Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6
Đại học Đà Nẵng - 2008
ẢNH HƯỞNG CỦA DÂN SỐ ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Ở TỈNH KON TUM
INFLUENCE OF POPULATION ON THE ECONOMIC DEVELOPMENT IN
KON TUM PROVINCE
SVTH: HỒ THỊ HOÀ
Lớp 30K04, Trường Đại Học Kinh Tế
GVHD: TS. BÙI QUANG BÌNH
Khoa Kinh tế, Trường Đại Học Kinh Tế
TÓM TẮT
Mỗi địa phương đều có những nguồn lực nhất định để phát triển kinh tế, nhưng điều đó đòi hỏi
phải nhìn nhận và đánh giá đúng về chúng để tìm cách khai thác có hiệu quả. Bài này muốn
đánh giá tầm quan trọng của nguồn lực con người ở Kon Tum một tỉnh có tiềm năng lớn về
đất đai, và sẽ đưa ra kiến nghị cho địa phương hoàn thiện chính sách kiểm soát dân số trong
giai đoạn tới.
ABSTRACT
Every province own separate given resources to develop its economy.it means that we have to
appreciate them to find out the effective using solutions . This report purpose to value the
importance of the human resources in Kon Tum province, which get the big land potential. In
addition, the report also want to submit some suggestions which can help to improve the
province’s policies about the control population in the near future to local coucil in Kon Tum
province.
1. Mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Kon Tum là tỉnh nằm ở phía Bắc Tây Nguyên, được thành lập vào tháng 10 năm 1991,
tổng diện tích tự nhiên 9614500 km2, dân số 394.594 người (2007), trong đó dân tộc thiểu số
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích thống kế
- Mô hình kinh tế lượng
Trong quá trình nghiên cứu những phân tích về “Kiểm soát dân số nhằm phát triển
kinh tế bền vững ở tỉnh Kon Tum” của TS Bùi Quang Bình1. Khi phân tích mối quan hệ giữa
tăng trưởng và dân số ở tỉnh Kon Tum trong giai đoạn 2001 tới 2005. trong 5 năm 2001-2005
vốn đóng góp tới 64% vào tăng trưởng kinh tế, lao động chỉ đóng góp gần 20% và yếu tố năng
suất tổng hợp đóng góp là 16 %. Như vậy với điều kiện là một tỉnh nghèo rất thiếu vốn và khó
huy động, nếu sự tăng trưởng chỉ dựa vào nguồn lực này sẽ khó duy trì phát triển lâu dài. Lao
động là nguồn lực mà địa phương có thể thu hút và sẵn có nhưng chưa được phát huy.
Nghiên cứu mô hình ảnh hưởng của FDI/người đến sự tăng trưởng kinh tế (GDP) của
Maria Carkovic and Ross Leving.2 Sử dụng số trung bình từ 1960-1995.Phân tích ảnh hưởng
FDI/người ở 160 nước. Dữ liệu bao gồm một quan sát trên mỗi nước và những sai số tiêu
chuẩn định trước. Mô hình hồi quy cơ bản:
Growth = b0 + b1FDI/người +ei
FDI là tổng vốn cá nhân chảy vào 1 nước và “biến điều kiện” giới thiệu một nhân tố
của thông tin mang tính chất điều kiện.
Trên cơ sở nghiên cứu hai đề tài trên, nghiên cứu tiến hành phân tích ảnh hưởng của
dân số đến sự phát triển kinh tế ở tỉnh Kon Tum. Xây dựng mô hình:
GDPbp = b0 + b1X1+ b2X2+ b3X3
Trong đó: X1: là diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người, X2: là vốn bình quân
đầu người, X3: là giáo viên trên 1 vạn dân.
Ở đây sự phát triển kinh tế được đại diện bằng GDP/người; Kỳ vọng mô hình là: Diện
tích đất nông nghiệp/người giảm thì GDP/người tăng. Vốn bình quân tăng thì GDP/người
tăng, số giáo viên trên một vạn dân tăng thì GDP tăng.
Số liệu : Thu thập số liệu GDP/người, diện tích đất nông nghiệp/người, vốn bình quân, giáo
viên trên một vạn dân theo huyện theo từng năm từ 2003-2007 từ các phòng ban của Sở Kế
Hoạch & Đầu Tư tỉnh Kon Tum và Cục thống kê Tỉnh Kon Tum.
2. Nội dung:
2.1. Tổng quan ảnh hưởng của dân số đến phát triển kinh tế
cầu). Mật độ dân số cao dẫn đến nạn phá rừng lấy đất ở, đất canh tác và lấy chất đốt, đẩy
nhanh quá trình làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên.
- Dân số tăng nhanh ảnh hưởng đến nhịp độ đô thị hoá và mức độ đáp ứng các nhu cầu
khác của đời sống dân cư cũng trở nên khó khăn hơn.
Vì vậy vấn đề quan trọng là cần duy trì một cơ cấu dân số hợp lý.
2.2. Tình hình kinh tế- xã hội và dân số ở tỉnh Kon Tum.
Tình hình kinh tế của tỉnh Kon Tum:
Kể từ khi tách tỉnh ( tháng 10 năm 1991), Kon Tum cùng với nền kinh tế cả nước đã đi
dần vào thế ổn định và có sự tăng trưởng kinh tế khá (bình quân thời kỳ 2003- 2007 là
11,96%) từng bước hoà nhịp và phát triển theo cơ chế thị trường, đời sống nhân dân được cải
thiện một bước cơ bản.
Nhưng đánh giá tổng quát chung, Kon Tum vẫn là một trong những tỉnh nghèo nhất cả
nước, kinh tế kém phát triển, thu nhập dân cư thấp ( GDP/người là 434USD người/ năm).
Trình độ dân trí thấp kém, số hộ đói nghèo vẫn còn chiếm tỷ lệ cao.
Theo số liệu từ năm 2003-2007 cho thấy, cơ cấu GDP theo khu vực lớn của nền kinh tế
có sự thay đổi theo xu hướng chung của quá trình CNH là tỷ trọng nông nghiệp giảm từ
51,57% năm 2003 xuống còn 43,44% năm 2007; Tỷ trọng của ngành công nghiệp- xây dựng
tăng từ 18,06% năm 2003 đến 23,02% năm 2007, còn dịch vụ từ 30,07% năm 2001 tới
33,54% năm 2007.
Trong giai đoạn 2003-2007, tỉnh Kon Tum, nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong GDP
(trên 50%), công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm tỉ trọng thấp hơn. Kon Tum là một tỉnh
có nền kinh tế phụ thuộc vào nông- lâm nghiệp là chủ yếu.
Năm 2007: % tăng trưởng nông-lâm-thuỷ sản là
: 7,92%
% tăng trưởng công nghiệp-xây dựng là : 35,56%
% tăng trưởng dịch vụ
: 13,10%
Tình hình dân số tỉnh Kon Tum
Dân số tỉnh Kon Tum tăng qua các năm, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2003-2007 là
2,4%. Tuy nhiên nhờ đẩy mạnh công tác Kế Hoạch Hoá Gia Đình nên Tỉnh đã giảm được tỷ lệ
vốn/người
0.241
(0.86)***
Giáo viên/1vạn dân
0.398
(0.229)**
Hằng số
2.96
Số quan sát
40
F
13.80
R-squared
0.447
Adj R-squared
Breusch-Pagan Cook-Weisberg
heteroskedasticity
tiềm năng này còn lớn. Với điều kiện hiện nay của địa phương nền kinh tế chưa đạt tới điểm
127
Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6
Đại học Đà Nẵng - 2008
dừng, khối lượng tư bản k còn đang tăng, nhưng do thiếu lao động- nhân tố quan trọng để có
thể làm tăng diện tích đất đai được đưa vào khai thác sử dụng cho hoạt động kinh tế xã hội vì
vậy k tăng chậm. Vì thế, để phát triển bền vững trước hết phải đưa nền kinh tế tới trạng thái
dừng, quá trình này đi liền với việc gia tăng dân số và lao động. Sự gia tăng này còn để duy trì
một quy mô dân số tương xứng trong tương lai. Đây là vấn đề có liên quan tới chính sách kiểm
soát dân số của địa phương.
* Tăng quy mô dân số và lực lượng lao động đối với địa phương hiện nay cần thiết
theo hướng: Thứ nhất, kiềm chế tiến tới giảm tốc độ tăng dân số tự nhiên bằng hay cao hơn cả
nước đôi chút. Thứ hai, gia tăng tỷ lệ dân nhập cư, nó cho phép khai thác tài nguyên đất đai
của địa phương cho phát triển. Thu hút lao động từ các địa phương khác đến là con đường
nhanh nhất trong bối cảnh nhiều địa phương khác dư thừa lao động. Đây là vấn đề khó khăn vì
đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề kinh tế xã hội đi kèm, nhưng không thể không làm.
Thu hút người nhập cư có hiệu quả là một vấn đề khó. Có thể căn cứ vào tính chất của họ
là lao động thay thế hay bổ sung mà có giải pháp thích hợp.
Theo tính chất đó hiện tại chúng ta thiếu cả hai loại. Vì vậy trong những năm tới trong việc
thu hút lao động nhập cư cần theo hai hướng; Thứ nhất, trong thời gian trước mắt sẽ thu hút
nhiều hơn lao động thay thế để bổ sung cho sự thiếu hụt trong nền kinh tế hiện nay. Thứ hai,
về lâu dài cân thu hút lao động có chất lượng cao, những lao động mà theo sự thay đổi và phát
triển kinh tế yêu cầu như chủ trang trại, các doanh nhân, những nông dân giỏi, v.v...
Nhưng việc thu hút nhập cư cũng cần phải có những điều kiện nhất định về cơ sở hạ tầng
về kinh tế và xã hội để đảm bảo điều kiện sống và hoạt động kinh tế cho họ khi chuyển đến.