Phân tích thực trạng về đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại tổng công ty may việt nam - Pdf 35

Phân tích thực trạng về đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả SXKD
tại tổng công ty may Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh
nghiệp Việt Nam đứng trước một thử thách rất lớn phải vượt qua.
Trước bối cảnh đó để có thể duy trì được sự phát triển bền vững với
hiệu quả kinh tế cao, các nhà quản lý cần trang bị cho mình những
kiến thức về phân tích hoạt động kinh doanh nhằm biết cách đánh
giá kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh, biết phân tích có hệ
thống các nhân tố tác động thuận lợi và không thuận lợi đến hoạt
động kinh doanh từ đó đề xuất các giải pháp phát triển các nhân tố
tích cực, hạn chế và loại bỏ các nhân tố ảnh hưởng xấu, nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
mình.
Trong thời gian thực tập tại Tổng công ty Dệt May Hà Nội bản
thân sinh viên đã nghiên cứu tìm hiểu một số tình hình thực tế sản
xuất kinh doanh tại Tổng công ty, qua đây cũng phần nào cho thấy
bức tranh chung nhất, khái quát nhất về tình hình hoạt động sản xuất
của các doanh nghiệp nói chung và Tổng công ty Dệt May Hà Nội
nói riêng trong một số năm gần đây. Chính vì vậy em xin được đi
sâu vào nghiên cứu đề tài: “Phân tích thực trạng và đề xuất biện
pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Tổng Công ty
Dệt may Hà Nội” làm đồ án tốt nghiệp của em. Đồ án tốt nghiệp
của em gồm 03 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận chung về phân tích hiệu quả sản xuất kinh
doanh
Chương II:
Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh Tổng Công ty Dệt May Hà Nội




CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ
SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1 Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả là tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá mọi hoạt động kinh tế xã
hội. Hiệu quả là phạm trù có vai trò đặc biệt và có ý nghĩa to lớn
trong quản lý kinh tế cũng như trong khoa học kinh tế. Hiệu quả là
chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp để lựa chọn các phương án hoặc các
quyết định trong quá trình hoạt động sản xuất thực tiễn của con
người ở mọi lĩnh vực và tại các thời điểm khác nhau. Chỉ tiêu hiệu
quả là tỷ lệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của hoạt động đề ra
so với chi phí đã bỏ vào để có kết quả về số lượng, chất lượng và
thời gian.
Công thức đánh giá hiệu quả chung:
Hiệu quả sản
xuất kinh doanh

=

Kết quả đầu ra

(I.1)

Yếu tố đầu vào

Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như: Giá trị tổng sản
lượng, tổng doanh thu, lợi nhuận thuần, lợi tức gộp. Còn các yếu tố
đầu vào bao gồm: Tư liệu lao động, đối tượng lao động, con người,
vốn chủ sở hữu, vốn vay. Công thức này phản ánh sức sản xuất của

mỗi doanh nghiệp được đề cập đến trên nhiều khía cạnh khác nhau
nhưng hiệu quả tài chính được thể hiện qua các chỉ tiêu mức sinh lợi
và luôn được xem là thước đo chính. Từ những khái niệm ở trên, có
thể hiểu hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc,
nguyên nhiên liệu và nguồn vốn) để đạt được mục tiêu mà doanh
nghiệp đã đề ra.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là chênh lệch giữa kết quả
mang lại và những chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nó phản
ánh trình độ tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả là một thước đo ngày càng quan trọng để đánh giá sự tăng
trưởng kinh tế của mỗi doanh nghiệp nói riêng cũng như của toàn
bộ nền kinh tế của từng khu vực, quốc gia nói chung. Hiệu quả sản
xuất kinh doanh càng cao, càng có điều kiện mở rộng và phát triển


sản xuất đầu tư tài sản cố định, nâng cao mức sống của công nhân
viên, thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp phải
được xem xét một cách toàn diện cả về không gian và thời gian
trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế quốc
dân. Hiệu quả sản xuất kinh doanh giữ vai trò quan trọng đối với sự
phát triển của mỗi doanh nghiệp, là động lực thúc đẩy, kích thích
người lao động làm việc với hiệu suất cao hơn, góp phần từng bước
cải thiện nền kinh tế quốc dân trong mỗi quốc gia.
1.2 Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh
Căn cứ vào nội dung và tính chất của kết quả cũng như đáp
ứng nhu cầu đa dạng của mục tiêu người ta đưa ra hiệu quả sản xuất
kinh doanh thành hai loại hiệu quả kinh tế và hiệu quả khác.
1.2.1 Hiệu quả kinh tế

chi phí thấp nhất.
Thông thường để đánh giá tình hình hiệu quả sản xuất kinh
doanh của một doanh nghiệp người ta thường hay quan tâm tới các
số liệu ở các báo cáo tài chính. Tuy nhiên để có thể đưa ra được một
cách nhìn khái quát phù hợp về mọi hoạt động của doanh nghiệp,
các nhà quản trị kinh tế không chỉ quan tâm tới các số liệu trong báo
cáo tài chính đơn thuần mà còn quan tâm tới một lượng khá lớn các
chỉ số tài chính để giải thích cho các mối quan hệ tài chính.
1.3.1 Các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp
Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp cần phải xây dựng hệ thống các chỉ
tiêu phù hợp bao trùm mọi chỉ tiêu khác. Các chỉ tiêu đó phải phản
ánh được sức sản xuất, xuất hao phí cũng như sức sinh lợi của từng


yếu tố, từng loại vốn và phải thống nhất với công thức đánh giá hiệu
quả:

Hiệu quả sản
xuất kinh doanh

=

Kết quả đầu ra
(K)

(I.3)

Giá trị đầu vào
(C)


bao nhiêu đồng doanh thu. Về thực chất đây chính là chỉ tiêu
năng suất lao động (W).

Hn

Tổng doanh thu
trong kỳ

=

Tổng số lao động
trong kỳ

(I.5
)

= W

* Tỷ suất lợi nhuận lao động RN được tính bằng công thức
(I.6):
Lợi nhuận trong kỳ
RN

=

(I.6)

Tổng số lao động
trong kỳ


Trong đó: L: Lợi nhuận trong kỳ.
DT : Tổng doanh thu trong kỳ.
N: Tổng số lao động trong kỳ.
Rdt = L/Dt : Là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (doanh
lợi) biểu thị một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận.
1.3.2.2 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
* Hiệu suất sử dụng vốn (Hv) là tỷ số giữa doanh thu trong kỳ
(DT) và tổng số vốn phục vụ sản xuất kinh doanh trong kỳ:

Hv

=

Tổng doanh thu trong kỳ
Tổng vốn sản xuất kinh doanh

(I.8)


trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn bỏ ra để sản xuất kinh
doanh sẽ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu, nghĩa là biểu thị khả
năng tạo ra kết quả sản xuất kinh doanh của một đồng vốn. Hiệu
quả sử dụng vốn càng cao hiệu quả kinh tế càng lớn.
Vốn sản xuất kinh doanh gồm có vốn cố định (V cđ) và vốn lưu
động (Vlđ) nên ta có thêm các chỉ tiêu sau:

HVCĐ


+ Số vòng quay của vốn lưu động
Vlđ

=

Tổng số doanh thu
thuần
Vốn lưu động bình

(I.11)


quân
Trong đó: Vlđ là số vòng quay vốn lưu động, cho biết vốn lưu
động quay được (luân chuyển) mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng
quay nhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cao và ngược lại. Chỉ
tiêu này còn được gọi theo một tên gọi khác là Hệ số luân chuyển.
+ Thời gian của một vòng luân chuyển (TLC)
Thời gian của kỳ phân tích
TLC

=

Số vòng quay của vốn lưu động
trong kỳ

(I.12
)

Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay

Tổng vốn trong kỳ

(I.14)


Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn kinh doanh trong kỳ sinh
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Trong nhóm này ta có quan hệ
Rv

=

L
V

=

L
DT

x

DT
V

= Rdt

x

Hv


bỏ ra trong kỳ thu được bao nhiêu đồng doanh thu - lợi nhuận.
Trong nhóm này ta có mối quan hệ:
Rv

=

L
C

=

L
DT

x

DT
C

= Rdt

x HC

(I.18)

Như vậy, tỷ suất lợi nhuận chi phí bằng tích số của tỷ số lợi
nhuận doanh thu và hiệu suất sử dụng chi phí.
Sơ đồ dưới đây cho ta thấy để phản ánh hiệu quả của một chi
phí nào đó (lao động, vốn hoặc giá thành) có hai chỉ tiêu hiệu quả
tương ứng đó là chỉ tiêu về lợi nhuận và chỉ tiêu về năng suất. Từ hệ


Hz (Hc)

a) Mối quan hệ giữa hiệu quả lao động và hiệu quả vốn
Mối quan hệ giữa hai nhóm chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ
nhất định giữa lao động sống và lao động vật hoá. Lao động sống
trong quá trình phát triển sản xuất cùng với sự ứng dụng của tiến bộ
khoa học công nghệ dần được thay thế bằng lao động vật hoá. Cùng
với quá trình này, toàn bộ chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm
ngày càng giảm. Đây là một nhân tố quan trọng trong việc nâng cao
năng suất lao động và thể hiện rõ nhất trong việc nâng cao chỉ tiêu
trang bị vốn cho lao động.
Như vậy, muốn giảm chi phí về lao động, kể cả lao động sống
và lao động vật hoá cho một đơn vị sản phẩm cần phải thực hiện
được một khối lượng sản xuất lớn bằng số vốn và tài sản vật chất
được trang bị, tức là phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Từ đó suy
ra các chỉ tiêu hiệu quả của lao động và các chỉ tiêu hiệu quả vốn có
mối quan hệ mật thiết:
Vậy HL R
v
= HV x
VL

L
= N
L

=

LN

Z
(I.20)
TCV =
V
Nâng cao chỉ tiêu này là một nhân tố quan trọng để nâng cao
hiệu quả bởi nó có nội dung kinh tế là sự giảm sử dụng vốn đối với
một đơn vị sản phẩm. Tốc độ chu chuyển vốn cố định lưu động có
khác nhau. Tốc độ chu chuyển vốn lưu động cho phép tiết kiệm vốn
và có thể sử dụng vốn đó cho việc đầu tư tài sản cố định. Còn tốc độ
chu chuyển vốn cố định có thể tác động làm giảm nhu cầu vốn đầu
tư và trong điều kiện tăng khối lượng sản xuất sẽ góp phần hạ chi
phí cho một đơn vị sản phẩm.
Có thể nói rằng, hiệu quả vốn càng lớn khi vốn được sử dụng
càng nhanh và kết quả sản xuất càng lớn so với tiêu hao về lao động
vật hoá và lao động sống trong giá thành sản phẩm.
Từ công thức:


Tương
L
(I.21)
LN
Z
tự ta có Rv = N =
x
= RZ x TCV
HV =
L
Z
V


VL

VL

|

|

RV ----------- Rdt ------------ HV
vốn
|

|

TCV

TCV

|

|

RZ ----------- Rdt ------------ HZ
chi phí
Lợi nhuận

Năng suất





nguyên lý, cách tính như vậy không chính xác, nhưng nó là một
thực hành được chấp nhận trong tài chính.
1.5 Nội dung phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh
Khi phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh
nghiệp có thể phân tích theo nhiều phương cách khác nhau phù hợp
với các đặc điểm của doanh nghiệp đó nhưng luôn phải tiến hành
một số công việc chủ yếu dưới đây:
* Phân tích hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu.
* Phân tích hiệu quả sử dụng lao động.
* Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí.
* Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
* Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản.
* Phân tích hiệu quả của các hoạt động tài chính.
Trong quá trình phân tích, ngoài việc tính toán và so sánh các
chỉ tiêu hiệu quả còn cần thiết phải xác định các nhân tố ảnh hưởng
và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó tới hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, cũng như các nguyên nhân ảnh hưởng đến
các chỉ tiêu hiệu quả (kiểm soát được và không kiểm soát được chủ quan và khách quan).
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp
Môi trường tổng quát mà doanh nghiệp gặp phải có thể chia thành
3 mức độ: Môi trường vĩ mô, môi trường ngành (môi trường tác
nghiệp) và hoàn cảnh nội bộ trong doanh nghiệp. Môi trường vĩ mô
ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh, nhưng không theo một
cách nhất định. Môi trường ngành gây ảnh hưởng tới mọi doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh đó. Hai môi trường này
thường được gọi chung là môi trường bên ngoài hay môi trường
nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp. Riêng hoàn cảnh nội bộ

* So sánh giữa thực tế và kế hoạch: Doanh nghiệp hoạt động
sản xuất kinh doanh có hiệu quả sẽ có các kết quả đạt được trong


thực tế cao hơn so với kế hoạch. Các con số, chỉ tiêu doanh nghiệp
đề ra trên kế hoạch là những căn cứ rất quan trọng để đánh giá tình
hình của doanh nghiệp. Các nhà hoạch định, phân tích dựa vào khả
năng thực có để đưa ra các kế hoạch nhằm thực hiện. Chính vì vậy,
việc thực tế vượt so với kế hoạch là một dấu hiệu rõ nét chứng tỏ
doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
* So sánh giữa năm sau với năm trước: Mục tiêu của mỗi
doanh nghiệp đều nhằm tới là mục tiêu lợi nhuận. Hơn nữa, doanh
nghiệp cũng mong muốn có thể tồn tại và phát triển hơn trong suốt
quá trình hoạt động của mình. Chính vì lẽ đó, những doanh nghiệp
hoạt động có hiệu quả bao giờ kết quả của năm sau cũng lớn hơn
năm trước.
* So sánh doanh nghiệp với mức bình quân của ngành: Mỗi
doanh nghiệp với quy mô khác nhau, mỗi ngành nghề lĩnh vực kinh
doanh khác nhau sẽ có những tiêu thức đánh giá khác nhau. Vì vậy
để đánh giá doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không phải so
sánh doanh nghiệp với mức bình quân chung của toàn ngành sản
xuất đó.
* So sánh doanh nghiệp với nền kinh tế chung: Các doanh
nghiệp hoạt động, ngoài mục đích tìm kiếm lợi nhuận cho các chủ
đầu tư, những người chủ doanh nghiệp, còn góp phần cải thiện
nhiều mục đích xã hội khác như tạo công ăn việc làm cho người lao
động, đóng góp các khoản thuế cho nhà nước nhưng khi xét đơn
thuần mục tiêu kinh tế thì để đánh giá doanh nghiệp có hoạt động
hiệu quả hay không người ta thường so sánh doanh nghiệp với nền
kinh tế chung, cụ thể là với lãi suất ngân hàng.

C0
± ÄC = C1 - C0
Trong đó: ± ÄClà mức chênh lệch tuyệt đối giữa kỳ phân tích và
kỳ gốc
C1 là số liệu kỳ phân tích (báo cáo)
C0 là số liệu kỳ gốc.


Mức độ biến động tương đối là kết quả so sánh giữa số thực tế
C1 với số gốc C0 đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có
liên quan theo hướng quy định quy mô của các chỉ tiêu phân tích.
Trong
C1 (I.22)
%
đó:
= C0
x 100%
ÄC
ÄC:
C0

mực chênh lệch tương đối giữa kỳ phân tích và kỳ gốc
C1 : Là số liệu kỳ phân tích (báo cáo)
C0 : Là số liệu kỳ gốc
1.7.2.2 Phương pháp thay thế liên hoàn (Phương pháp loại trừ)
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định mức
độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân
tích qua việc thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố để xác định trị
số của chỉ tiêu khi nhân tố thay đổi. Sau đó lấy kết quả trừ đi chỉ
tiêu khi chưa có biến đổi của nhân tố nghiên cứu sẽ xác định được

hưởng.
*Nhược điểm: Các mối quan hệ của các yếu tố phải được giả
định là có quan hệ theo mô hình tích số trong khi thực tế các nhân tố
có thể có mối quan hệ theo nhiều dạng khác nhau. Hơn nữa, khi xác
định nhân tố nào đó ta phải giả định nhân tố khác không thay đổi
nhưng trong thực tế điều này hoàn toàn không xảy ra.
Việc sắp xếp trình tự các nhân tố từ số lượng đến chất lượng
trong nhiều trường hợp rất dễ dẫn đến sai lầm, gây thiếu chính xác.
1.7.3 Các số liệu sử dụng để phân tích hiệu quả sản xuất kinh
doanh
Để phân tích được một cách chính xác kết quả và xu hướng
của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khi phân
tích cần thu thập được ít nhất số liệu của 2 năm liên tiếp (thường sử
dụng số liệu của 3 năm liên tiếp) từ các báo cáo tài chính và các sổ
sách chứng từ có liên quan.


* Kết quả kinh doanh: Sản lượng, doanh thu, lợi nhuận, nộp
ngân sách. (bảng báo cáo kết quả kinh doanh và các bảng biểu có
liên quan)
* Các yếu tố đầu vào: Lao động, chi phí, tài sản, nguồn vốn
của doanh nghiệp. (bảng báo cáo tình hình lao động và sử dụng thời
gian lao động, bảng giá thành sản phẩm, bảng cân đối kế toán và các
bảng biểu kế toán chi tiết khác) .
1.8 Phương hướng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Doanh nghiệp để có thể tồn tại thì hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp tối thiểu cũng phải bù đắp được tất cả các
khoản chi phí bỏ ra. Muốn doanh nghiệp phát triển ngày càng đi lên
thì kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không

biện pháp như vậy có thể áp dụng ở hầu khắp trong mọi doanh
nghiệp tại mọi lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân. Nội dung chủ
yếu của hướng thực hiện là tiết kiệm các nguồn lực, áp dụng các dây
chuyền công nghệ mới nhằm tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, sức
lao động cũng như các chi phí khác có liên quan.
Giảm đầu vào trong khi giữ nguyên đầu ra không làm ảnh
hưởng tới vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, góp phần nâng cao
hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên trong thực tế,
hướng giải quyết này chỉ có thể dừng lại ở một mức tới hạn. Doanh
nghiệp không thể liên tiếp giảm các yếu tố đầu vào, giữ ổn định các
sản phẩm dịch vụ sản xuất ra mà không thay đổi về chất lượng. Hơn
nữa để có thể tiết kiệm được đầu vào doanh nghiệp cũng cần phải
đầu tư những khoản kinh phí, nguồn vốn không nhỏ vào công tác
nghiên cứu hay đầu tư vào trang thiết bị máy móc
1.8.3 Tăng đầu vào, đầu ra tăng với tốc độ nhanh hơn
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường như ở Việt Nam ta hiện
nay, các doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau hết sức gay gắt và
quyết liệt không chỉ về giá cả mà cả về chất lượng, dịch vụ. Do vậy


để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mỗi doanh nghiệp, tất
nhiên, vẫn có thể áp dụng hai hướng thực hiện như trên và mang lại
kết quả trong những trường hợp, tình huống cụ thể, nhưng có lẽ để
mang lại hiệu quả lâu dài thì các doanh nghiệp sẽ thực hiện một số
biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh như ở phần thứ ba
này. Để cạnh tranh có hiệu quả, doanh nghiệp thường áp dụng tổng
hợp các biện pháp: Hoàn thiện công tác tổ chức quản lý, công tác
Marketing, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm; giảm giá thành,
giảm giá bán, tăng lượng hàng hoá tiêu thụ (giảm lợi nhuận trên một
đơn vị sản phẩm hàng hoá nhưng nhờ lượng hàng tiêu thụ tăng cao

kiện
7/4/1978

Sự kiện/ Tình hình

Ký kết hợp đồng xây dựng nhà máy Sợi giữa Tổng công ty
nhập khẩu thiết bị Việt Nam và hãng UNIOMATEX (CHLB
Đức)
2/1979
Công trình được khởi công xây dựng
21/11/198 Chính thức bàn giao công trình, với tên gọi xí nghiệp Sợi Hà



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status