ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ DUNG
THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG ANH TUẤN
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Dung
1.4.1. Đảm bảo thực hiện tố quyền dân sự................................................................27
1.4.2. Đảm bảo trật tự công trong tố tụng dân sự. ...................................................30
1.5. Pháp luật của một số nước về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự .......................31
1.5.1. Pháp luật Mỹ về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự .........................................31
1.5.2. Pháp luật Pháp về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự .....................................33
1.5.3. Pháp luật Liêng bang Nga về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự ....................34
1.5.4. Pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự .....36
1.5.5. Pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự ..37
Kết luận chương 1 ...................................................................................................399
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC PHIÊN
TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN TẠI BẮC NINH ...........................40
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về thủ tục phiên toà sơ thẩm ...........................40
2.1.1. Các quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa ......................................................45
2.1.2. Các quy định về thủ tục hỏi .............................................................................48
2.1.3. Các quy định về thủ tục tranh luận .................................................................59
2.1.4. Các quy định về thủ tục nghị án và tuyên án ..................................................65
2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự tại tỉnh Bắc
Ninh ...........................................................................................................................69
2.2.1. Tình hình thụ lý và giải quyết sơ thẩm vụ án dân sự của ngành Tòa án nhân
dân tỉnh Bắc Ninh ......................................................................................................69
2.2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự tại tỉnh
Bắc Ninh ....................................................................................................................72
2.3. Nguyên nhân khiếm khuyết của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ
tục phiên toà sơ thẩm dân sự tại tỉnh Bắc Ninh ........................................................80
2.3.1. Trình độ lập pháp của Việt Nam còn hạn chế.................................................80
2.3.2. Năng lực đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân của Tòa án hai cấp tỉnh Bắc
Ninh còn hạn chế .......................................................................................................82
2.3.3. Trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế và sự phát triển của
KẾT LUẬN ............................................................................................................116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................118
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
Bộ luật Dân sự
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng dân sự
HĐXX
Hội đồng xét xử
TAND
Tòa án nhân dân
Luật TCTAND
Luật Tổ chức tòa án nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
BLTTDS năm 2004 ra đời đã thay thế các pháp lệnh: Pháp lệnh thủ tục
thực tiễn xét xử, dẫn đến việc hiểu và áp dụng tại các Tòa án không thống
nhất, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án cũng như kéo dài thời gian
giải quyết, chưa đáp ứng được yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp theo
tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết luận 92-KL/TW ngày
12/3/2014 tiếp tục thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020 do Bộ Chính trị ban hành. Do đó, việc nghiên cứu để làm
rõ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục phiên
tòa sơ thẩm dân sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Mặt khác, việc
nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về thủ tục
phiên tòa sơ thẩm dân sự tại một Tòa án địa phương cụ thể, qua đó đưa ra
những giải pháp hoàn thiện pháp luật pháp luật trong lĩnh vực này là một hoạt
động cần thiết. Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề “Thủ tục phiên
tòa sơ thẩm dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc
Ninh” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
phiên tòa sơ thẩm dân sự, điển hình như: (1) Bùi Thị Huyền, Phiên tòa dân sự
sơ thẩm - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội, 2008; (2) Nguyễn Hoành Đạt, Hoàn thiện các quy định
của pháp luật Tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm theo tinh thần cải cách tư
pháp, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006; (3)
Nguyễn Hà Giang, Thủ tục hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm,
Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, 2008; (4)
Nguyễn Thúy Hằng, Phiên tòa sơ thẩm dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa
án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2014; (5) Lê Thị Thúy Nga, Thủ tục hỏi và
2
tư pháp. Từ đó mục tiêu cụ thể của đề tài là giải quyết về mặt lý luận các khái
niệm thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng như các vấn đề có liên quan.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành, nêu lên
thực trạng của việc áp dụng luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân
sự tại phiên tòa sơ thẩm. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị
nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục
phiên tòa sơ thẩm.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu
các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS
mà không nghiên cứu toàn bộ các quy định về phiên tòa sơ thẩm, cũng như
không nghiên cứu về thủ tục phiên họp giải quyết việc dân sự. Luận văn chỉ
đề cấp đến thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự như là một giai đoạn của quá
trình giải quyết vụ án dân sự. Về thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật
về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự, đề tài chỉ nghiên cứu và đánh giá trong
phạm vi hẹp là tại TAND hai cấp của tỉnh Bắc Ninh, trong thời gian 05 năm
gần đây.
5. Nội dung, địa điểm và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nội dung nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu các nội dung về: Những vấn đề lý luận cơ
bản về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự; thực trạng pháp luật Việt Nam hiện
hành về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự và thực tiễn thực hiện tại TAND
tỉnh Bắc Ninh và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phiên tòa sơ
thẩm dân sự.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Quá trình nghiên
cứu, đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân
dân sự mà chỉ tập trung nghiên cứu về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự; thứ
hai, nghiên cứu quy định mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
BLTTDS năm 2011 về thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm, đồng thời đánh giá
5
các quy định trong Dự thảo BLTTDS sửa đổi năm 2015 về thủ tục phiên tòa
sơ thẩm dân sự; thứ ba, là nêu được thực tiễn thực hiện quy định về thủ tục
phiên tòa sơ thẩm dân sự tại Tòa án hai cấp tỉnh Bắc Ninh. Từ đó, đề tài sẽ
đưa ra những giải pháp, kiến nghị có cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần vào
quá trình hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục phiên tòa sơ thẩm
dân sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được kết cầu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục phiên tòa sơ thẩm
dân sự;
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về thủ tục phiên tòa sơ thẩm
dân sự và thực tiễn tại Bắc Ninh;
Chương 3: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự.
6
Chƣơng 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC
PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự
1.1.1. Khái niệm phiên toà sơ thẩm dân sự
án” [49, tr278]. Khái niệm này, chỉ mới dừng lại ở việc mô tả khái quát và xác
định vị trí của phiên tòa sơ thẩm dân sự trong toàn bộ quá trình tố tụng dân
sự, mà chưa nêu lên được bản chất của phiên tòa sơ thẩm dân sự.
Theo tiến sĩ Bùi Thị Huyền: “Phiên tòa sơ thẩm dân sự là phiên họp
công khai lần đầu của Tòa án với sự tham gia của những người tham gia tố
tụng theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định để Tòa án ra phán quyết về
toàn bộ vụ việc dân sự hoặc những vấn đề còn tranh chấp giữa các bên đương
sự” [7, tr34]. Với khái niệm này, tác giả đã đưa ra được đầy đủ các dấu hiệu
và bản chất của phiên tòa sơ thẩm dân sự như là một phiên họp, phiên họp này
được tiến hành công khai, do Tòa án tiến hành, có sự tham gia của những
người tham gia tố tụng, được tiến hành theo một thủ tục chặt chẽ, là phiên họp
lần đầu của Tòa án, để đưa ra phán quyết về việc giải quyết toàn bộ vụ việc
dân sự. Tuy nhiên, theo tác giả, nếu đưa ra dấu hiệu “công khai” trong khái
niệm này sẽ không thật chính xác, vì có những trường hợp đặc biệt, để đảm
bảo an ninh quốc gia hoặc đảm bảo thuần phong mỹ tục, vẫn có thể xét xử
kín. Ngoài ra, phiên tòa sơ thẩm dân sự có sự phân biệt với phiên họp giải
quyết việc dân sự. Do vậy, trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ không đề
cập đến khái niệm này cho giải quyết việc dân sự, vì vậy thuật ngữ “vụ việc
dân sự mà khái niệm này đưa ra sẽ không được sử dụng mà thay vào đó là
khái niệm “vụ án dân sự”.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các khái niệm nêu trên, tác giả đưa ra
khái niệm “phiên tòa sơ thẩm dân sự” như sau: Phiên tòa sơ thẩm dân sự là
phiên họp lần đầu của Tòa án với sự tham gia của những người tham gia tố
tụng theo những nguyên tắc, thủ tục luật định để Tòa án ra bản án, quyết định
giải quyết vụ án dân sự.
8
1.1.2. Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm dân sự
a) Phiên tòa sơ thẩm dân sự là phiên họp của Tòa án để xét xử lần đầu
đó, phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là phiên xét xử lần đầu, mà
phải được thực hiện sau khi đã xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Tại phiên tòa
giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự, Tòa án không giải quyết lại vụ án, không xác
định quyền và nghĩa vụ của các đương sự mà chỉ xem xét Tòa án đã xét xử vụ
án có vi phạm pháp luật hay không, hoặc có tình tiết mới làm thay đổi bản án,
quyết định hay không. Nếu phát hiện có vi phạm pháp luật, Tòa án có thẩm
quyền sẽ hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm
hoặc phúc thẩm lại. Nếu phát hiện tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án,
Tòa án có thẩm quyền sẽ hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp để xét xử
sơ thẩm lại.
b) Phiên tòa sơ thẩm dân sự được tiến hành với sự có mặt của tất cả
những người tham gia tố tụng
Phiên tòa sơ thẩm dân sự phải được tiến hành với sự có mặt của tất cả
những người tham gia tố tụng bao gồm đương sự, người đại diện của đương
sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng,
người giám định, người phiên dịch, đại diện Viện kiểm sát. Tòa án chỉ có thể
xét xử vắng mặt họ khi có căn cứ theo quy định của pháp luật. Việc này nhằm
đảm bảo cho việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm dân sự được chính xác, khách
quan, đúng pháp luật. Các đương sự đều có quyền trình bày yêu cầu, chứng
cứ, lập luận của mình và nghe yêu cầu, chứng cứ, lập luận của các đương sự
khác. Tòa án thẩm định, đánh giá công khai, khách quan các yêu cầu của
đương sự, cũng như lời khai của người làm chứng, kết luận giám định. Từ đó,
Tòa án sẽ đưa ra quyết định giải quyết toàn diện vụ án một cách khách quan,
chính xác, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Không giống như phiên tòa sơ thẩm dân sự, phiên tòa phúc thẩm, phiên
tòa giám đốc, tái thẩm dân sự không nhất thiết phải có mặt đầy đủ người tham
gia tố tụng. Tại phiên tòa phúc thẩm dân sự, chỉ cần sự có mặt của người
kháng cáo và những người có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng
10
chứng cứ của vụ án và kết quả tranh luận của các đương sự, Tòa án sẽ ra phán
11
quyết giải quyết toàn bộ vụ án. Bản án, quyết định của HĐXX tại phiên tòa sơ
thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật nếu hết một thời hạn nhất định mà không có
kháng cáo kháng nghị. Các đương sự có nghĩa vụ tôn trọng và chịu trách
nhiệm thi hành, nếu không thi hành sẽ được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của
Nhà nước, cụ thể là cơ quan thi hành án dân sự.
e) Phiên tòa sơ thẩm dân sự có những đặc điểm khác với phiên tòa sơ
thẩm hình sự và phiên tòa sơ thẩm hành chính.
Do bản chất các quan hệ pháp luật dân sự, hình sự hành chính là khác
nhau, dẫn đến sự khác nhau giữa phiên tòa sơ thẩm dân sự và phiên tòa sơ
thẩm hình sự, phiên tòa sơ thẩm hành chính. Trong đó sự khác nhau rõ nét
nhất thể hiện giữa phiên tòa sơ thẩm dân sự và phiên tòa sơ thẩm hình sự.
Việc giải quyết vụ án dân sự xuất phát từ việc thực hiện quyền khởi
kiện của một bên đương sự. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu
nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, không có căn cứ để đình chỉ hoặc
tạm đình chỉ và không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự thì phải mở phiên tòa sơ thẩm dân sự. Do vậy, phiên tòa sơ thẩm dân sự
được mở dựa trên quyền cầu của đương sự. Việc giải quyết vụ án hình sự là
việc Nhà nước phán quyết trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm pháp
luật hình sự. Việc mở phiên tòa sơ thẩm là trên cơ sở quyết định của cơ quan
tiến hành tố tụng (cơ quan công an, cơ quan kiểm sát hoặc cơ quan công tố).
Phạm vi và diễn biến của phiên tòa sơ thẩm dân sự phụ thuộc vào
quyền tự định đoạt của đương sự. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự,
đương sự có quyền đưa ra yêu cầu, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu hoặc
thỏa thuận về giải quyết vụ án. Quyền tự định đoạt của đương sự sẽ quyết
định diễn biến của phiên tòa, phiên tòa có thể tiếp tục diễn ra hoặc kết thúc
ngay ở phần hỏi hoặc đình chỉ giải quyết vụ án. Trong khi phạm vi và diễn
a) Về phương diện pháp lý:
Phiên tòa sơ thẩm dân sự là phương thức để Tòa án giải quyết vụ án
dân sự khi các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
nội dung tranh chấp. Xem xét một cách tổng thể đối với toàn bộ quá trình giải
13
quyết vụ án dân sự thì phiên tòa sơ thẩm dân sự đóng vai trò trung tâm, tác
động và chi phối các hoạt động tố tụng trước và sau nó [7, tr35].
Phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn để kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt
động của Tòa án ở các giai đoạn trước đó bao gồm thụ lý, thu thập chứng cứ,
hòa giải, chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Bởi vì, tại phiên tòa sơ thẩm, các yêu cầu
của đương sự, các tài liệu, chứng cứ được xem xét một cách toàn diện, trực
tiếp, công khai và khách quan, qua đó HĐXX có thể làm rõ được các thủ tục
tố tụng trước đó đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật chưa, chứng
cứ đã được thu thập đầy đủ để có thể đưa ra được phán quyết cuối cùng hay
chưa. Từ việc phát hiện ra các sai sót ở các giai đoạn tố tụng trước, Tòa án có
thể có giải pháp khắc phục kịp thời, hạn chế tối đa việc hủy, sửa án sơ thẩm ở
các thủ tục xét xử tiếp theo. Kết quả của phiên tòa sơ thẩm là căn cứ để thực
hiện thủ tục phúc thẩm dân sự, giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự.
Mặt khác, phiên tòa sơ thẩm dân sự còn có ý nghĩa quan trọng đối với
hoạt động lập pháp. Tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, Tòa án cùng với những
người tham gia tố tụng kiểm tra, phân tích, đánh giá toàn diện các yêu cầu, tài
liệu, chứng cứ, phân tích và áp dụng các quy định của pháp luật nội dung và
pháp luật tố tụng để đưa ra phán quyết cuối cùng. Thông qua việc phân tích
các quy định của pháp luật, Tòa án có thể tìm ra những hạn chế, vướng mắc
của các quy định hiện hành, cũng như khoảng trống của pháp luật, từ đó có
những kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp hoặc ban
hành các văn bản pháp luật mới thay thế.
Phiên tòa sơ thẩm dân sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết
vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm. Kết quả của phiên tòa là bản án sơ thẩm.
Tại bản án sơ thẩm, xác định rõ quan hệ pháp luật tranh chấp, quyền và nghĩa
vụ của các đương sự trong vụ án. Do đó, phiên tòa sơ thẩm xác định lại cho
đúng nội dung của quan hệ pháp luật, vị trí, quyền và nghĩa vụ của các đương
sự trong quan hệ đó. Qua đó đảm bảo việc thực hiện chức năng xét xử, thực
hiện quyền tư pháp của Tòa án.
Phiên tòa sơ thẩm được tổ chức công khai, mọi công dân đều có quyền
dự. Thông qua việc xem xét, đánh giá chứng cứ, xem xét giải quyết các yêu
15
cầu của đương sự, cũng như việc phân tích các quy định của pháp luật tại
phiên tòa sơ thẩm dân sự, Tòa án đã thực hiện được việc tuyên truyền, phổ
biến pháp luật, giúp người dân hiểu rõ hơn về đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của nhà nước. Từ đó, họ cũng nắm rõ hơn quyền và nghĩa vụ
của mình khi tham gia các quan hệ xã hội, để thực hiện và tuân thủ pháp luật,
hạn chế việc xảy ra các tranh chấp trên thực tế. Như vậy, ý nghĩa của phiên
tòa sơ thẩm không chỉ giúp nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của công dân
mà còn góp phần ổn định trật tự xã hội.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục phiên tòa sơ thẩm
dân sự
1.2.1. Khái niệm thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự
Thủ tục là “Những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định để
tiến hành một công việc có tính chất chính thức” [52, tr927]; là “Cách thức
tiến hành công việc theo một thứ tự hoặc một thể lệ đã quen” [9, tr1764].
Nội hàm của định nghĩa “thủ tục” nêu trên bao gồm cả hai yếu tố nội
dung và hình thức. Nội dung của thủ tục là những việc phải thực hiện và hình
thức của thủ tục là cách thức, trật tự tiến hành các công việc đó. Định nghĩa
“thủ tục” cũng cho thấy: Thủ tục luôn gắn liền với một công việc nhất định. Do
rút gọn
Thủ tục rút gọn là thủ tục giải quyết vụ án dân sự được rút ngắn thời
gian và thủ tục, được áp dụng đối với các vụ án có giá trị tranh chấp nhỏ, đã
có đầy đủ tài liệu, chứng cứ, các đương sự đều có nơi cư trú rõ ràng. Đối với
thủ tục rút gọn, phiên tòa sơ thẩm dân sự sẽ được tổ chức đơn giản hơn, có thể
cắt bớt một hoặc một số thủ tục, để đảm bảo cho phiên tòa được diễn ra nhanh
chóng, nhưng vẫn đảm bảo được phán quyết của Tòa án là chính xác và khách
quan. Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có quy định về thủ tục rút gọn,
nhưng pháp luật của nhiều nước trên thế giới đã quy định về thủ tục này.
b) Phạm vi và diễn biến của phiên tòa sơ thẩm dân sự phụ thuộc vào
quyền tự định đoạt của đương sự
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đương sự có quyền đưa ra yêu
cầu, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu. Tòa án không thể tự mình xác định
17
phạm vi xét xử của phiên tòa sơ thẩm dân sự, mà phải căn cứ vào yêu cầu mà
đương sự đưa ra tại phiên tòa, phụ thuộc vào quyền tự định đoạt của đương
sự. Diễn biến của phiên tòa sơ thẩm dân sự cũng phụ thuộc vào quyền tự định
đoạt của đương sự. Nếu đương sự rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, thì Tòa án
phải đình chỉ giải quyết vụ án. Nếu đương sự thỏa thuận được việc giải quyết
toàn bộ vụ án, thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự, thủ tục phiên tòa chỉ dừng lại ở phần hỏi. Nếu đương sự không rút
yêu cầu khởi kiện, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án,
thì phiên tòa sơ thẩm được tiến hành đầy đủ các thủ tục theo luật định.
c) Thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự khác với thủ tục phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm dân sự
Do mục đích của phiên tòa sơ thẩm dân sự khác với phiên tòa phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự, sự có mặt của những người tham gia tố
tụng tại phiên tòa sơ thẩm cũng khác với phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm,
viên Hội đồng giám đốc thẩm/tái thẩm và Kiểm sát viên và biểu quyết giải
quyết vụ án của Hội đồng.
d) Thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự khác với thủ tục phiên họp giải
quyết việc dân sự
Thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự khác với thủ tục phiên họp sơ thẩm
giải quyết việc dân sự. Khái niệm phiên tòa sơ thẩm dân sự dùng để chỉ phiên
họp lần đầu giải quyết vụ án dân sự. Còn khái niệm phiên họp sơ thẩm giải
quyết việc dân sự dùng để chỉ phiên họp giải quyết lần đầu việc dân sự. Do
tính chất, mức độ phức tạp của vụ án dân sự và việc dân sự, nên phiên họp sơ
thẩm giải quyết việc dân sự được quy định đơn giản hơn phiên tòa sơ thẩm
dân sự. Sự đơn giản này thể hiện ở hai nội dung: Đơn giản về thành phần tiến
hành phiên họp và đơn giản về thủ tục tiến hành phiên họp. Thành phần tiến
hành phiên họp giải quyết việc dân sự thường chỉ bao gồm một Thẩm phán.
Thủ tục phiên họp giải quyết việc dân sự thường đơn giản, các đương sự trình
bày và Thẩm phán xem xét, ra quyết định, không có các thủ tục tranh tụng
(hoặc tranh luận), nghị án.
19