Pháp luật chống bán phá giá và thực tiễn áp dụng tại việt nam - Pdf 35

CH QTKD 8A

Môn Pháp luật trong kinh doanh
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang ngày càng quốc tế hóa sâu sắc,
các quốc gia ngày càng tham gia tích cực và không thể đứng ra ngoài cuộc của
quá trình này nền kinh tế các nước ngày càng lệ thuộc vào nhau và trong bối
cảnh đó sự lớn mạnh, bền vững kinh tế thế giới có thể đạt được nếu tạo ra được
tính công bằng trong quan hệ thương mại quốc tế.
Với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam
đã thực hiện và đạt được những thành tựu to lớn trong việc đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hoá, trong đó có những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có uy
tín trên thị trường thế giới đã xuất hiện một số trường hợp hàng xuất khẩu của
nước ta bị nước nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá để tạo ra
hàng rào bảo hộ, ngăn cản hàng hoá của ta không cho xuất khẩu vào thị trường
của nước họ. Việt Nam tham khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm
1995, Hiệp định Thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2000.
Ngày 07 tháng 11 năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150
của WTO tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu. Xuất phát tự trên cho thấy Việt
Nam đã chủ động hội nhập sẵn sàng tham gia giao lưu kinh tế với các nước trên
thế giới và sẵn sàng áp dung thực thi các cam kết quốc tế nói chung và các cam
kết về thương mại hàng hóa nói riêng.
Ở Việt Nam việc tiếp cận với các quan hệ thương mại quốc tế đã có từ
lâu, song việc làm quen thích ứng với các quy luật thị trường lại là điều mới mẻ.
Hiện nay, các quan hệ ngoại thương ngày càng quan trọng và đa dạng, các chiến
lược xuất khẩu của ta thường bị các rào cản thương mại đặc biệt là các vụ kiện
bán phá giá ngày càng tăng, khi mà hiện nó gây ra những thiệt hại vô cùng to
lớn cho nền kinh tế đất nước các cơ chế giải quyết thì lại không hữu hiệu chủ

1

phá giá, chống bán phá giá một đề tài không mới đối với các nước pháp triển
nhưng rất mới mẻ đối với các nước đang phát triển như Việt Nam chúng ta. Sự
hiểu biết chưa sâu sắc đã làm cho các doanh nghiệp Việt Nam luôn mắc phải và
2


CH QTKD 8A

luôn phải thiệt hại rất lớn tự việc bán phá giá và bị kiện, mục địch của đề tài là
không chỉ giúp nhà nước, doanh nghiệp,cá nhân hiểu và thực hiện chiến lược
xuất khẩu phù hợp với các điều kiện cam kết gia nhập mà còn áp dụng các điệu
kiện đó để kiện lại bên vi phạm các điệu kiện đó, hay nói đúng hơn là chúng ta
dùng cam kết đó bảo vệ mình và dùng nó để đòi lại quyền lợi cho mình. Nâng cao
và tuyên truyền pháp luật chống bán phá giá vào các doanh nghiệp, cá nhân để khi
thực hiện các hoạt động kinh tế đặc biệt là kinh tế xuất nhập khẩu để tránh những
thiệt hại kinh tế khi bị kiện bán pháp giá. Muốn các cơ quan chức năng tích cực
hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá theo xu thế chung của thế giới để bảo vệ
quyền lợi của các bên, tích cực đàm phán gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế
đa phương để bảo vệ một cách có hiệu quả quyền lợi của các bên.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài “Pháp luật chống bán phá giá và thực tiễn áp dụng
tại Việt Nam”. Tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp thống kê
4. Cơ cấu của đề tài
Đề tài có kết cấu ba phần gồm: Phần mở đầu; Phần nội dung; Phần kết
luận. Trong đó phần nội dung gồm 2 chương.
Chương 1: Pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá gồm 6 nội dung lớn:

ràng trong từng trường hợp cụ thể, điều đó là cần thiết trong quan hệ kinh tế
ngày nay để mang tính công bằng hơn.
Chống bán phá giá: Là tổng hợp những biện pháp cách thức nhằm chống
lại các hành vi bán phá giá vào thị trường của một nước hay vùng lãnh thổ. Khi
các hành vi bán phá giá thực hiện gây thiệt hại cho các nước nhập khấu thì tất
yếu sẽ có các biện pháp mà nước nhập khẩu đặt ra nhằm ngăn cản sự vi phạm
đó. Trong rất nhiều cách thức đó thì việc áp dụng các quy định pháp luật luôn là
4


CH QTKD 8A

biện pháp được đặt ra và rất hiệu quả, đặc biệt là các biện pháp thuế quan luôn là
chế tài thường áp dụng đối với các mặt hàng được cho là bán phá giá. Nhìn
chung, để đảm bảo nền sản xuất trong nước phát triển bền vững các nước luôn
tìm cách thức nhất định nhằm chống bán phá giá và việc hình thành các cam kết
đa phương là hướng ưu tiên lừa chọn trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới
ngày nay.
1.2 Đặc điểm của bán phá giá và chống bán phá giá
Đặc điểm của bán phá giá: Phải là hàng hóa lưu thông trên thị trường và
bán với giá thấp hơn giá thị trường của nước nhập khẩu hoặc một nước thứ ba
nào đó, bán phá giá phải làm phương hại đến nền sản xuất của nước nhập khẩu
làm cho các nghành sản xuất bi bán phá giá phải đình trệ sản xuất, bán phá giá
phải kéo theo việc giảm giá của mặt hàng cùng chủng loại sản xuất trong nước
hoặc vùng lãnh thổ đó giảm theo, giá bán tại nước nhập khẩu phải không đúng
với giá chi phi sản xuất thực của mặt hàng đó tại nước xuất khẩu hoặc một nước
thứ ba nào đó, việc bán hàng đó làm phương hại đến các quy luật của nền kinh
tế thị trường.
Đặc điểm của chống bán phá giá: Là cách thức do cơ quan có thẩm quyền
đặt ra nhằm chống lại các hành vi bán phá giá, chống bán phá giá phải dựa trên

nền sản xuất của các nước đêu pháp triển và chất lượng ngày càng tăng, đặc biệt
một số nươc trong thời ký công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại chú trọng phát triển
nền kinh tế xuất khẩu là chính, việc bán phá giá tất yếu sẽ xảy ra và ngày càng
thường xuyên hơn các biện pháp chống bán phá giá sẽ mang lại lợi ích cho nước
nhập khẩu. Việc chống bán phá giá hiện nay được các nước phát triển áp dụng
rất triệt để, trong khi đó thì các nước đang phát triển lại tỏ ra rất lúng túng trong
việc xử lý các hành vi bán phá giá vào quốc gia mình mà lý do chủ yếu là thiếu
cơ sở pháp lý. Nhìn chung, việc chống bán phá giá mang ý nghĩa rất lớn, là động
lực và vai trò quan trọng đế thúc đẩy sản xuất trong nước.
1.4 Tác động của việc chống bán phá giá
1.4.1 Tác động của việc bán phá gia
Nhìn dưới góc độ tích cực thì phá giá mang lại lợi ích cho người tiêu dùng
tại nước nhập khẩu (thường là lợi ích ngắn hạn, tạm thời), mức độ thiệt hại mà
doanh nghiệp xuất khẩu phải gánh chịu do bán phá giá là mức độ lợi ích mà
người tiêu dùng trong nước nhập khẩu được thụ hưởng. Tuy nhiên, việc bán phá
6


CH QTKD 8A

giá có thể gây những tác động tiêu cực đến nước nhập khẩu thể hiện ở các khía
cạnh sau:
Bán phá giá gây thiệt hại về vật chất cho ngành sản xuất sản phẩm tương
tự trong nước. Thiệt hại về vật chất được xét trên một loạt các yếu tố và chỉ số
kinh tế như: Sự suy giảm thực tế hoặc tiềm ẩn của doanh thu, lợi nhuận, sản
lượng, thị phần, năng suất, việc làm, tiền lương, tăng trưởng.Bán phá giá gây tác
động đến sự phát triển ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu
trong tương lai. Sản xuất của các nước nhập hàng bán phá giá có thể bị đình đốn,
không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, mất thị trường và phá sản.
Xuất phát từ thành kiến cố hữu việc bán phá giá thường được coi là có tác

nhưng phải cạnh tranh thị trường nước xuất khẩu. Trong trường hợp này vì mục
đích tối đa hóa lợi nhuận họ sẽ lợi dụng vị thế độc quyền của mình để ấn định
giá bán trong nước cao hơn, chừng nào thị trường đó còn chấp nhận được. Trong
khi đó do phải cạnh tranh ở thị trường xuất khẩu mặt hàng đó chỉ có thể bán với
giá đang tồn tại ở thị trường đó như vậy đã xảy ra hiện tượng bán phá giá. Nếu
việc bán phá giá này không làm giá ở thị trường nước nhập khẩu thay đổi (do
cạnh tranh ở đây hoàn hảo) sẽ không làm ảnh hưởng đến lợi ích của nước nhập
khẩu, và vì thế sẻ không cần thiết phải có biện pháp chống đối lại.
Thứ hai: giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất và tất nhiên thấp hơn giá
thị trường trong nước. Trong trường hợp này có thể xảy ra một số tình huống
khác nhau tùy thuộc vào định nghĩa chi phí sản xuất: chi phí bình quân hay “chi
phí lề”
Trước hết, để hiểu được ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá thấp hơn chi
phí cần phân biệt các loại chi phí .Thông thường, chí sản xuất được phân biệt
theo hai loại: chi phí bình quân và chi phí lề:
Chi phí bình quân được tính bằng tất cả các chi phí một mặt hàng phải chịu chia
cho lượng sản phẩm sản xuất ra.
Chi phí lề là chi phí phải bỏ ra để sản xuất ra thêm một đơn vị sản phẩm.
Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại chi phí sản
xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ có một phần nhỏ chi
phí sản xuất là thay đổi khi lượng sản xuất thay đổi. Chính chi phí lề là yếu tố
8


CH QTKD 8A

quyết định trong việc định giá của một hang trong thời gian ngắn hạn khi phải
chịu chi phi phí nhất định để thâm nhập vào một thị trường.
Trong trường hợp này, việc áp dụng một biện pháp chống hàng nhập khẩu
là bất hợp lý và như vậy sẽ đối sử không bằng giữa mặt hàng nội địa và mặt

thương mại, việc cam kết này chỉ có hiệu lực đối với nước đã cam kết mà không
áp dụng đối với các nước không tham gia. Thường thì các biện pháp loại trừ
chống bán phá giá sẽ được áp dụng trước nếu nước đó đã cam kết thay vì áp
dụng thuế chống bán phá giá.
Thực hiện biện pháp kiện khi có các hành vi bán phá giá: Trong những
năm qua việc Việt Nam luôn bị kiên bán phá giá đã cho ta một bài học đắt giá về
hậu quả của bị xử thua, trong thời kỳ hội nhập việc chủ động kiện khi bị bán phá
giá là một biện pháp thiết thực và cần thiết hiện nay. Tuy nhiên, việc phải chuẩn
bị là rất nhiều trong đó cơ sở pháp lý là điều cần thiết và một đội ngủ các doanh
nghiệp đoàn kết là con đường để có thể kiện thành công và thắng lợi. Thuận lợi
của chúng ta hiện nay là việc chúng ta đã gia nhập WTO với Hiệp định chống
bán phá giá của tổ chức này và các văn bản pháp lý về chống bán phá giá ở
trong nước chúng ta có đủ cơ sở phá lý cần thiết để tiến hành các vụ kiện và
thắng lợi.
Như vậy, việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá là điều cần thiết để
bảo vệ lợi ích của các nghành sản xuất trong nước pháp triển ngày một tốt hơn.
2. Các quy định pháp luật về chống bán phá giá
2.1 Trên thế giới
Quy định về chống bán phá giá của WTO: Năm 1948 hệ thống thương
mại đa biên được thiết lập với sự ra đời của Hiệp định chung về Thuế quan và
Thương mại (GATT). Trải qua gần một nửa thế kỷ, những quy định của GATT
về thương mại đa biên, trong đó có quy định về chống bán phá giá (Điều VI) tỏ
ra chưa chặt chẽ. Cùng với sự ra đời của WTO, Hiệp định Chống bán phá giá đã
có những quy định chặt chẽ và chi tiết hơn nhiều so với Điều VI của GATT.
Theo Hiệp định này, nước nhập khẩu chỉ được áp dụng các biện pháp chống bán
phá giá khi: Hàng nhập khẩu bị bán phá giá; Gây thiệt hại về vật chất cho ngành
sản xuất trong nước; Cuộc điều tra phá giá được tiến hành theo đúng thủ tục.
Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định rất chi tiết nguyên tắc xác
định phá giá, cách tính biên độ phá giá và thủ tục điều tra phá giá như sau: Một
10

để áp dụng công cụ bảo hộ sản xuất trong nước bằng áp thuế chống bán phá giá
khi họ cho rằng hàng nhập khẩu có thể gây thiệt hại cho sản xuất trong nước.

11


CH QTKD 8A

Quy định về chống bán phá giá của Liên minh Châu Âu (EU): Luật
chống bán phá giá của Liên minh Châu Âu ra đời năm 1968 và đã được sửa đổi
và bổ sung nhiều lần chủ yếu nhằm đưa những nội dung mới của việc thực hiện
Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch 1994 (Hiệp định
Chống bán phá giá 1994) vào luật của EU hiện nay. Luật chống bán phá giá áp
dụng đối với tất cả các nước không phải là thành viên EU. Đối với các nước bị
coi là chưa có nền kinh tế thị trường hoặc đang trong quá trình chuyển đổi, EU
có thể áp dụng những điều khoản đặc biệt được quy định trong các hiệp định ký
giữa EU với các nước thứ ba.
Luật sửa đổi năm 1996 đã đưa ra cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện
pháp chống bán phá giá theo 4 điều kiện: Mặt hàng đó đang bị bán phá giá (giá
bán thấp hơn giá thương mại thông thường); Nghành công nghiệp sản xuất mặt
hàng đó đang bị đe dọa hoặc đang bị tổn thương vật chất; Có mối quan hệ nhân
quả giữa hàng nhập khẩu đó và tổn thương vật chất của ngành công nghiệp của
EU; Và việc áp đặt các biện pháp chống bán phá giá là vì lợi ích của Cộng đồng.
Các quy định hiện có của EC được thay thế bởi Quy chế Chống bán phá giá mới
có hiệu lực từ ngày 1/1/1995. Quy định này sau đó được cập nhật bởi Quy chế
384/96 có hiệu lực từ ngày 6/3/1996. Quy chế đồng thời cũng đưa ra giới hạn
thời gian chặt chẽ cho việc hoàn thành điều tra và ra quyết định nhằm đảm bảo
rằng các đơn khiếu kiện được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả.
Khi một mặt hàng nào đó được xác định là bán phá giá vào thị trường EU và
có đơn kiện của người sản xuất của Liên minh thì Ủy ban châu Âu sẽ xem xét

Thương mại thế giới WTO là:
Thứ nhất: Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 04/1998/QH10 ngày
20/05/1998 cho phép áp dụng thuế bổ sung đối với hàng nhập khẩu bị bán phá
giá vào Việt nam.
Thứ hai: Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
04/04/2001 cũng quy định việc xây dựng nguyên tắc áp dụng thuế chống bán
phá giá trong năm 2001.
Hai văn bản trên đánh dấu sự phát triển và bước đầu hình thành ý thức về
chống bán và đây cũng là những điều kiện cần thiết để thuận lợi cho việc gia
nhập WTO và bắt đầu bổ sung thêm những cơ sở pháp lý cần thiết cho hoàn
thiện thêm.
13


CH QTKD 8A

Thứ ba: Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 về việc chống bán phá giá
hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 4
năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Là văn bản rất quan trọng, phù
hợp với thông lệ quốc tế, pháp lệnh quy định rõ các hành vi bán phá giá và các
chế tài nhất định của việc bán phá giá. Pháp lệnh có cơ cấu 6 chương và 29 điều
gồm: Những quy định chung; Điều tra để áp dụng các biện pháp chống bán phá
giá; Áp dụng biện pháp chống bán phá giá; Rà soát việc áp dụng chống bán phá
giá; Khiếu nại và xử lý vi phạm; Điều khoản thi hành. Các quy định khá chi tiết
và đầy đủ các hành vi bán phá giá vào Việt Nam và các cách thức giải quyết đối
với hành vi bán phá giá, trong đó lần đâu tiên chúng ta đã quy định khái niệm:
“Biên độ bán phá giá, thuế chống bán phá giá” phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích của
các nghành sản xuất trong nước.Với việc xác định ngày càng rõ hơn khái niện
phá giá đã làm sáng tỏ ba nội dung cơ bản để tiến hành các giải pháp chống bán
phá giá phải chú ý đó là:

thường.
Khoản 3: Trong trường hợp không có hàng hoá tương tự được bán trên thị
trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc có hàng hoá tương
tự được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu
nhưng với khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa không đáng kể thì giá
thông thường của hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam được xác định theo một
trong hai cách sau đây:
Giá có thể so sánh được của hàng hoá tương tự của nước hoặc vùng lãnh thổ
xuất khẩu đang được bán trên thị trường một nước thứ ba trong các điều kiện
thương mại thông thường;
Giá thành hợp lý của hàng hoá cộng thêm các chi phí hợp lý khác và lợi
nhuận ở mức hợp lý, xét theo từng công đoạn từ sản xuất đến lưu thông trên thị
trường của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc nước thứ ba.
Như vậy, việc xác định hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam được quy định
khá cụ thể tại điều 3 của pháp lệnh. Một trong những mục đích đưa ra dự luật này là
việc áp dụng chế tài cho hàng hóa được xem là bán phá giá, cách thức để chống bán
phá giá vào Việt Nam được quy định tại điều 4 của pháp lệnh.
Khoản 1: Áp dụng thuế chống bán phá giá.
Khoản 2: Cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của tổ chức, cá
nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá
giá với cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp chống bán phá giá
15


CH QTKD 8A

của Việt Nam hoặc với các nhà sản xuất trong nước nếu được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền áp dụng biện pháp chống bán phá giá của Việt Nam đồng ý.
Theo các quy định tại điều 4 thì biện pháp chống bán phá giá chủ yếu là áp d ụng
thếu chồng bán phá giá (khoản 1), đây là phương thức chủ yếu trong việc hạn ch ế các

Như vậy, sự ra đời của Pháp lệnh 2004 về chống bán phá giá hàng hóa
nhập khẩu vào Việt Nam là một bước tiến dài, nó đặt nền móng cho sự ra đời
của Luật chống bán phá giá trong thời gian tới, thể hiện chính sách nhất quán
16


CH QTKD 8A

chủa Chính phủ Việt Nam về hội nhập kinh tế và cam kết nhằm định hướng nền
kinh tế thị trường trong tương lại.
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI VIỆT NAM
2.1 Thực trạng bán phá giá và chống bán phá giá tại Việt Nam
2.1.1 Thực trạng bán phá hàng nhập khẩu tại Việt Nam
Ngày nay, đứng trước thách thức về cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị
trường nội địa, các quốc gia đã tăng cường sử dụng các công cụ bảo hộ ngày
càng tinh vi thông qua các biện pháp bảo đảm thương mại công bằng của WTO,
trong đó có thuế chống bán phá giá.Vì vậy, các vụ kiện bán giá xảy ra trên thế
giới ngày càng tăng về số lượng chủ thể tham gia và ngày càng mở rộng phạm vi
hàng hoá áp dụng đa dạng về chủng loại và mẫu mã sản phẩm bị áp dụng các
biện pháp chống bán phá giá.
Theo kết quả điều tra của xã hội học của hội người tiêu dùng Việt Nam tại
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: các nhóm hàng ô tô, xe máy, rượu
bia, thuốc lá của Mỹ, Nhật, Pháp và các nước Châu Âu khác chiếm ưu thế. Với
nhóm hàng gia dụng trước năm 1992 hàng Việt Nam chiếm 62% hàng Mỹ
chiếm 15% các nước Châu Âu chiếm 14% và 11% là các nước còn lại thì từ năm
1992 trở lại đây hàng Trung Quốc đã từng bước chiếm lĩnh thị trường này. Các
mặt hàng như đồ chơi trẻ em, hàng dân dụng, xe máy, các giống cây trồng, thuốc
trừ sâu của Trung Quốc cũng vào thị trường nước ta trong thời gian gần đây.
Tình trạng buôn lậu ở nước ta đang có chiều hướng gia tăng phức tạp làm

lượng thị trường rất hẹp. Chỉ đáp ứng một phần nhỏ thị trường trong nước. Hiện
nay, trên thực tế vải nội địa chỉ chiếm 20% thị phần còn lại 80% thị phần cho
hàng vải ngoại nắm giữ. Trong đó hàng Trng Quốc chiếm giữ 69% thị phần.
Mặc dùa tổng công ty may Việt Nam hiện nay đã có đủ các loại vải của các
nước danh tiếng sản xuất vải trên thế giới nhưng ngành sản xuất vải của Việt
Nam cũng chưa có khả năng cạnh tranh với các đối thủ như Anh, Mỹ, Ý... bằng
nhiều con đường, các đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh thị phần thông qua việc bán
hạ giá các mặt hàng của mình, đặc biệt là mặt hàng vải Trung Quốc. Giá hàng
vải Trung Quốc chỉ bằng 1/3-1/2 hàng sản xuất trong nước.
18


CH QTKD 8A

Lý giải tại sao hàng Trung Quốc lại rẻ hơn hàng Việt Nam, mặc dù phải chịu
chi phí chuyên chở, tiền lãi cho các nhà xuất khẩu nước ngoài và tiền lãi cho các
nhà nhập khẩu Việt Nam. Báo diễn đàn doanh nghiệp cho rằng “xuất khẩu ra
nước ngoài với giá rẻ, nhiều khi rẻ hơn giá sản xuất trong nước đã giúp xí
nghiệp đạt công xuất tối đa, doanh thu và lợi nhuận đều cao hơn trường hợp bán
trong nước với giá cao nhưng vì xí nghiệp không đạt được công xuất tối đa, chụi
chi phí bất biến cao cuối cùng chỉ đạt lợi nhuận thấp.
Nhìn toàn cảnh, chúng ta thấy rất rõ thế suy yếu của công nghiệp nước nội
địa nước ta trước sự cạnh tranh không bình đẳng và không trung thực của các
hàng hóa nước ngoài. Đi sâu phân tích thực trạng đối với một số nhóm hàng
hóa, ngành cụ thể giúp ta thấy rõ ràng hơn thực trạng bán phá giá hàng nhập
khẩu từ nước ngoài vào thị trường Việt Nam.
2.1.2 Thực trạng chống bán giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam
Đứng trước thực trạng bán phá giá tràn lan vào thị trường Việt Nam ở trên
Chính phủ Việt Nam đã áp dụng một số biện pháp cách thức để ngăn chặn và
tiến tới giảm bớt tình trạng phá giá.

hàng Trung Quốc rẻ hơn rất nhiều. Chúng ta đã có đầy đủ các cơ sở cho việc
chống lại các hàng hóa bán phá giá chắc chẵn trong tương lai gần các doanh
nghiệp nước ta sẽ thích ứng và góp phần ngăn chặn các hành vi bán phá giá.
2. 2 Nguyên nhân của việc chống bán phá giá
2.2.1 Nguyên nhân của bán phá giá
Hành động bán phá giá xảy ra do nhiều nguyên nhân:
Do các khoản tài trợ của Chính phủ hoặc cơ quan công cộng nước ngoài.
Chính sách tài trợ nhằm đạt được hai mục đích chính sau đây: Duy trì và tăng
cường mức sản xuất, xuất khẩu. Duy trì mức sử dụng nhất định với các yếu tố
sản xuất như lao động và tiền vốn trong nền kinh tế. Các khoản tài trợ có thể
được cấp cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng, nhưng về mặt tác động
kinh tế thì chúng đều như nhau và đều đưa đến những hệ quả kinh tế tương tự.
Do các hình thức tài trợ chủ yếu là: trợ cấp, ưu đãi về thuế, tín dụng ưu đãi, sự
tham gia của Chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như các hỗ trợ xuất khẩu.
Do các khoản tài trợ giúp các ngành thực hiện công nghệ mới, trang bị máy
và thiết bị hiện đại, nghĩa là giúp cho các ngành mới gia nhập thị trường và đẩy

20


CH QTKD 8A

mạnh phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, tăng cường
xuất khẩu. Do đó mà chi phi sản xuát giảm xuống dẫn đến việc bán hạ giá.
Do nhập siêu lớn, vẫn phải có ngoại tệ để bù đắp cho nhưng thiếu hụt này.
Khi đó có thể áp dụng biên pháp bán phá giá để giải quyết cho vấn đề thiếu hụt
ngoại tệ.
Do trong một nước có quá nhiều hàng tồn kho, không thể giải quyết theo cơ
chế giá bình thường.
Bán phá giá đước sử dụng như là công cụ cạnh tranh. Sau khi đã chiếm lĩnh

Thương, Cục quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá.
Xây dựng hệ thống văn bản thực thi dưới luật một cách có hệ thống, thống
nhất và đầy đủ nhằm làm các cơ quan có thẩm quyền và các chủ thể liên quan áp
dụng một cách hiểu quả nhất.
Chủ động liên hiệp với các tổ chức thương mại, các tổ chức kinh tế khu
vực và đàm phán song phương trong việc cùng nhau đi đến ký kết các hiệp định
chống bán phá giá.
2.3.2 Các giải pháp thực tiễn
Thực hiện áp dụng đúng các chế tài mà cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam, quốc tế đã phán quyết đối với các mặt hàng bán phá giá. Thực hiện tuyên
truyền pháp luật về chống bán phá giá cho các doanh nghiệp và các tổ chức cá
nhân có liên quan.
Ngăn chặn các hành vi tìm cách đưa hàng qua Việt Nam bănng cách trốn
thuế, tăng cường kiểm tra, thanh tra giá các mặt hàng tại các cửa hàng bán các
hàng nhập khẩu một cách thường xuyên.
Nâng cao ý thức pháp luật người tiêu dùng và các doanh nghiệp trong
việc tố cáo các hành vi bán phá giá trên phạm vi cả nước, trong đó ý thức cho
người tiêu dùng biết hàng đó bán phá giá sẽ có ảnh hưởng xấu đến sản xuất tiêu
dùng và sản xuất trong nước trong thời gia dài.
Các doanh nghiệp đoàn kết trong việc chống lại các hành vi bán phá giá đặc biệt
là các doanh nghiệp trực tiếp bị ảnh hưởng.
Các cơ quan chức năng tích cực dùng các biện pháp ngăn chặn hàng hòa lọt vào
thị trường đển tiến hành bán phá giá.

22


CH QTKD 8A

Qua một thời gian chúng ta đã làm khá tốt việc ngăn chặn hàng hóa nhập lậu

thị trường xã hội chủ nghĩa. Xin chân thành cảm ơn

24


CH QTKD 8A



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status