2004
∑GTSX
2000
Năm 2001
Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
∑GTSX Tỷ lệ ∑GTSX Tỷ lệ ∑GTS Tỷ lệ ∑GTSX Tỷ lệ
( % ) (triệu đ) ( % )
(triệu đ) ( % ) (triệu đ) ( % ) X
(triệu
đ)
165798 70,1 173127 70,4 182117 70,6 217576 76
59197 25,0 61191 24,9 61771 23,9 56402 19,7
11600 4,9 11702 4,7 14071 5,5 12360 4,3
Nguồn : Phòng kinh tế - kế hoạch và phát triển nông thôn thị xã
Sầm Sơn
(giá trị sản xuất được tính theo giá hiện hành)
Trong giai đoạn 2001 – 2004, tỷ trọng ngành trồng trọt ở thị xã
vẫn ở mức cao và có xu hướng tăng lên. Do ảnh hưởng của quá trình
đô thị hoá ngành trồng trọt với đặc điểm cơ bản là sản xuất gắn liền
21
với đất đai trên cả phương diện số lượng, chất lượng nên khi diện tích
đất nông nghiệp giảm thì sẽ tất yếu dẫn đến giảm giá trị sản xuất của
ngành. Do trong thời gian gần đây, thị xã thực hiện chuyển đổi mạnh
cơ cấu cây trồng theo hướng giảm diện tích trồng lúa, tăng diện tích
trồng hoa và ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật rộng rãi nên mặc dù
diện tích đất nông nghiệp có giảm song giá trị sản xuất ngành trồng
trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị ngành nông nghiệp, và
có xu hướng tăng trong một vài năm gần đây. Ngay trong nội bộ
ngành trồng trọt cũng có sự thay đổi. Tỷ trọng giá trị sản xuất cây ăn
quả và cây hoa tăng dần lên và giảm dần tỷ trọng giá trị sản xuất cây
23
Biểu 6 : Một số chỉ tiêu giáo dục của thị xã Sầm Sơn
giai đoạn 2000 – 2004
Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004
Trường
65
65
65
65
64
Trường
29
29
29
28
27
Tổng số trường học
-Mầm non
Trong đó : Trường
đạt chuẩn quốc gia
- Tiểu học
Trong đó : Trường
đạt chuẩn quốc gia
- Trung học cơ sở
(THCS)
Trong đó : Trường đạt
0
0
5
5
7
Trường
16
16
16
17
17
Trường
0
0
0
Số học sinh được
học 2buổi/ngày
- Tiểu học
Đạt tỉ lệ
- THCS
Đạt tỉ lệ
Số học sinh tuyển
mới
- Tiểu học
- THCS
- Mầm non
h/sinh 13.634 14.431
%
100
100
h/sinh 0
0
%
0
0
h/sinh
0
0
h/sinh
h/sinh
h/sinh
78
80
81
82,6
giáo
- Tỷ lệ học sinh tốt
%
100
99,97 100
100
100
nghiệp tiểu học
- Tỷ lệ học sinh tốt
%
89,08 91,17 97,3 97,7 94,83
nghiệpTHCS
Nguồn: Phòng Kinh tế - Kế hoạch và phát triển nông thôn thị xã
Sầm Sơn
Về cơ sở vật chất:
Cho đến nay 100% được đầu tư kiên cố khang trang, sạch đẹp.
trong giai đoạn này thị xã cũng đã tập trung vốn đầu tư thực hiện việc
xoá bỏ phòng học cấp 4 khôí trường học. Số trường chuẩn quốc gia
trên toàn thị xã hiện nay là 8 trường.
Hệ thống đào tạo nghề hiện nay trên địa bàn thị xã gồm có 5
trường cao đẳng và trung cấp dạy nghề, ngoài ra còn có hai trung tâm
dạy nghề của thị xã nhằm đáp ứng nhu cầu học nghề của nhân dân
trên địa bàn
Khía cạnh thứ hai mà đô thị hoá tác động tới đời sống nhân dân
đó là về y tế.
Trong giai đoạn 2000 – 2004, thị xã đã đầu tư vốn để cải tạo các