Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi GDDS vô hiệu - Pdf 35

BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH KHI
GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU

LỜI NÓI ĐẦU

Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ quan trọng và phổ biến nhất làm phát
sinh quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch dân sự cũng là cơ sở để các bên tự do thỏa
thuận, giao kết và xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự với nhau. Khi xã hội càng phát triển,
vai trò của giao dịch dân sự càng được khẳng định. Không phải giao dịch dân sự nào
cũng đương nhiên có hiệu lực, pháp luật quy định những điều kiện mà một giao dịch dân
sự phải tuân thủ thì mới không bị vô hiệu. Khi không đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu
lực theo quy định của pháp luật, giao dịch dân sự sẽ vô hiệu và hệ quả tất yếu là các bên
khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tuy nhiên có
những trường hợp tài sản đã được đem ra thực hiện một giao dịch khác với người thứ ba.
Vấn đề đặt ra là quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi tham gia giao dịch sẽ được bảo
vệ như thế nào? Giao dịch ban đầu vô hiệu thì giao dịch tiếp theo có vô hiệu hay không?
Người thứ ba ngay tình có được giữ lại tài hay phải trả lại cho chủ sở hữu ban đầu? Khi
quyền lợi của người thứ ba được ưu tiên bảo vệ thì quyền lợi của chủ sở hữu ban đầu
được đảm bảo như thế nào?
Bài tiểu luận “Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự
vô hiệu” nhằm tìm hiểu những vấn đề nêu trên, những bất cập khi áp dụng pháp luật từ
đó đề ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật hợp lý, hiệu quả.


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

I. KHÁI NIỆM
1. Khái niệm giao dịch dân sự:
"Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" (Điều 121 BLDS 2005).
Từ khái niệm giao dịch dân sự được quy định tại điều luật này có thể xác định:


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

dân sự bị điều chỉnh của pháp luật thông qua các điều kiện cụ thể mà các bên phải tuân
thủ khi tham gia quan hệ giao dịch dân sự. Một giao dịch dân sự được pháp luật công
nhận và có hiệu lực khi đáp ứng được những yêu cầu, điều kiện nhất định được quy định
tại Điều 122 Bộ Luật dân sự năm 2005. Ngược lại, trường hợp những điều kiện trên theo
quy định của pháp luật không được thoả mãn, nghĩa là giao dịch dân sự đó đã chứa đựng
những khiếm khuyết nhất dịnh thì bị coi là vô hiệu. Vậy, giao dịch dân sự vô hiệu là giao
dịch không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ Luật dân sự thì
bị coi là vô hiệu.
2.1 Điều kiện giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu:
Những giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu khi không thoả mãn các điều kiện được
quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005. Điều đó có nghĩa là những giao dịch dân sự nếu
vi phạm một trong bốn điều kiện về hình thức và nội dung sau sẽ có thể bị coi là vô hiệu:
- Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự;
- Mục đích và nội dung của giao dịch không trái với đạo đức và xã hội;
- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
- Hình thức giao dịch phù hợp với quy dịnh của pháp luật.
Tính vô hiệu của giao dịch dân sự được thể hiện ở chỗ nó không làm phát sinh hậu
quả pháp lý mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia xác lập giao dịch dân sự đó,
hay nói cách khác là nó không làm phát sinh quyền và nghĩa dân sự của các bên mong
muốn khi xác lập giao dịch dân sự đó. BLDS năm 2005, bên cạnh việc quy định các điều
kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật, còn quy định cụ thể các trường hợp của
giao dịch dân sự vô hiệu như giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo
đức xã hội (Điều 128 BLDS 2005), giao dịch dân sự giả tạo (Điều 129 BLDS 2005), giao
dịch dân sự vi phạm điều kiện tự nguyện (từ Điều 130 đến Điều 133 BLDS 2005),… Đây
là điểm khác biệt giữa BLDS nước ta với BLDS của một số nước trên thế giới như Pháp,
Nhật Bản, Thái Lan, …
2.2 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:

mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.
Có thể nhận thấy, ở đây ta cần làm rõ 2 khái niệm: Chiếm hữu không có căn cứ
pháp luật và chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình.
3.1. Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
Là việc chiếm hữu không phù hợp với quy định tại Điều 183 BLDS 2005, đó là
hành vi chiếm hữu không rơi vào các trường hợp sau: Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
Người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản; Người được chuyển giao quyền chiếm
hữu thông qua giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật như quan hệ mua bán, cho
vay, tặng cho, trao đổi, cho thuê, cho mượn, gửi giữ…; Người phát hiện và giữ tài sản vô
chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn
giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện luật định; Người phát hiện và giữ gia súc,
gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định.
3.2. Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình
Là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu không biết và không thể biết việc chiếm
hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật. Do vậy, hành vi chiếm hữu không có căn cứ
pháp luật sẽ là không ngay tình khi chủ thể không có các chứng cứ để chứng minh hành
vi chiếm hữu của mình tuy không dựa trên căn cứ luật định nhưng là ngay tình. Làm thế
nào để có thể chứng minh là ý chí của mình không biết được hành vi chiếm hữu là không
có căn cứ pháp luật?
Có thể chứng minh đó là hành vi chiếm hữu đối với loại tài sản không đăng ký
quyền sở hữu – đó là trường hợp pháp luật không bắt buộc phải biết hành vi chiếm hữu
của một người là hợp pháp hay không; do vậy không biết được người chuyển giao quyền
Trang 4/21


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

chiếm hữu cho mình có phải là chủ sở hữu đích thực của tài sản hay không khi họ đang
thực tế nắm giữ tài sản và khẳng định tư cách của sở hữu của họ; quan hệ giao dịch được
thực hiện một cách công khai, minh bạch; tài sản được chuyển giao theo đúng giá trị. Ví

chuyển quyền sở hữu đối với tài sản như thế chấp, cầm cố, cầm đồ.
Như vậy chủ thể cuối cùng trong mối quan hệ thứ 2 được gọi là người thứ ba và
đó là chủ thể ngay tình bởi họ đã bị nhầm lẫn về tư cách của chủ thể đã xác lập giao dịch
với mình. Họ tưởng rằng mình đã thực hiện giao dịch với người có quyền định đoạt đối
với tài sản nhưng thực tế lại không phải vậy.

Trang 5/21


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

II. QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH ĐƯỢC BẢO VỆ KHI
GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
Ðiều 138. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
1. Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản
không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho
người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp
quy định tại Ðiều 257 của Bộ luật này.
Trang 6/21


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

2. Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng
ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay
tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình
nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án,
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó
người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.
1. Các trường hợp quyền lợi của người thứ ba ngay tình sẽ được bảo vệ

không phải là quy định mang tính lý tưởng. Bởi lẽ, chỉ có thể thi hành quy định này trên
Trang 7/21


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

thực tế nếu thoả mãn được hay điều kiện: 1. Tìm được người đã chuyển giao tài sản đó
cho người thứ ba ngay tình; 2. Người phải bồi thường có khả năng tài chính và tự nguyện
thực hiện nghĩa vụ. Điều kiện thứ 1 là khó thực hiện được bởi vốn dĩ họ là người có động
cơ tham lam, không trong sáng nên sau khi thực hiện giao dịch xong, đạt được lợi ích
mong muốn họ thường tìm cách xoá mọi tin tức để tránh trách nhiệm sau này. Điều kiện
thứ 2 phụ thuộc vào điều kiện thứ nhất có tồn tại hay không và cũng thường gặp những
phức tạp như: người phải thi hành nghĩa vụ không có tiền để bồi thường hoặc họ tìm cách
biển thủ tài sản để chây ì không chịu thực hiện nghĩa vụ.
- Được hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản kể từ thời điểm bắt đầu chiếm
hữu đến thời điểm phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu.
- Được thanh toán những chi phí đã bỏ ra để làm tăng giá trị cho tài sản.
Lưu ý: Nếu là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng không ngay tình
phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu đích thực nhưng không bao giờ được hưởng tất cả các
quyền lợi trên, cụ thể như sau:
- Không được quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại từ người đã trực tiếp chuyển
giao tài sản cho mình, bởi họ bị coi như vị trí của người tiêu thụ tài sản do hành vi bất
hợp pháp mà có
- Phải hoàn trả toàn bộ hoa lợi, lợi tức đã thu được từ tài sản.
- Không được thanh toán những chi phí đã bỏ ra để làm tăng giá trị cho tài sản, bởi
nhà làm luật coi đó như là hành vi nguỵ trang đối với tài sản
- Phải bồi thường toàn bộ khoản lợi nhuận mà chủ sở hữu bị mất do khai thác và
giá trị tài sản.
Trường hợp thứ 2: Chủ sở hữu đích thực không có quyền kiện đòi tài sản trong 2
trường hợp: không đáp ứng được các điều kiện về đòi tài sản được quy định tại Điều 257,

hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí chủ sở hữu”. Trường hợp bị chiếm hữu ngoài y chí
chủ sở hữu có thể là hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, nhầm lẫn hay đe dọa. Như vậy chủ
sở hữu có được đòi lại tài sản là động sản không đăng ký quyền sở hữu từ người thứ ba
ngay tình khi hợp đồng vô hiệu cũng phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu có muốn
chuyển giao của chủ sở hữu đối với tài sản đó hay không. Và cũng cần lưu ý là muốn đòi
lại tài sản đó, chủ sở hữu phải chứng minh được đó là tài sản của mình. Qua đây có thể
thấy, lợi ích chính đáng của chủ sở hữu tài sản luôn được ưu tiên bảo vệ.
2.2 Tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao
cho người thứ ba ngay tình bằng một giao dịch khác không có đền bù, động sản phải
đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay
tình.
Trong trường hợp này, giao dịch với người thứ ba sẽ bị vô hiệu, trừ trường hợp
người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với
người bán mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu
tài sản nhưng sau đó người này lại không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án quyết định
bị hủy, sửa.
Việc quy định: “Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc động sản
phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ
ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu ” nhằm đảm bảo giá trị pháp lý của
việc đăng ký quyền sở hữu cũng như thể hiện tính đặc thù của đối tượng là đoọng sản đối
với bất động sản. Pháp luật quy định một số loại tài sản nhất định phải đăng ký quyền sở
hữu để công nhận quyền của chủ sở hữu, chống lại xâm phạm của người thứ ba và khi có
tranh chấp thì chủ sở hữu có thể dễ dàng chứng minh được đâu là đối tượng của hợp đồng
đã vô hiệu căn cứ vào giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu. Mặt khác vì giấy tờ chứng nhận
quyền sở hữu tài sản đứng tên không phải là người giao kết với người thứ ba do đó khó
chứng minh được tính ngay tình hay không ngay tình của người thứ ba.
Tuy nhiên cũng có ngoại lệ đối với trường hợp đối tượng của hợp đồng vô hiệu là động
sản phải đăng lý quyền sở hữu và động sản, đó là trường hợp người thứ ba ngay tình nhận
Trang 9/21


Nhưng nếu người đang thực tế chiếm giữ tài sản là người thứ ba ngay tình thì
quyền đòi tài sản này của chủ sở hữu vẫn được duy trì nhưng hạn chế ở một phạm vi nhất
định. Ở đây, nhà làm luật cần phải cân nhắc sự xung đột về lợi ích giữa quyền của chủ sở
hữu tài sản và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình. Thực chất, đứng sau quyền
lợi của người thứ ba ngay tình còn là lợi ích chung của cả xã hội, cụ thể đó là sự ổn định
và an toàn của các giao dịch dân sự đã được các chủ thể xác lập. Nếu tuyệt đối hoá hoàn
toàn quyền được đòi tài sản của chủ sở hữu thì sẽ tất tạo ra tâm lý e dè, lo sợ của các chủ
thể khi quyết định thực hiện một giao dịch dân sự để xác lập quyền sở hữu đối với một tài
sản cụ thể. Và vô hình chung quy định này sẽ tạo ra một rào cản cho sự thúc đẩy các giao
lưu dân sự, thương mại phát triển và kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội nói chung, đặc
Trang 10/21


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

biệt trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường đang chuyển mình hội nhập của nước ta
hiện nay. Để cân bằng sự xung đột về lợi ích trong trường hợp này, chế định bảo vệ
quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự 2005 đã có những quy định rất mềm dẻo và linh hoạt,
đặc biệt đã dành một thái độ tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
Việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể tham gia giao dịch. Pháp luật ưu tiên
bảo vệ quyền lợi và lợi ích chủ sở hữu nhưng những quy định về bảo vệ quyền lợi của
người thứ ba ngay tình tạo một cơ chế điều hòa lợi ích giữa chủ sở hữu và người thứ ba
ngay tình. Việc cân đối quyền lợi giữa chủ sở hữu và người thứ ba ngay tình có mục đích
bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu hợp pháp trên tài sản, quyền lợi chính đáng, hợp lý hợp
pháp của các bên tham gia giao dịch đồng thời xem xét đến việc đảm bảo tính ổn định
của quan hệ dân sự, tránh những xáo trộn không cần thiết, khuyến khích các chủ thể tự
bảo vệ quyền lợi của mình, góp phần xây dựng ý thức pháp luật của các bên trong quan
hệ dân sự.


Anh, vì chị Phương Anh là người thứ 3 ngay tình theo qui định tại điều 147 BLDS.
3. Nhận xét về vụ việc và về cách giải quyết của các cơ quan xét xử:
Qua vụ án này chúng ta thấy: bà Trần Thị Thảo (vợ ông Bảo) và 5 người con bà
Thảo là Nguyễn Hồng Giang, Nguyễn Thị Nga, Ngô Phi Hải, Nguyễn Vinh Hiển,
Nguyễn Thị Yến biết hoặc pháp luật qui định buộc phải biết ngôi nhà 42 Hà Trung thuộc
quyền sở hữu của các đồng thừa kế cụ Chương nhưng lại làm đơn xin sang tên thừa kế
cho mẹ con bà Thảo vào ngày 23/9/1992 là trái pháp luật, sau đó mẹ con bà Thảo lại bán
căn nhà này cho chị Phương Anh. Về phía chị Phương Anh khi mua căn nhà trên của mẹ
con bà Thảo không biết tài sản nêu trên là của các đồng thừa kế và pháp luật cũng không
buộc chị phải biết, vì tài sản giao dịch đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu. Nếu
xét hợp đồng mua bán giữa mẹ con bà Thảo và chị Phương Anh trong mối quan hệ giữa
người mua và người bán thì hoàn toàn hợp pháp. Vì người mua và người bán có đầy đủ
năng lực pháp luật và năng lực hành vi, trên cơ sở tự nguyện, đối tượng của hợp đồng
mua bán này không thuộc phạm vi nhà nước cấm và các bên tuân thủ đầy đủ các qui định
về hình thức. Trong điều kiện bình thường này chị Phương Anh không thể biết được (và
luật cũng không buộc phải biết) căn nhà của mẹ con bà Thảo đem bán là bất hợp pháp.
Như vậy chị Phương Anh đã trở thành người thứ ba ngay tình trong vụ án này. Tuy
nhiên, dưới góc độ luật pháp thì việc mua bán nhà của mẹ con bà Thảo và chị Phương
Anh là giao dịch bất hợp pháp, vì mẹ con bà Thảo tự ý bán tài sản của các đồng thừa kế
chưa chia, chị Phương Anh là người thứ ba ngay tình cần được bảo vệ.
Tuy nhiên, khi giải quyết vụ án, Tòa án các cấp lúng túng khi bảo vệ người thứ ba
ngay tình bằng cách công nhận hợp đồng hay hủy hợp đồng để bảo vệ quyền lợi cho các
chủ sở hữu. Trong trường hợp này cần tôn trọng quyền sở hữu của các đồng thừa kế, nên
cần hủy hợp đồng, trả nhà cho các đồng thừa kế và buộc mẹ con bà Thảo phải bồi thường
toàn bộ thiệt hại gây ra đối với chị Phương Anh như quyết định của cấp giám đốc thẩm là
Trang 12/21


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

của tải sản rất khó để người mua tự mình tiếp cận và có đầy đủ thông tin, việc đăng ký
của cơ quan nhà nước đã bao gồm cả hoạt động thu thập thông tin và tình trạng pháp lý
của tài sản đó, vì chỉ khi đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì tài sản đó mới được
đăng ký và cấp giấy chứng nhận về quyền sở hữu. Nếu người thứ ba căn cứ vào việc đăng
ký mà xác lập giao dịch thì có thể thấy trong trường hợp này, họ là “người thứ ba ngay
tình”. Bản thân họ không biết và không thể biết được tài sản đã được đăng ký bởi cơ quan
Nhà nước không thuộc quyền sở hữu của người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở
hữu hoặc tài sản là từ một giao dịch vô hiệu trước đó. Giấy chứng nhận về đăng ký quyền
sở hữu tài sản đã hợp pháp hóa tài sản được giao dịch.
Ví dụ: Đầu năm 2011, bà Phan Thị Ngọc Anh (ngụ quận Phú Nhuận, TP.HCM)
mua của ông N. một căn nhà trên đường Đào Duy Anh, quận Phú Nhuận với giá hơn 10
tỉ đồng. Sau khi công chứng và hoàn thành nghĩa vụ thuế bà Anh thấy giấy hồng cũ của
căn nhà bị rách gáy nên đi làm hồ sơ đăng bộ và đổi giấy hồng mới. Sau đó, Văn phòng
Đăng ký quyền sử dụng đất quận Phú Nhuận viết giấy hẹn bà Anh vào 22-11-2011 đến
nhận giấy mới. Bất ngờ vào sáng 20-11-2011, UBND quận Phú Nhuận gửi thông báo cho
bà Anh là căn nhà bà mua đã bị cơ quan thi hành án ra quyết định tạm dừng việc chuyển
quyền sở hữu vì người chủ cũ đang phải thi hành một bản án với người khác. Lúc mua
nhà bà hoàn toàn không biết thông tin gì về căn nhà, trong khi việc công chứng hợp đồng
mua bán nhà diễn ra bình thường, không bị ngăn chặn… Tương tự, tháng 8-2009, anh
Nguyễn Chiến Thắng mua của anh H. một căn nhà ba tầng ở TP Bắc Ninh (nhà đang
được thế chấp tại một ngân hàng). Anh Thắng đã cùng anh H. đến ngân hàng thanh toán
nợ, được ngân hàng thanh lý hợp đồng, trả lại giấy tờ nhà. Sau đó, anh Thắng mang giấy
tờ đến Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất để xin xóa thế chấp và đã được xác
nhận. Cùng ngày, hai bên ra phường làm thủ tục mua bán và được phường xác nhận. Tuy
nhiên, gần một năm sau, Chi cục Thi hành án dân sự TP Bắc Ninh lại kê biên căn nhà
trên với lý do để đảm bảo việc thi hành án của người bán.
Trong hai vụ việc trên, bà Anh và anh Thắng đều căn cứ vào giấy đăng ký quyền
sử dụng đất để xác lập giao dịch. Họ vốn không biết và không thể biết được tài sản mình

chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện, người thứ ba ngay tình không được bảo vệ.
Tài sản (chủ yếu là nhà, đất) đứng tên hộ gia đình nhưng một hoặc một số người
trong hộ gia đình đứng ra bán, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh…dẫn đến tranh chấp
thì người thứ ba ngay tình bị thiệt hại, vì người thứ ba chiếm hữu ngay tình không thể
biết hộ gia đình gồm những ai, do các thành viên trong hộ gia đình không tham gia đầy
đủ trong hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh… Vì vậy, khi các thành
viên này khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch, hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu,
Tòa án đã chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện.
Tài sản của chủ sở hữu nhưng do người khác đứng tên hộ và người này đem bán,
chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh… chủ sở hữu tài sản đó khởi kiện yêu cầu Tòa án
tuyên bố hợp đồng, giao dịch đó vô hiệu, Tòa án đã xét xử chấp nhận yêu cầu của người
khởi kiện. Người thứ ba ngay tình cũng không được bảo vệ.
Chủ sở hữu ủy quyền cho một người có quyền thế chấp, bảo lãnh, chuyển quyền
sử dụng, nhưng nội dung thể hiện trên giấy ủy quyền không thật rõ nên có thể giải thích
khác nhau. Người được ủy quyền đã đem tài sản đó đi thế chấp, bảo lãnh hoặc chuyển
nhượng. Sau đó xảy ra tranh chấp chủ sở hữu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố các giao
dịch đó vô hiệu.
Trong khi đó các chủ thể trong quan hệ tài sản chung vợ chồng hay tài sản là đồng
sở hữu, đồng thừa kế, tài sản hộ gia đình, tài sản do người khác đứng tên hộ… là người
biết rõ tình trạng tài sản, có điều kiện và buộc phải quan tâm đến tình trạng tài sản, tình
trạng giấy tờ về tài sản của mình nhất. Các chủ thể này có đủ thông tin, điều kiện hơn bất
Trang 15/21


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

kỳ chủ thể nào khác để thực hiện việc bảo toàn tài sản của mình như thực hiện việc kê
khai, đăng ký, làm giấy tờ chứng nhận sở hữu tài sản theo đúng quy định của pháp luật về
kê khai, đăng ký. Nếu họ có ủy quyền hoặc để một thành viên nào đó quản lý, kê
khai, làm thủ tục giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng thì họ cũng đủ điều kiện

làm công tác đăng ký tài sản.
Theo những phân tích trên, loại trừ trường giao dịch là tài sản đã được đăng ký
quyền sở hữu và người thứ ba căn cứ vào tình trạng đã đăng ký của tài sản để thực hiện
Trang 16/21


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

việc giao dịch thì quyền lợi của người thứ ba ngay tình sẽ được bảo vệ bằng cách giao
dịch của người thứ ba ngay tình không bị vô hiệu; trường hợp còn lại đối tượng của giao
dịch dân sự là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà tài sản đó chưa được đăng ký tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho
người thứ ba thì vẫn theo tinh thần của khoản 2 Điều 138 Bộ luật Dân sự 2005, theo đó
giao dịch này bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này
thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ
sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.
2. Sự thay đổi về quy định Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao
dịch dân sự vô hiệu tại BLDS 2015
Điều 133 BLDS 2015 quy định
Điều 133. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
1. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không
phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác
lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167
của Bộ luật này.
2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho
người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện
giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm


Qua những phân tích trên, ta có thể thấy BLDS 2005 đã không bảo vệ được quyền
lợi hợp pháp, chính đáng triệt để cho người mua tài sản trong trường hợp họ là người thứ
ba ngay tình. Điều 138 BLDS 2005 chỉ bảo vệ được người thứ ba ngay tình trong hai
trường hợp: Thứ nhất, khi giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản
không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho
người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực. Thứ hai, khi người
thứ ba ngay tình nhận được bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu thông
qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở
hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
So với BLDS 2005, BLDS 2015 đã quy định chặt chẽ hơn, chi tiết hơn và theo
hướng bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người thứ ba ngay tình có thiện chí.
Có thể thấy quy định đã khắc phục được bất cập của BLDS 2005 về bảo quyền lợi
của người thứ ba ngay tình khi giao dịch vô hiệu, qua đó sẽ bảo đảm tốt hơn, công bằng
hơn quyền lợi hợp pháp của người thiện chí, ngay tình trong giao dịch dân sự. Việc bảo
vệ người thứ ba ngay tình khi tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phù hợp với nguyên tắc đăng ký bất động sản và động sản phải đăng ký quyền sở
hữu, bảo đảm sự ổn định trong các quan hệ dân sự. Đồng thời, quy định này có thể thay
đổi nhận thức của người dân đối với thủ tục đăng ký tài sản, nâng cao tinh thần trách
nhiệm của cơ quan nhà nước khi thực hiện các thủ tục về đăng ký tài sản.

Trang 18/21


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

Trên đây là phần trình bày của nhóm em về vấn đề bảo vệ quyền lợi của người
ngay tình thứ ba khi giao dịch dân sự vô hiệu. Trong bài làm còn nhiều thiếu sót, mong
được các thầy cô bổ sung để bài làm của nhóm được hoàn thiện hơn.

II. Quyền lợi của người thứ ba ngay tình được bảo vệ khi GDDS vô hiệu........................7
II.1. Các trường hợp quyền lợi của người thứ ba ngay tình sẽ được bảo vệ...........7
II.2. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi
giao dịch dân sự vô hiệu theo Ðiều 138 BLDS 2005...............................................9
II.3. Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình
khi giao dịch dân sự vô hiệu...................................................................................10
III. Liên hệ thực tế..............................................................................................................12
IV. Những bất cập khi áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi
của người thứ ba ngay tình và quy định tại BLDS 2015
Trang 20/21


Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

khắc phục hạn chế..............................................................................................................14
IV.1. Những bất cập khi áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi
của người thứ ba ngay tình.....................................................................................14
IV.2. Quy định tại BLDS 2015 khắc phục hạn chế................................................17
Kết luận..............................................................................................................................19
Danh mục tài liệu tham khảo.............................................................................................20

Trang 21/21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status