CUỘC THI KHOA HỌC KĨ THUẬT DÀNH CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM HỌC 2015 - 2016
ĐỀ TÀI
NHẬN THỨC VỀ THÓI ÍCH KỈ CỦA HỌC SINH THCS
Lĩnh vực: 02 - Khoa học xã hội và hành vi
Phần 1. Giới thiệu về tổng quan vấn đề nghiên cứu.
1.1 Giới thiệu đề tài nghiên cứu:
1.1.1 - Lí do chọn đề tài:
Để một tập thể lớp, một ngôi trường ngày càng phát triển, tiến bộ thì đòi hỏi cần
mỗi học sinh phải có tính đoàn kết, chia sẻ giúp đỡ với bạn bè, tập thể lớp. Tuy nhiên,
thực trạng hiện nay cũng cho thấy số lượng lớn học sinh không biết đoàn kết, giúp đỡ bạn
bè, chỉ biết nghĩ cho mình, đó chính là thói ích kỉ. Nếu 1 tập thể mà có những học sinh
mắc thói ich kỉ thì tập thể đó sẽ chậm tiến bộ. Vấn đề này cần được khắc phục. Tuy
nhiên, ta cần phải biết nguyên nhân chính của thói ích kỉ là do đâu?
1.1.2. Ý nghĩ khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Đánh giá khách quan về thói ích kỉ và khả năng nhận thức của học sinh THCS.
- Nghiên cứu về các cách tác động vào khả năng nhận thức của học sinh.
- Đưa ra các cách giải quyết phù hợp nhằm thay đổi nhận thức của học sinh.
1.1.3 - Giới hạn nghiên cứu:
- Bắt đầu từ 9/2015 - 10/2015
- Giới hạn đối tượng nghiên cứu: 115 học sinh khối 9 trường THCS Cẩm Sơn.
1.2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu:
Ích kỉ
- ích kỉ là chỉ biết vì lợi ích riêng của mình, không uqna tâm giúp đỡ mọi người xung
quanh, không biết vì tập thể.
Nhận thức
- Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh
biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng
bao quát rộng lớn nhất về đối tượng
Nếu chỉ dừng lại ở phán đoán thì nhận thức chỉ mới biết được mối liên hệ
giữa cái đơn nhất với cái phổ biến, chưa biết được giữa cái đơn nhất trong
phán đoán này với cái đơn nhất trong phán đoán kia và chưa biết được mối
quan hệ giữa cái đặc thù với cái đơn nhất và cái phổ biến. Chẳng hạn qua
các phán đoán thí dụ nêu trên ta chưa thể biết ngoài đặc tính dẫn điện
giống nhau thì giữa đồng với các kim loại khác còn có các thuộc tính
giống nhau nào khác nữa. Để khắc phục hạn chế đó, nhận thức lý tính phải
vươn lên hình thức nhận thức suy luận
o
o
o
Suy luận: là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại với
nhau để rút ra một phán đoán có tính chất kết luận tìm ra tri thức mới. Thí
dụ, nếu liên kết phán đoán "đồng dẫn điện" với phán đoán "đồng là kim
loại" ta rút ra được tri thức mới "mọi kim loại đều dẫn điện". Tùy theo sự
kết hợp phán đoán theo trật tự nào giữa phán đoán đơn nhất, đặc thù với
phổ biến mà người ta có được hình thức suy luận quy nạp hay diễn dịch
Ngoài suy luận, trực giác lý tính cũng có chức năng phát hiện ra tri thức
mới một cách nhanh chóng và đúng đắn
Giai đoạn này cũng có hai đặc điểm:
o Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng
o Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng
Nhận thức cảm tính và lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính. Không
có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật.
với thực tiễn nên tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lý luận và
cung cấp tư liệu để tổng kết thành lý luận. Ngược lại, mặc dù được hình thành từ tổng kết
kinh nghiệm, nhận thức lý luận không xuất hiện một cách tự phát từ kinh nghiệm. Do tính
độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những sự kiện kinh nghiệm, hướng dẫn
sự hình thành tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn kinh nghiệm hợp lý để phục vụ
cho hoạt động thực tiễn. Thông qua đó mà nâng những tri thức kinh nghiệm từ chỗ là cái
cụ thể, riêng lẻ, đơn nhất trở thành cái khái quát, phổ biến
Theo học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin, nắm vững bản chất, chức năng của từng loại
nhận thức đó cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chúng có ý nghĩa phương pháp luận
quan trọng trọng việc đấu tranh khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều
Dựa vào tính tự phát hay tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của sự vật
•
•
•
Nhận thức thông thường (hay nhận thức tiền khoa học) là loại nhận thức được
hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con
người. Nó phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm chi tiết,
cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật. Vì vậy, nhận thức thông thường
mang tính phong phú, nhiều vẻ và gắn với những quan niệm sống thực tế hàng
ngày. Vì thế, nó thường xuyên chi phối hoạt động của con người trong xã hội. Thế
nhưng, nhận thức thông thường chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở bề ngoài, ngẫu nhiên
tự nó không thể chuyển thành nhận thức khoa học được
Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián
tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của các sự vật.
Nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng, khái quát lại vừa có tính
Qua phiếu test trắc nghiệm kiểm tra khách quan về thói ích kỉ tại 3 nhóm học sinh
khác nhau. Mỗi câu hỏi sẽ có 2 câu trả lời. Ứng với mỗi câu trả lời sẽ có 1 đáp án tương
ứng với thói ích kỉ và đáp án còn lại không tương ứng với thói ích kỉ. Với mỗi câu tra lời
cho thói ích kỉ sẽ cộng 2 điểm, câu tra lời không cho thói ích kỉ sẽ cộng 1 điểm.
Xét trên tháng điểm đo từ 1 - 14, chia làm 3 nấc khác nhau.
- Nấc 1: Từ 1-7 điểm: Bạn là người không có thói ích kỉ.
- Nấc 2: Từ 8-12 điểm: Bạn có tính ích kỉ nhưng không quá mức.
- Nấc 3: Từ 13-14 điểm: Bạn là người ích kỉ.
3.4 - Nghiên cứu tác động:
Sử dụng các phương pháp tác động khác nhau và 3 nhóm đối tượng nghiên cứu
khác nhau:
- Nhóm 1: Tác động trực tiếp:
- Qua thính giác: Nghe thuyết trình 1 bài luận ngắn về thói ích kỉ (biểu hiện,
nguyên nhân, kết quả)
- Qua thị giác: Xem một đoạn phim ngắn về tác hại của thói ích kỉ.
- Nhóm 2: Tác động gián tiếp:
- Giả thiết một tình huống bí mật diễn ra ngay tại nhóm 2.
- Nhóm 3: Không tác động:
3.5 - Nghiên cứu kết quả sau tác động:
Tiếp tục kiểm tra test trắc nghiệm khách quan đợt 2 tại 3 nhóm. Vẫn theo hình
thức test cộng điểm. Mỗi câu hỏi sẽ có 2 câu trả lời. Ứng với mỗi câu trả lời sẽ có 1 đáp
án tương ứng với thói ích kỉ và đáp án còn lại không tương ứng với thói ích kỉ. Với mỗi
câu tra lời cho thói ích kỉ sẽ cộng 2 điểm, câu tra lời không cho thói ích kỉ sẽ cộng 1
điểm.
Xét trên tháng điểm đo từ 1 - 14, chia làm 3 nấc khác nhau.
- Nấc 1: Từ 1-7 điểm: Bạn là người không có thói ích kỉ.
- Nấc 2: Từ 8-12 điểm: Bạn có tính ích kỉ nhưng không quá mức.
- Nấc 3: Từ 13-14 điểm: Bạn là người ích kỉ.
Từ 8-12 điểm
Nhóm 1
30.2%
63.1%
Nhóm 2
25.3%
62.4%
Nhóm 3
23.2%
42.1%
Từ 13-14 điểm
6.7%
12.3%
34.7%
Qua 3 biểu đồ trên, có thể thấy được rằng, sự tác động khác nhau sẽ dẫn đến những kết
quả khác nhau.
4.3 - Phân tích, giải thích:
4.3.1 - Phân tích:
- Trong cả ba nhóm, nhóm 1 là nhóm có thay đổi chênh lệch lớn nhất.
Với nhóm học sinh không ích kỉ: tăng từ 11.3% đến 30.2% (Tăng 18.9%)
có cách giải quyết cho mỗi vấn đề.
- Đặc điểm của nhóm 1:
` Hiểu sâu được bản chất của vấn đề.
` Có nền tảng cơ bản vững chắc.
Ở nhóm 2:
- Qua những tình huống ứng xử hành ngày được diễn ra với tần suất lớn, nó sẽ
trở thành những trải nghiệm đối với mỗi cá nhân học sinh. Từ đó, mỗi học
sinh sẽ nhận ra nhiều bài học, kinh nghiệm trong những tình huống đó. Đây là
quá trình nhận thức cảm tính.Vì bản thân mỗi học sinh khhi được tiếp xúc với
các tình hướng được giả định chỉ phản ánh 1 phần của toàn bộ sự việc, do đó
chưa có cái nhìn cụ thể chính xác. Tuy nhiên, những phản ánh 1 phần đó,
nhiều lại sẽ trở thành 1 kinh nghiệm và kinh nghiệm đó chưa toàn diện, đầy
đủ.
- Theo chủ nghĩa duy vật của Mác - Lenin, thứ nhất dựa vào trình độ thâm
nhập vào bản chất đối tượng qua những tình huống sống thực tế là Nhận thức
kinh nghiệm. Nhận thức kinh nghiệm hình thành từ sự quan sát trực tiếp các
sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học.
Thường xuyên tác động sẽ tạo dựng cho học kinh nghiệm, từ đó tạo ra cách
ứng xử đúng đắn trong các tình huống.
- Thứ 2 dựa vào tính tự phát hay tự giác của sự xâm nhập và bản chất sự vật
thì đây là loại nhận thức thông thường: do tính tự phát, trực tiếp trong hoạt
dộng đời sống hàng ngày của con người. Hàng ngày tiếp xúc với những tình
huống ích kỉ ngay tại lớp học, được nhìn thấy những cách cư xử khác nhau, có
cái đúng có cái sai. Bản thân mỗi học sinh sẽ tự nhận thức được như thế nào
sẽ tốt, từ đó đúc kết thành kinh nghiệm cho bản thân.
=> Dù mỗi học sinh không có được nền tảng về thói ích kỉ, không được giảng giải cặn kẽ
tuy nhiên trong môi trường học tập, phát triển có nhiều những tình huống xảy ra xung
quanh tính ích kỉ và cách cư xử giải quyết vấn đề ích kỉ thì mỗi học sinh sẽ tự nhận ra
nhiều kinh nghiệm cho bản thân ngay từ đó. Nhưng, tùy thuộc vào khả năng nhận thức
của mỗi cá nhân, cũng với những tình huống như vậy nhưng có người hiểu và có người
chính bản thân mình những cách ứng xử thật thông minh đối với những người ích kỉ.
Phiếu test:
Câu 1: Giả sử: Bạn có 1 đứa em. EM bạn hỏi bạn rằng: " Bố, mẹ và em anh/chị yêu ai
nhất?" Câu trả lời của bạn sẽ là:
a, Yêu bố/ mẹ/ em nhất.
b, Yêu tất cả gia đình mình.
Câu 2: Bạn đang đi ngoài đường, có vụ đâm xe của một bạn học sinh cùng trường va vào
chiếc xe máy. Bạn sẽ làm gì nếu thấy tình huống đó?
a, Chỉ đứng đó xem.
b, Ra giúp bạn.
Câu 3: Trong giờ kiểm tra đột xuất 15p, bạn thừa tờ giấy kiểm tra, bạn A em xin vì không
có giấy. Nhưng lần trước, khi em mượn đồ của bạn A thì bạn lại không cho mượn và tỏ
thái độ vớ bạn. Lần này em sẽ làm gì?
a, Vẫn cho bạn mượn giấy.
b. Nhất quyết không cho mượn.
Câu 4: Trong lần làm báo tường cho lớp, nếu được tự chọn công việc, em sẽ chọn phương
án nào:
a, Chọn cái nào dễ nhất.
b, Chọn làm nhóm cùng các bạn cho công việc phù hợp.
Câu 5: Bạn học trong nhóm học thêm của lớp. Trong một bài tập của nhóm, kết quả của
bạn khác với kết quả các bạn trong nhóm. Bạn sẽ giải quyết như thê nào?
a, Kiên quyết bảo vệ ý kiến của mình là đúng.
b, Xem xét ý kiến của cả bạn và mình.
Câu 6: Bạn chơi cùng nhóm bạn trong lớp. Vì một xích mích mà bạn B bị mọi người
trong nhóm bỏ mặc. Cả bạn B và mọi người trong nhóm đều bực tức và không có ý định
làm hòa với nhau. Là người ở giữa, bạn sẽ hành động như thế nào?
a, Mặc kê, chẳng ảnh hưởng gì đến bản thân mình.
b, Giúp mọi người hiểu vấn đề, giảng hòa với nhau.
a
b
a
b
a
b
a
b a
b
1
2
1
2
2
1