Đánh giá chất lượng tăng trưởng Việt Nam
I. Bền vững tốc độ
Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế :Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP
hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng
kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế
Tăng trưởng kinh tế bền vững là khái niệm hiện đại để xác định mục tiêu và
các nhân tố tốt cho một nền kinh tế nhờ tăng trưởng bền vững. Theo đó, tăng
trưởng không chỉ hiểu đơn thuần là tăng thu nhập bình quân đầu người, mà phải
gắn với phát triển bền vững, chú trọng tới cả ba nhân tố: kinh tế, xã hội và môi
trường. Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn, tăng thu nhập cần phải
gắn với tăng chất lượng cuộc sống hay tăng phúc lợi và xóa đói nghèo. Tăng
trưởng không nhất thiết phải đạt tốc độ quá cao mà chỉ cần cao ở mức hợp lý
nhưng bền vững
1.
Đánh giá tăng trưởng ở việt nam về tốc độ và bền vững
Đánh giá tổng quát
Giai đoạn 2001-2006
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1999 ở Đông Á đã ảnh hưởng sâu rộng tới các
nước trong khu vực này không riêng quốc gia nào trong khu vực , Việt Nam
cũng chịu phải ảnh hưởng của đợt khủng hoảng đó, năm 2000-2001 chính phủ
việt nam đã tung ra những gói trợ cứu nhằm ổn định tình hình kinh tế thời bấy
giờ , phần nào đó đã xoa dịu đi những ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế , tuy
nhiên những dư âm của nó và những thiếu xót trong chính sách bắt đầu phát huy
tác dụng ngược gây ra nhiều bất lợi cho nền kinh tế sau này .
vào mạnh mẽ , nền kinh tế bắt đầu nhộn nhịp tăng lên , tốc độ tăng trưởng năm
này đạt 6.5% tuy có thấp hơn so với những năm trước nhưng giá trị chất lượng
của nó đã tăng lên .
Vấn đề đặt ra trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng Việt Nam đi đôi với vấn đề
cạnh tranh thị trường quốc tế .
2.
Sự bền vững của kinh tế việt nam
Sự tăng trưởng bền vững về kinh tế được xây dựng trên cơ sở tạo lập và
duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Kinh nghiệm quốc tế do nhiều nghiên cứu thực
hiện đã chỉ ra rằng, nhiều quốc gia cho dù sớm gia nhập danh sách các nước có
thu nhập trung bình,song mắc vào“bẫy thu nhập trung bình” thậm chí ở nấc
thấp do không duy trì được tăng trưởng bền vững bởi những bất ổn vĩ mô. Tăng
trưởng kinh tế kiểu “giật cục” (cónhững năm tăng cao song có những năm lại bị
sụt giảm mạnh về tăng trưởng) do môi trường vĩ mô không ổn định là một
trong những nguyên nhân quan trọng làm cho những nước này bị mắc trong
bẫy thu nhập trung bình ở mức thấp. Đây là vấn đề nổi cộm nhất của Việt Nam.
Về ngân sách nhà nước, trong nhiều năm qua Việt Nam luôn trong tình trạng
thâm hụt do nhu cầu tăng đầu tư phát triển. Mức thâm hụt đã tăng từ 22 nghìn tỉ
đồng năm 2000 lên 40,7 nghìn tỉ đồng vào năm 2005, và 113,1 nghìn tỉ đồng
vào năm 2010. Xét theo tỉ lệ so với GDP, mức thâm hụt ngân sách nhà nước
hầu như đều đáp ứng được quy tắc vàng, tức là không vượt quá 5%. Trong suốt
giai đoạn 2000-2006, mức thâm hụt ngân sách nhà nước đều ở khá sát, song
không vượt mức 5% so với GDP (theo giá hiện hành). Chỉ từ năm 2007 trở đi ,
mức thâm hụt ngân sách biến động nhiều hơn.Thậm chí trong năm 2009 và
2010, mức thâm hụt ngân sách so với GDP lần lượt là 6,9% và 5,6%. Cũng do
tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài, Việt Nam cũng buộc phải vay nợ nhiều
đầu tư công, nên tăng trưởng cao sẽ gây sức ép đối với thâm hụt NSNN và qua
đó là ổn định kinh tế vĩ mô. Chính ở đây, môi trường kinh tế vĩ mô còn tiềm ẩn
rủ iro, ảnh hưởng đến tăng trưởng của nền kinh tế trong dài hạn
Yếu tố thứ hai quyết định đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế là
khả năng xử lý các rủi ro vĩ mô khi nó xuất hiện. Các nghiên cứu và thảo luận
chính sách chỉ ra rằng năng lực xử lý một khi cú sốc vĩ mô xảy ra ở Việt Nam
còn nhiều yếu kém. Các chính sách ứng phó thường không kịp thời, có tính
giật cục, nhiều khi không nhất quán theo thời gian và phối hợp chính sách còn
khá hạn chế. Một số vấn đề mangtính cơ cấu như sự độc lập của Ngân hàng
Trung ương và chuyên môn hóa quá trình hoạch định chính sách tiền tệ cũng
được nêu trong một số nghiên cứu như là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu
lực của các phản ứng chính sách.
Thực tế trong những năm đầu sau khi mới gia nhập WTO, ViệtNam đã gặp
phải nhiều rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô chưa từng hiện hữu trước đây. Chẳng
hạn, giá hàng hóa thế giới tăng cao trong điều kiện nền kinh tế khá mở đối với
nhập khẩuvà chưa phát triển được các biện pháp hạn chế nhập khẩu phù hợp
với quy định của WTO. Một loại rủi ro khác đi kèm với các dòng vốn nước
ngoài (cả trực tiếp và gián tiếp) vào ồ ạt, trong khi tỉ giá được neo (thiếu linh
hoạt) và khả năng giám sát tài chính còn bất cập. Bản thân những áp lực lạm
phát dồn tụ từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào đầu tư công và tăng trưởng
tín dụng cũng chỉ hiện hữu trong các năm sau 2007. Chính vìvậy ,trong thời
gian đầu, các cơ quan hoạch định chính sách dường như gặp lúng túng khi ứng
phó với các loại rủi ro này. Việc tăng cung ứng tiền đồng để mua lại ngoại tệ
từ các dòng vốn vào trong giai đoạn2007-2008, song không thực hiện hiệu
quả các biện pháp trung hòa hóa khiến cung tiền tăng trưởng mạnh chính là hệ
quả của sự lúng túngấy.
Chính vì sự thiếu thắt chặt nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài , cộng thêm sự thiếu
định hướng trong đầu tư bằng ngân sách khiến cho nền kinh tế trở lên rắc rối , vấn
Nam với các nước phát triển vẫn còn khá xa, vì vậy cần có nhiều nỗ lực để thu
hẹp khoảng cách này.
Trong ba yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế là tốc độ tăng cua vốn, lao
động và TFP, vốn có tốc độ tăng cao nhất với tốc độ bình quân giai đoạn 20062010 là 11,67%; giai đoạn 2011-2014 là 7,52%. Tốc độ tăng của lao động giai
đoạn 2006-2010 là 2,78%; giai đoạn 2010-2014 là 1,97%. TFP có tốc độ tăng
chậm nhất, giai đoạn 2006-2010 là -0,27% và giai đoạn 2011-2014 là 1,44%.
Xét về xu hướng đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng kinh tế, giai đoạn
2006-2010, đóng góp của tăng vốn vào tăng trưởng kinh tế là 80%, tăng lao
động đóng góp 26%, còn tăng TFP đóng góp -5,8%. Tuy nhiên đến giai đoạn
2011-2013 thì đã có sự thay đổi rõ rệt, đóng góp của tăng vốn là 55,6%; đóng
góp của tăng lao động là 22,3% và đóng góp của TFP tăng lên đến 22,1%. Giai
đoạn 2011-2014 đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế là 25,8%.
Nhìn chung đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế cũng như tốc độ tăng
TFP của Việt Nam vẫn còn thấp nhưng Việt Nam là một nước đang phát triển
nên tăng cường vốn vẫn đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Tuy
nhiên để tăng trưởng kinh tế một cách bền vững và gia tăng khả năng bắt kịp các
nước phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới thì Việt Nam cần tập trung
thúc đẩy năng suất thông qua phát triển khoa học công nghệ, kỹ thuật, chất
lượng lao động…
Nhận thức được vai trò quan trọng của TFP, Nhà nước ta đã đề ra mục tiêu về
TFP và những chỉ tiêu liên quan.
Một số chỉ tiêu về TFP và các chỉ tiêu liên quan (đơn vị tính: %)
Tên chỉ tiêu
1. Tỷ trọng đóng góp của TFP
2. Tỷ lệ lao động đang làm việc được
đào tạo
3. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ
cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ
ngành nông, lâm nghiệp-thủy sản có tỷ trọng lao động đang làm việc lớn nhất
lên đến 46,8%, còn thấp hơn, chỉ đạt 26,8 triệu đồng/người, tương đương 1.284
USD/người). Việt Nam tuy thiếu vốn đầu tư do tích lũy nội bộ còn thấp, nhưng
tỷ trọng đóng góp của yếu tố vốn chiếm quá nửa vào tốc độ tăng GDP. Hiệu quả
đầu tư còn thấp. Mặc dù hệ số ICOR của thời kỳ 2011-2013 thấp hơn của thời
kỳ 2006-2010 (5,4 lần so với 6,2 lần), nhưng vẫn còn rất cao so với mức trung
bình của các nước tới 2-3 lần.
Về tỷ lệ lao động đang làm việc được đào tạo, theo báo cáo của Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội, tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo (bao gồm
cả những người trưởng thành từ thực tế hoặc được đào tạo nhưng chưa có bằng
cấp của hệ thống giáo dục-đào tạo theo quy định) rất cao, lên đến 49% năm
2013 và mục tiêu năm 2014 là 52% - gần như chắc chắn sẽ vượt mục tiêu đề ra.
Về tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ
cao trong giá trị sản xuất công nghiệp, đây là chỉ tiêu rất quan trọng, phản ánh
trình độ khoa học-công nghệ của sản xuất công nghiệp, là ngành động lực và
đầu tàu tăng trưởng kinh tế Việt Nam, là tiêu chí thể hiện là nước công nghiệp
hay không. Đây cũng là chỉ tiêu rất khó xác định, chưa được đưa vào Hệ thống
chỉ tiêu thống kê quốc gia và hiện chưa tính được để đánh giá mục tiêu. Tuy
nhiên, với mục tiêu chiếm tới 40% toàn ngành công nghiệp thì không phải là
thấp và không dễ đạt được.
Về tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị với mục tiêu 20%/năm, tức là chưa đến 5
năm đã phải thay đổi toàn bộ thiết bị công nghệ mới, cũng tức là chưa đến 5
năm đã phải khấu hao hết giá trị của số thiết bị công nghệ đã đầu tư trước đây.
Đây là một chỉ tiêu thường áp dụng đối với các công nghệ công nghiệp phát
triển, còn đối với các nước đang phát triển thì đó là chỉ tiêu rất cao.
Đối với Việt Nam, do lo ngại giá thành cao, các doanh nghiệp thường kéo dài
thời gian khấu hao, nên phải giảm tỷ lệ khấu hao, chỉ bằng một nửa con số trên.
Tuy nhiên, nếu không tăng tốc độ đổi mới công nghệ thiết bị như mục tiêu đã đề
Dữ liệu về tiêu dùng chứa các tín hiệu hỗn hợp. Dựa theo thống kê chính
thức, cầu tiêu dùng có dấu hiệu đi lên khỏi trạng thái trì trệ nhất vào năm 2011.
Khối lượng hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng năm 2014 tăng 6,3%, còn chi tiêu
GDP cho tiêu dùng cuối cùng tăng 6,2%.
2. Chi tiêu của chính phủ:
Bảng 2: Thu chi và cân đối ngân sách nhà nước (tỷ đồng)
Năm
2006
2007
2008
Tổng thu
Tổng thu
279,472
315,915
430,549
Tốc độ tăng
_
13.04%
36.29%
Tổng chi
Tổng chi
308,058
399,402
494,600
Tốc độ tăng
_
986,200
18.22%
10.97%
8.88%
28.22%
8.88%
-1.79%
(Nguồn : Tổng cục thống kê)
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2014 ước
tính đạt 814,1 nghìn tỷ đồng, bằng 104% dự toán năm.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2014 ước
tính đạt 968,5 nghìn tỷ đồng, bằng 96,2% dự toán năm.
Nhận xét:
3. Chi cho đầu tư:
Đầu tư vừa là nhân tố cung, vừa là nhân tố cầu, và cũng là nhân tố chính
tạo ra tốc độ tăng trưởng khá cao của nền kinh tế nước ta trong nhiều năm qua
nhờ tỷ lệ đầu tư trên GDP đã tăng lên rất nhanh và liên tục đứng ở mức rất cao.
Việc phát triển kinh tế thị trường và đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa đã tạo ra
nhiều cơ hội đầu tư mới, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước bỏ
vốn ra làm giàu, đóng góp vào quá trình phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên,
thực tế cũng cho thấy một khi vốn đầu tư đã trở nên quá dồi dào thì hiệu quả sử
dụng vốn sẽ giảm xuống, tất yếu dẫn tới việc phải điều chỉnh lại chiến lược đầu
tư.
Sau một số năm triển khai đầu tư ồ ạt (2006-2010) dẫn tới hai cuộc khủng
hoảng lạm phát lớn 2008 và 2011 (xem đồ thị 6), từ năm 2011, tỷ trọng vốn đầu
tư toàn xã hội trên GDP đã giảm rất nhanh và liên tục; từ mức 42,7% năm 2007
và 38,5% năm 2010 xuống chỉ còn 3406% năm 2011 và ổn định khoảng 30,531% năm 2013-2014, thấp nhất kể từ năm 2000. Nếu giữ ổn định được tỷ lệ đầu
tư này dài hạn đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì chắc chắn tốc độ
8.46
6.31
5.32
6.78
201
201
34.6
2
33.5
3
30.4
5.89
5.25
5.42
2011
2014
31
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
Kinh
Nhà nước
47,1
45,7
37,2
33,9
40,5
38,1
37,0
40,3
40,4
39.9
tếKinh
tế
nhà nước
38,0
38,1
38,5
35,2
33,9
công tác thu hút đầu tư nước ngoài đã giảm sút.
4. Hoạt động xuất nhập khẩu
Xuất khẩu vẫn giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng trong khi cán
cân thương mại bắt đầu thặng dư đáng kể
Cũng như đầu tư, xuất khẩu đã trở thành một trong những nhân tố quan
trọng nhất tạo ra bước phát triển kinh tế nhanh trong thời kỳ đổi mới. Đặc biệt,
sau khi Việt Nam ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và tiếp đó trở thành thành
viên đầy đủ của WTO, điều kiện trao đổi thương mại, thu hút đầu tư thuận lợi hơn
rất nhiều so với trước; tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu đều tăng lên rất mạnh,
khoảng 25% mỗi năm. Đến nay kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều đã tương
đương với 80%GDP toàn nền kinh tế, phản ảnh vị thế rất quan trọng đối với tăng
trưởng chung.
Bảng 4: Họat động xuất nhập khẩu hàng hóa (triệu USD)
Cán cân
Xuất khẩu
Nhập khẩu
xuất nhập
khẩu
2006
2007
2008
2009
2010
Kim
62764,7
80713,8
69948,8
84838,6
Tốc độTỷ trọng so
(%)
22,1
39,8
28,6
-13,3
21,3
GDP (%)
70,1
76,6
-5064,9
-14203,3
-18028,7
-12852,5
-12601,9
2011
2012
2013
2014
-9844,1
748,8
0,3
1984
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Điểm son đáng chú ý nhất trong 5 năm gần đây là kim ngạch xuất khẩu
thường xuyên tăng nhanh hơn kim ngạch nhập khẩu, dẫn tới từ năm 2012 đến
nay nền kinh tế luôn trong tình trạng xuất siêu. Đặc biệt năm 2014 đã xuất siêu
tới xấp xỉ 2 tỷ USD, một hiện tượng chưa từng có từ trước tới nay. Điều này
phản ánh một xu hướng phát triển tích cực, cần tiếp tục phát huy tiến tới liên tục
xuất siêu đảm bảo có đủ nguồn thu ngoại tệ trả các khoản nợ nước ngoài vay từ
nhiều năm trước.
Tính chung cả năm 2014, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 150 tỷ USD,
tăng 13,6% so với năm 2013 nhưng nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì chỉ tăng
9,1%.
Về nhập khẩu hàng hóa, tổng kim ngạch năm 2014 đạt 148 tỷ USD, tăng
12,1% so với năm trước.
IV. Co dãn của giảm nghèo theo tăng trưởng.
1.Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với xóa đói giảm nghèo
a) Mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo
Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo vừa phức tạp vừa đa dạng,
hiểu được mối quan hệ này và những yếu tố xác định mối quan hệ đó sẽ là mấu
chốt trong xây dựng chiến lược giảm nghèo thành công. Nếu có thể chỉ ra được
rằng tăng trưởng kinh tế nhanh hơn bao giờ cũng đi kèm giảm nghèo nhanh, do
hiệu ứng “lan tỏa”, thì chiến lược giảm nghèo cần tập trung vào việc đạt tăng
xuất dồi dào và đảm bảo sự ổn định cho giai đoạn “cất cánh”. Do đó, giảm
nghèo không những là một mục tiêu của tăng trưởng, cả trên góc độ xã hội và
kinh tế, đồng thời cũng là một điều kiện tiền đề cho tăng trưởng nhanh và bề
vững.
Tóm lại, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo là hai phạm trù khác nhau,
nhưng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau trong quá trình phát triển kinh
tế xã hội của một quốc gia. Do vậy, khi xây dựng dịnh hướng phát triển cho mỗi
thời kì cụ thểcần có sự kết hợp đúng đắn giữa vấn đề tăng trưởng kinh tế và
giảm nghèo, Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cần thực hiện đồng thời hoặc lồng
ghép với công tác giảm nghèo. Sự kết hợp ngay từ đầu giữa tăng trưởng kinh tế
và giải quyết tốt vấn đề giảm nghèo là một trong những nhân tố quan trọng
quyết định sự phát triển bền vững
b) Các trường hợp tăng trưởng không làm cho giảm nghèo nhanh hơn
* Thành quả của tăng trưởng kinh tế không được tái phân phối cho người
nghèo. Thực tế cho thấy, nếu nhà nước tập trung quá lớn các nguồn lực cho tăng
trưởng kinh tế, kết quả của tăng trưởng lại được sử dụng cho tái đầu tư tạo tăng
trưởng nhanh, đặc biệt là tập trung nguồn lực đầuu tư ở những vùng trọng điểm,
những ngành mũi nhọn, nhằm thúc đảy tăng trưởng nhanh mà thiếu quan tâm
đến những vùng khó khăn hơn thì sẽ dẫn đến sự phát triển mất cân đối, người
nghèo không được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng, điều đó còn dẫn đến tình
trạng phân hóa giàu nghèo sẽ diễn ra mạnh hơn.
* Các mô hình tăng trưởng không hướng tới người nghèo. Các mô hình tăng
trưởng kinh tế nhanh nếu không tạo điều kiện để thu hút người nghèo tham gia
thì người nghèo không được hưởng lợi trực tiếp từ kết quả tăng trưởng và tình
trạng nghèo vẫn khồn được cải thiện. Cụ thể: (i) Thực tế ở nhiều nước đã cho
thấy, phần lớn người nghèo đều là những người công nhân là thuê theo giờ,
lương thấp và tham gia vào công đoạn sản xuất ít hiệu quả nhất trong chuỗi giá
trị sản phẩm hàng hóa, lại thường xuyên làm việc trong những môi trường độc
thì tăng trưởng kinh tế có tắc động đến giảm nghèo ở mức trung bình, thu nhập
được phân phối đồng đều cho cả người giàu lẫn người nghèo; (iv) Nếu tỷ lê
nghèo tăng, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp thì
tăng trưởng kinh tế đã “bần cùng hóa” thêm người nghèo.
Ưu điểm của tiêu chí này là cho biết được bức tranh tổng quan về tăng
trưởng kinh tế và tỷ lệ nghèo; hơn nữa nó thể hiện được xu hướng tác động của
tăng trưởng kinh tế đến giảm nghèo. Tuy nhiên, tiêu chí này cũng có nững hạn
chế, đó là chưa định lượng được tác động của tăng trưởng kinh tế đến giảm
nghèo. Chính vì thế, những chỉ tiêu sau sẽ khắc phục những hạn chế của chỉ tiêu
này.
(2) Hệ
số co giãn của giảm nghèo với tăng trưởng
Thước đo tốt nhất để thấy được mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm
nghèo chặt chẽ thế nào là tính độ co giãn của giảm nghèo với tăng trưởng kinh
tế (Growth Elasticity of Poverty - GEP). Dộ co giản này thể hiện bằng phầm
trăm thay đổi tỷ lệ nghèo khi có 1% tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người.
GEP > 0 cho thấy tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ nghèo cùng chiều. Điều này thể
hiện tốc độ tăng trưởng tăng làm đói nghèo gia tăng, độ tăng trưởng giảm làm
đói nghèo gia giảm.
GEP < 0 cho thấy tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ nghèo ngược chiều, trong
trường hợp này tăng trưởng kinh tế quốc gia có lan tỏa tốt cho xóa đói giảm
nghèo.
GEP < -1 cho thấy thấy tốc độ giảm nghèo vượt qua tốc độ tăng trưởng, tăng
trưởng thay đổi ngày càng tích cực tới giảm nghèo
GEP = 0 cho thấy tốc độ tăng trưởng không ảnh hưởng tỷ lệ nghèo
-1 < GEP < 0 cho thấy thấy tốc độ giảm nghèo thấp hơn tốc độ tăng trưởng,
Khái quát thực trạng đói nghèo
Sau 10 năm - 2002 đến 2012 - nỗ lực xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam được
Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO) công nhận đạt thành tích nổi bật.
Việt Nam nằm trong nhóm 18 quốc gia được trao bằng khen chứng nhận việc
sớm đạt được Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ 1-Xoá bỏ tình trạng nghèo cùng
cực và thiếu đói- hướng tới mục tiêu giảm một nửa số người đói vào năm 2015.
Mục tiêu của Việt Nam giai đoạn tới là hướng đến xoá đói, giảm nghèo bền
vững, tuy nhiên lộ trình đến đích còn nhiều gian nan.
Nghèo đói tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, đặc biệt là ở các vùng khó
khăn như miền núi, hải đảo. Hơn 95% người nghèo sống ở khu vực nông thôn.
Tỷ lệ nghèo lương thực thực phẩm ở nông thôn cao gấp 10 lần so với ở thành
thị. Mức độ nghèo còn rất cao ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, nhưng ở những
vùng này tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại trong những năm gần đây.
Nhóm dân tộc thiểu số có tỷ lệ nghèo rất cao và việc giảm nghèo còn mang tính
chất kinh niên ở một số nhóm dân tộc ít người gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi nhiều
biện pháp lâu dài. Chỉ chiếm 14,5% tổng dân số nhưng đồng bào dân tộc ít
người chiếm đến một nửa dân số nghèo ở Việt Nam.
Bên cạnh những thách thức về giảm nghèo ở nhóm dân tộc thiểu số và những
vùng khó khăn, quá trình đô thị hoá nhanh chóng và sự tăng lên ồ ạt của dòng
người di cư từ nông thôn về các thành phố lớn cũng làm tăng áp lực giảm nghèo
ở khu vực thành thị. Nghèo đói ở khu vực thành thị không chỉ thể hiện ở thu
nhập thấp, mà còn thể hiện trong thiếu hụt về tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục,
nước sạch và vệ sinh, nhà ở, các mạng lưới an sinh xã hội, cơ hội tham gia vào
thị trường lao động và các hoạt động của cộng đồng. Đặc biệt, đặc tính không ổn
định và hay di chuyển của những đối tượng di cư tạm thời hoặc không có đăng
ký hộ khẩu, cũng khiến cho họ khó tiếp cận với các trợ giúp và dịch vụ công.
là gồm những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đến 260.000
đồng/người/tháng. Mặc dù vậy, nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễ rớt
trở lại vào cảnh nghèo đói.
Ở khu vực nông thôn tỷ lệ đói nghèo giảm chậm hơn thành thị nhưng
tương đối ổn định: từ 35,6% năm 2002 giảm xuống 27,5% năm 2004.
Khu vực đồng bào dân tộc thiểu số giảm nghèo chậm và còn rất cao tù
75,2% xuống 69,3%
Sự phân bố hộ nghèo giữa các vùng, miền là không đều. Năm 2005 mặc
dù tỷ lệ hộ nghèo trên toàn quốc giảm xuống còn 7% nhưng sự chệnh lệch về hộ
nghèo giữa các vùng là rất lớn, cụ thể tỷ lệ hộ nghèo ở Đông Nam Bộ là 1,7%
trong khi vùng Tây Bắc chiếm đến 12% tổng số hộ nghèo trong cả nước.