Tìm hiểu công tác quản lý chất thải rắn và đề xuất biện pháp quản lý phù hợp trên địa bàn thị trấn tứ kỳ, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương - Pdf 35

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt chương trình đào tạo trong nhà trường với phương châm học đi
đôi với hành, mỗi sinh viên khi ra trường cần phải chuẩn bị cho mình kiến thức cần thiết,
chuyên môn vững vàng. Thời gian thực tập tốt nghiệp là một phần quan trọng không thể
thiếu được trong chương trình đào tạo sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại Học
Tài Nguyên và Môi Trường nói riêng. Đây là một quá trình giúp cho sinh viên có thể học
hỏi, so sánh, nghiên cứu và ứng dụng các kiến thức đã học vào thực tế công việc ở các cơ
quan quản lý hành chính nhà nước.
Trước thực tế đặt ra đó, được sự nhất trí của nhà trường nói chung và khoa Môi
Trường nói riêng em có nguyện vọng về thực tập tại Phòng Tài Nguyên Môi Trường
huyện Tứ Kỳ. Em xin chân thành cảm ơn cô NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH đã tận tình
hướng dẫn chỉ bảo cho em hoàn thành bài thực tập tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn Phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện Tứ Kỳ đã tạo
điều kiện cho em trong suốt quá trình thực tập. Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới ông
NGUYỄN THÀNH CHUNG trưởng phòng Tài Nguyên – Môi Trường huyện đã tạo
điều kiện, hướng dẫn em tìm hiểu quy trình thực tế, chỉ bảo cho em hoàn thiện bài báo
cáo.
Tuy vây, do thời gian thực tập có hạn cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một
sinh viên thực tập nên trong bài báo cáo thực tập tốt nghiệp này cũng sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót, hạn chế nhất định. Vì vậy, em mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý
kiến của các thầy cô để en có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức của mình, phục vụ
tốt hơn công tác thực tế sau này.


MỤC LỤC

2


DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH

3


LỜI MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn chuyên đề thực tập
Cùng với sự phát triển không ngừng của các ngành nghề quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, sự phát sinh chất thải rắn ngày càng gia tăng. Cũng như nước
thải và khí thải, nếu chất thải rắn không được quản lý và xử lý chặt chẽ, triệt để sẽ có khả
năng gây suy thoái môi trường nghiêm trọng.
Trong những năm gần đây, thị trấn Tứ Kỳ - huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải Dương cũng
đang trên đà phát triển mạnh mẽ về kinh tế và xã hội. Kéo theo đó là lượng chất thải rắn
thải ra môi trường ngày càng nhiều và đa dạng về chủng loại gây ảnh hưởng tới môi
trường và sức khỏe người dân. Tình trạng xả rác bừa bãi đã và đang diễn ra ở khắp nơi, ở
trên đường, ao hồ, sông ngòi, mương máng lượng rác thải này tập trung nhiều gây ô
nhiễm môi trường trầm trọng, gây ách tắc dòng chảy, làm ô nhiễm nguồn nước mặt tại các
vị trí có chứa rác ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt hàng ngày của người dân. Yêu cầu
đặt ra là cần có một công tác quản lý môi trường hợp lý để phát triển kinh tế một cách bền
vững. Tuy nhiên việc quản lý môi trường ở địa phương hiện nay đang gặp rất nhiều khó
khăn và chưa đạt kết quả cao. Thực tế cho thấy, công tác quản lý và xử lý chất thải rắn
còn manh mún, lạc hậu, thô sơ, không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, vệ sinh an toàn
môi trường .
Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn đã trở thành mối quan tâm chung của công
tác quản lý và cộng đồng dân cư. Vì vậy, quản lý và xử lý chất thải rắn là một vấn đề cần
thiết cho sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sống cho con người. Để hiểu thêm
về công tác quản lý môi trường nói chung và công tác quản lý chất thải rắn nói riêng em
xin chọn đề tài: “Tìm hiểu công tác quản lý chất thải rắn và đề xuất biện pháp quản lý phù
hợp trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”.
2. Đối tượng, phạm vi, phương pháp thực hiện
- Đối tượng thực hiện: công tác quản lý CTR và các giải pháp quản lý CTR phù hợp tại
thị trấn TK



+ Đưa ra được cái nhìn tổng quan về hiện trạng quản lý chất thải rắn trên địa bàn và ảnh
hưởng của nó đến môi trường sống.
+ Đề xuất được các giải pháp nhằm hạn chế sự phát sinh của chất thải rắn. Từ đó có thể
đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý, xử lý lượng chất thải rắn phát sinh.
- Nội dung:
+ Tìm hiều điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị trấn Tứ Kỳ
+ Tìm hiểu hiện trạng môi trường thị trấn Tứ Kỳ
+ Tìm hiểu ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khỏe con người
+ Tìm hiểu tình hình phát sinh chất thải rắn tại các cơ sở trên địa bàn nghiên cứu: Nguồn
phát sinh, thành phần, lượng chất thải rắn.
+ Hiện trạng quản lý chất thải rắn
+ Đề xuất các biện pháp quản lý và xử lý chất thải rắn phù hợp.

6


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ CƠ QUAN THỰC TẬP
1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của phòng Tài nguyên – Môi
trường
1.1.1. Vị trí, chức năng
- Phòng tài nguyên – môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện có chức
năng tham mưu, giúp UBND huyện quản lý Nhà nước về: đất đai, tài nguyên nước,
khoáng sản, môi trường.
- Phòng Tài nguyên – Môi trường có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng
chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND huyện đồng thời chịu
sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tài nguyên – Môi
trường.
1.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn

trường và các dịch vụ trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường theo quy định của pháp luật.
- Báo cáo định kỳ và đột xuất tình hình thực hiện nhiệm vụ về các lĩnh vực công tác được
giao cho UBND huyện và Sở Tài nguyên - Môi trường.
- Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức chuyên môn về tài nguyên và môi
trường xã, thị trấn.
- Quản lý tổ chức bộ máy, thực hiện chế độ, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ
luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên
chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của pháp luật và sự phân công của UBND
huyện.
- Tổ chức thực hiện các dịch vụ trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường tại địa phương
theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do UBND huyện giao hoặc theo quy định của pháp luật.

8


1.1.3. Về biên chế
- Biên chế phòngTài nguyên- Môi trường gồm: Trưởng phòng, Phó trưởng phòng và các
chuyên viên.
- Trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường chịu trách nhiệm trước UBND, Chủ tịch UBND
huyện và trước pháp luật về việc thực hiên chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và
toàn bộ hoạt động của phòng.
- Phó trưởng phòng giúp Trưởng phòng phụ trách và theo dõi một số mặt công tác, chịu
trách nhiệm trước Trưởng phòng và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công. Khi
Trưởng phòng vắng mặt một Phó trưởng phòng được Trưởng phòng ủy nhiệm điều hành
các hoạt động của phòng.
1.1.4. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của phòng Tài nguyên - Môi trường gồm hai bộ phận chính
( phòng địa chính và văn phòng đăng kí quyền sử dụng đất ) đặt dưới sự hướng dẫn chỉ
đạo trực tiếp và toàn diện của Trưởng phòng và các Phó phòng.

nguyên – Môi trường nhiệm kỳ 2009-2014. Với những quy định cụ thể về trách nhiệm
chung và phạm vi giải quyết công việc đã tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức
trong phòng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
* Đánh giá, nhận xét:
Qua quá trình thực tập tại phòng Tài nguyên - Môi trường với thời gian gần 2
tháng, em đã có dịp được quan sát các chuyên viên của phòng làm việc, được bước đầu
làm quen với công việc tại các bộ phận chuyên môn thuộc phòng Tài nguyên - Môi
trường. Với những kiến thức đã học kết hợp với những kiến thức thực tế, em xin đưa ra
những nhận xét của mình về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ
công chức, viên chức phòng Tài nguyên – Môi trường như sau:
- Về sự phân công công việc: Cùng với Quyết định của UBND huyện Tứ Kỳ quy
định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng Tài nguyên – Môi trường, Quy chế
làm việc được ban hành ngày 18 tháng 12 năm 2009 đã cụ thể hóa trách nhiệm và phạm
vi công việc cần giải quyết cho từng cán bộ, công chức, viên chức của phòng. Sự phân
10


công nhiệm vụ rõ ràng giữa Trưởng phòng, Phó phòng và các chuyên viên một mặt đã
tránh được sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ dẫn đến hạn chế hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước mà thực tế nhiều cơ quan đang gặp phải. Mặt khác, sự phân công rõ
ràng còn tạo điều kiện thuận lợi cho các chuyên viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao,
gắn quyền lợi với nghĩa vụ, công việc với trách nhiệm. Trong tất cả các bộ phận chuyên
môn của phòng đều được treo bảng Quy chế nhằm lấy đó như một động lực cho các cán
bộ làm việc tích cực có hiệu quả.
- Thực tế quá trình làm việc, cán bộ trong phòng đều chấp hành nghiêm chỉnh Quy
chế làm việc và những quy định của pháp luật hiện hành. Phòng Tài nguyên - Môi trường
đã thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, vai trò của thủ trưởng luôn được đề cao và
coi trọng, đồng thời những ý kiến đóng góp của chuyên viên đều được đưa ra họp bàn
công khai, dân chủ. Từ những quy định cụ thể rõ ràng phòng Tài nguyên - Môi trường
trong những năm qua đã luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, các cán bộ, công

12


CHƯƠNG II: KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
2.1. Quy trình thực hiện
Tổng quan tài liệu và nghiên cứu một cách kỹ lưỡng là việc đầu tiên giúp cho tôi
có cái nhìn đúng đắn hơn về chuyên đề mình thực hiện
Về việc tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Tứ Kỳ: Sau khi
đặt vấn đề và đưa ra mong muốn được hiểu rõ hơn về tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội
của huyện, tôi đã được chị Nguyễn Thi Thu Hương – nhân viên phòng tài nguyên môi
trường cho mượn báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội của huyện Tứ Kỳ năm 2014. Từ
quá trình nghiên cứu và đọc tài liệu, tôi đã rút ra được những nội dung cần thiết phục vụ
cho chuyên đề của mình. . Từ đó, đánh giá được những thuận lợi và khó khăn về điều
kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tới công tác bảo vệ môi trường và quản lý chất thải rắn.
Cũng trong quá trình nghiên cứu các tài liệu tại cơ sở thực tập, tôi có được cái nhìn
khái quát về môi trường của thị trấn Tứ Kỳ nói chung và vấn đề rác thải của thị trấn nói
riêng. Cũng như nhiều địa phương khác, đi liền với sự phát triển kinh tế - xã hội thì vấn
đề môi trường luôn được quan tâm và theo sát
Qua việc phỏng vấn nhanh một số người dân trên địa bàn thị trấn, cùng sự tham
khảo ý kiến của cán bộ môi trường trong phòng tài nguyên môi trường huyện thì tôi có
thêm được cái nhìn tổng quát hơn về những vấn đề chất thải rắn tại khu vực nghiên cứu
đem lại. Từ cái nhìn khái quát về ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và con
người thì tôi càng muốn đi vào tìm hiểu kỹ hơn về nguồn phát sinh cũng như thành phần,
khối lượng và cách xử lý rác thải. Vì đi từ nguyên nhân mới có được những biện pháp
khắc phục cụ thể để làm giảm được mức độ ảnh hưởng của chúng.
Tôi đã được chú Nguyễn Thành Chung – trưởng phòng tài nguyên môi trường
huyện Tứ Kỳ cung cấp cho tài liệu: “Báo cáo kết quả phân tích, lấy mẫu tại các điểm quan
trắc tài nguyên và môi trường trên địa bàn huyện Tứ Kỳ năm 2015”. Từ báo cáo quan trắc
rất chi tiết đó, tôi đã thu thập được nguồn số liệu khá chính xác về nguồn, thành phần,
khối lượng của một số chất thải rắn trên địa bàn thị trấn. Tuy nhiên, trong báo mới đề cập

b.Điều kiện tự nhiên
 Địa hình

Khu vực nghiên cứu có địa hình tương đối bằng phẳng :
- Cao độ ruộng trung bình: +1,2m { 1,7m
- Cao độ dân cư hiện trạng: +2,5m { +2,7m
- Cao đọ tìm đường 191 tại khu vực: +2,9 { +3,1m
Độ dốc nền trung bình 0,1% - 0,4%
Hướng dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam

15


 Khí hậu

Khí hậu của huyện Tứ Kỳ cũng như của khu vực nghiên cứu mang đặc trưng của khí hậu
tỉnh Hải Dương, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền Bắc gồm hai mùa chính là mùa mưa
(mùa hè) và mùa khô (mùa Đông), còn hai mùa chuyển tiếp là mùa Xuân và mùa Thu.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình của các tháng năm 2015 của tỉnh Hải Dương là 23,0 0C,
nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 29,5 0C và 29,60C vào tháng 6 và tháng 7, nhệt độ trung
bình thấp nhất là 15,50C vào tháng 1. (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2014).
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí của khu vực Hải Dương khá cao, theo kết quả quan trắc của
Trạm khí tượng thủy văn Hải Dương cho thấy: Độ ẩm trung bình các tháng năm 2011 là 81%,
các tháng trong mùa hanh khô là tháng 1 và tháng 12 có độ ẩm trung bình 77,2%, độ ẩm trung
bình tháng lớn nhất vào tháng 4 là 86,5%. (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm
2014).
- Lượng mưa: Mưa có tác dụng làm sạch môi trường không khí và pha loãng chất thải
lỏng. Mùa mưa ở khu vực Hải Dương nói chung và ở huyện Tứ Kỳ nói riêng thường xảy ra
trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm từ 80 - 85% tổng lượng mưa cả năm, mùa khô bắt
đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Tổng lượng mưa cả năm 2011 là 1.593 mm. (Nguồn: Niên

triều cường khá mạnh, khi nước lên có một dòng chảy ngược, biên độ triều trong ngày
trung bình từ 70-100 cm.
- Mùa lũ: Thường từ trung tuần tháng 5 đến cuối tháng 10 (có năm lũ bắt đầu sớm
hơn). Mùa này nước lên xuống tuỳ theo lượng nước từ thượng nguồn đổ về nhiều hay ít,
dạng triều bị phá vỡ, không có dòng chảy ngược, biên độ mực nước trong năm thường
khá lớn.
c. Điều kiện kinh tế - xã hội
 Dân số

Theo số liệu điều tra năm 2015, dân số khu vực quy hoạch có khoảng 15.400
người. Tỉ lệ tăng dân số trung bình khu vực: 0,9%

17


Lao động chiếm 52,51% trên tổng số lao động: 7.886 người. Trong đó:
- Lao động nông nghiệp: 4.320 người
- Lao động tiểu thủ công nghiệp: 2.210 người
- Lao động thương nghiệp, dịch vụ: 1.186 người
- Lao động dư thừa: 150 người
 Đất đai

Tổng diện tích đất đai trong khu vực quy hoạch: 729,39ha
Trong đó: Đất thị trấn Tứ Kỳ là thôn La Tỉnh và An Nhân, thôn Vạn, thôn La
Giang là 48,2ha.
Bình quân: 66,9m2/người, chủ yếu là đất ở làng xóm và đất ở một số trục phố chính
của thị trấn.
Tỉ lệ đất giao thông và các công trình hạ tầng kĩ thuật thấp chiếm 14,2%
Đất nghĩa địa còn rất rải rác trong khu vực thị trấn: 2,0ha
Qũy đất còn khai thác trong khu vực quy hoạch: 508,57ha

Các dịch vụ công cộng, dịch vụ kĩ thuật phát triển: Nhiều tổ chức tín dụng ngân
hàng thành lập, hệ thống dịch vụ thông tin phát triển mạnh.
 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp gần đây đang phát triển nhanh chiếm tỷ trọng
30,94% tổng GDP
Trong khu vực thị trấn hiện có gần 20 cơ sở sản xuất của tập thể và tư nhân, chủ
yếu ngành sản xuất là : cơ khí, ngành mộc và nghề truyền thống của khu vực là mây, tre
đan. Đây là nghề thu hút phần lớn lực lượng lao động trong thị trấn đóng góp khối lượng
lớn cho xuất khẩu.
 Y tế

Trung tâm y tế Tứ Kỳ có diện tích: 18.641m 2 tổng số 127 cán bộ y tế, ngoài ra khu
vực còn có một số cơ sở y tế tư nhân hoạt động
Cơ sở được đầu tư xây dựng khang trang đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ở các
tuyến.

19


Cơ sở có diện tích đất đảm bảo quy mô cho cấp huyện, vị trí xây dựng hiện tại đã
phù hợp.
 Giáo dục

Khu vực thị trấn hiện có 5 trường :
- Trường THPT có diện tích: 10.500m2
- Trường THCS thị trấn: 6.850m2
- Trường THCS Phan Bội Châu: 2.150m2
- Trung tâm giáo dục thường xuyên: 2.144m2
- Nhà trẻ Hoa Sen: 1.600m2

sách nhà nước và bộ mặt của toàn tỉnh.
- Nguồn nhân lực dồi dào, lao động trẻ khỏe, người dân chịu khó lao động và đã biết vận
dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất.
 Khó khăn

- Lượng nước thải từ sinh hoạt và sản xuất còn lớn và chưa được xử lý
- Lượng rác thải ngày càng tăng, hiệu suất thu gom còn hạn chế, số còn lại thải bỏ bừa bãi
ra ngoài môi trường
- Cán bộ làm công tác môi trường còn mỏng và thiếu chuyên môn về môi trường
- Nhận thức và ý thức chấp hành vệ sinh môi trường của một bộ phận dân cư còn chưa
cao
- Kinh phí cho công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế gây khó khăn cho công tác quản


21


2.2.2. Khái quát về hiện trạng môi trường thị trấn Tứ Kỳ
Cũng giống như các địa phương khác trên cả nước,song song với sự phát triển về
kinh tế - văn hóa thì vấn đề môi trường ở địa phương cũng ngày càng trở lên báo động.
Rác thải hiện nay đang là vấn đề bức xúc nhất . Hiện trạng trên cũng là vấn đề mà
người dân khu vực thị trấn quan tâm. Theo ước tính của tổ vệ sinh môi trường làm công
tác thu gom rác hàng ngày thì lượng rác thải ra của mỗi người dân vào khoảng 0,4- 0,5 kg
rác/ngày. Như vậy, với số dân 15400 người trên địa bàn thị trấn mỗi ngày sẽ có khoảng
7700 kg rác thải cần được xử lý, thu gom.
Tuy nhiên, việc thu gom rác chưa được coi trọng, nhiều khu chưa có các đơn vị
chuyên trách trong việc thu gom rác thải. Một số nơi đã áp dụng các biện pháp thu gom
rác thải sinh hoạt nhưng với quy mô nhỏ, phần lớn do tổ chức thu gom, phương tiện thu
gom còn rất thô sơ với các xe cải tiến chuyên chở về nơi tập trung rác.. Tỷ lệ thu gom rác
thải sinh hoạt mới đạt khoảng 40 - 55%. Do tỷ lệ thu gom chưa đáp ứng nhu cầu, nên rác

bị suy thoái. CTR phân huỷ và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu
đen, có mùi khó chịu.
- Ô nhiễm đất
Các chất thải rắn có thể được tích lũy dưới đất trong thời gian dài gây ra nguy cơ
tiềm tàng đối với môi trường. Chất thải xây dựng như gạch, ngói, thủy tinh, ống nhựa,
dây cáp, bê-tông... trong đất rất khó bị phân hủy.
Các kim loại này tích lũy trong đất và thâm nhập vào cơ thể theo chuỗi thức ăn và
nước uống, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe. Các chất thải có thể gây ô nhiễm đất ở
mức độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, màu
vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hóa chất...
b. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe con người

Việc quản lý và xử lý CTR không hợp lý không những gây ô nhiễm môi
trường mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ con người, đặc biệt đối với người dân sống
gần khu vực làng nghề, khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải...
Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các bệnh da liễu, viêm
phế quản, đau xương khớp cao hơn hẳn những nơi khác.
Hai thành phần chất thải rắn được liệt vào loại cực kỳ nguy hiểm là kim loại nặng
và chất hữu cơ khó phân hủy. Các chất này có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản,
thực phẩm cũng như trong mô tế bào động vật, nguồn nước và tồn tại bền vững trong
môi trường gây ra hàng loạt bệnh nguy hiểm đối với con người như vô sinh, quái thai, dị
23


tật ở trẻ sơ sinh; tác động lên hệ miễn dịch gây ra các bệnh tim mạch, tê liệt hệ thần
kinh, giảm khả năng trao đổi chất trong máu, ung thư và có thể di chứng di tật sang thế hệ
thứ 3…
2.2.4. Tìm hiểu nguồn gốc phát sinh chất thải rắn trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ
a. Nguồn gốc phát sinh
 Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sinh hoạt tại khu dân cư

gồm chất thải công nghiệp không nguy hại và chất thải rắn nguy hại. Trong đó, chất thải
nguy hại là các chất có thể dễ cháy nổ, các chất có độc tính cao hoặc các chất dễ ăn mòn
nhiều vật liệu khác. Khối lượng và thành phần chất thải rắn công nghiệp cũng rất khác
nhau, tùy thuộc loại hình sản xuất của công ty, cơ sở, hộ sản xuất. Chất thải rắn công
nghiệp từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, công nghiệp, thương mại, dịch vụ có thành
phần vô cơ chiếm đến 85%, khó phân huỷ sinh học. Các loại chất thải rắn công nghiệp
trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ chủ yếu là các phế liệu kim loại, bìa các-tông, xốp, gỗ, nhiên
liệu trong sản xuất, phế liệu trong xây dựng
Ngành sản xuất vật liệu xây dựng cũng có chất thải khá lớn, không nhiều chất thải
rắn nguy hại nhưng làm ô nhiễm nặng nề cho môi trường về bụi và phế thải đổ bừa bãi
mất vệ sinh nơi sản xuất, ảnh hưởng đến các cơ sở sản xuất khác trong cụm công nghiệp.
 Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động y tế

CTR của bệnh viện được thải ra từ nhiều nguồn khác nhau: trong hoạt động khám
chữa bệnh, phẫu thuật, điều trị, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, ăn uống, sinh hoạt
của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, cán bộ công nhân viên nhằm phục vụ cho việc chăm
sóc sức khỏe con người.
CTR y tế có thành phần khá phong phú như: bông băng, gạc, kim tiêm, túi nhựa,
dao mổ, phim chụp X-quang, dược phẩm, bệnh phẩm, ống thủy tinh,lọ, găng tay cao su,
khăn giấy.
Việc phân loại chất thải và xác định nguồn thải của bệnh viện được tóm tắt trong
bảng sau:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status