Hiện trạng kinh tế, xã hội, môi trường trong quá trình đô thị hoá tại Vĩnh Khê, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng - Pdf 35

1

Mở đầu
Các làng xã cổ của Việt Nam với những đặc trng chính nh tự trị về chính trị,
tự túc về kinh tế, đồng thuận về xã hội và là cộng đồng khép kín, bất biến. Hiện nay,
những làng xã cổ nh vậy gần nh không còn nữa, nó đã bị biến đổi ít hoặc nhiều
do quá trình phát triển của xã hội, CNH, HĐH, ĐTH. Quá trình đô thị hoá nông
thôn đang diễn ra mạnh mẽ ở nhiều nơi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng, có nhiều làng xã đã trở thành đô thị, quá trình này diễn ra mạnh nhất ở những
vùng ven đô thị, các làng quê đang dần dần từng bớc thay da đổi thịt, nâng cao đời
sống và chất lợng cuộc sống, cơ sở hạ tầng thay đổi nhanh chóng, kinh tế phát triển
theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá. Đô thị hoá là quá trình tất
yếu của mỗi quốc gia, mang lại nhiều lợi ích cho con ngời. Tuy nhiên, với tốc độ
ĐTH diễn ra rất mạnh mẽ tại các nớc đang phát triển, đã và đang tạo ra những vấn
đề khó khăn, để lại những hậu quả và tác động không tốt đến điều kiện sống ở thành
thị và cản trở tiến trình phát triển của xã hội. Do vậy việc nghiên cứu hiện trạng kinh
tế, xã hội, môi trờng của một vùng nông thôn đang diễn ra đô thị hoá là một việc
làm cần thiết để định lợng mức đô thị, cũng nh giúp các nhà quản lý đa ra những
giải pháp đúng đắn để đa vùng nông thôn đó trở thành một đô thị bền vững. Từ nhận
thức này tôi chọn đề tài Hiện trạng kinh tế, xã hội, môi trờng trong quá trình đô thị
hoá tại Vĩnh Khê, huyện An Dơng, thành phố Hải Phòng


2

Chơng I: Tổng quan tài liệu
1.1. Khái niệm đô thị, đô thị hoá
Đô thị: Trớc đây khái niệm về đô thị rất đơn giản, tiêu chí để đánh giá một
vùng có là đô thị hay không có thể chỉ cần dựa vào quy mô dân số hoặc là chức năng
chính trị hoặc là mật độ dân c nh ở Mỹ khi một khu c trú chính thức hay bất kỳ một
cộng đồng nào có dân số từ 2500 ngời trở lên đợc xem là một khu đô thị. Còn ở

hay một vùng, một tỉnh, một quận (huyện)

-

Dân số (không kể dân c ngoại thành), không dới 4000 ngời ( ở các khu vực
miền núi có thể ít hơn).

-

Sản xuất kinh doanh buôn bán phát triển, 60% có việc làm không phải nông
nghiệp.

-

Có hoạt động thơng mại, cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng.

-

Mật độ dân số phải cao hơn vùng nông thôn và đợc xác định riêng cho từng
loại thành phố theo phân hạng của Bộ Xây dựng.

Khái niệm này vẫn coi trọng vấn đề quy mô dân số và mật độ dân số, trong khi đó
chính những vấn đề này gây ra rất nhiều bất cập về xã hội. môi trờng đô thị.
Vùng đô thị là một khu vực có dân số và mật độ dân số lớn, bao gồm một đô
thị lớn làm trung tâm và nhiều đô thị khác nhỏ hơn làm vệ tinh, giữa chúng có mối
quan hệ với nhau về kinh tế, văn hoá, xã hội, đặc biệt là hệ thống giao thông liên kết
và phát triển cho phép ngời dân trong vùng có thể đi làm, đi học và về trong ngày.
Đô thị hóa: Có nhiều cách hiểu khác nhau về đô thị hoá, nhng nhìn chung trên thế
giới đô thị hoá là quá trình tăng dân số cả ở các thành phố và khu vực xung quanh
nó. Có khi thuật ngữ này đợc dùng để chỉ mức độ hoặc sự gia tăng thêm các đặc tính

cũ không còn phù hợp, khi cơ hội phát triển ở nông thôn giảm sút hoặc không còn
nữa. Lực đẩy mang tính cỡng bức, do biến đổi của thực trạng kinh tế xã hội đòi hỏi
con ngời phải thay đổi.
1.2. Quá trình đô thị hoá trên thế giới.
Đô thị hoá là động lực phát triển hiện nay và tơng lai. Hệ thống đô thị mỗi
quốc gia khác nhau do các yếu tố đặc trng về địa lý, kinh tế, xã hội và bản sắc văn
hoá.
Theo Quỹ của hoạt động về dân số (UNFPA), dân số đô thị trên toàn thế giới
theo dự báo sẽ vào khoảng 5,1 tỷ ngời vào năm 2025, trong khi năm 2000 chỉ có 2,9
tỷ ngời và thời điểm năm 1950 chỉ là 0,7 tỷ ngời. Tốc độ đô thị hoá trung bình trên


5

toàn thế giới là 29,36% vào năm 1950 nhng đã tăng lên 48,16% vào những năm
2000 và dự báo sẽ khoảng 63% vào năm 2025 (xem Bảng 1.1)
Bảng 1.1. Tình hình đô thị hoá trên thế giới 1950 2000và dự báo đến năm 2025


6

Năm

Tổng dân số thế giới

Tổng dân số đô thị trên

Tỷ lệ đô thị

(triệu ngời)

2000

6129

2953

48,16

2025

7998

5107

63,83
Nguồn: UNFPA, 2000

Vào năm 1990 tốc độ đô thị hoá trên toàn thế giới là 43%, trong đó các nớc
công nghiệp phát triển nh Mỹ, Anh, Pháp, Canada, Đức, Nhật thì tỷ lệ đô thị hoá đạt
trên 80%; các nớc Đông Âu và Liên Xô cũ thì tỷ lệ đô thị hoá là 65%; các nớc đang
phát triển nh Trung Quốc: 33%; Thái Lan: 42%; Malaysia: 43%.
Ngày nay ở các nớc công nghiệp phát triển nh Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật...
tỷ lệ đô thị hoá đã vợt lên vị trí cao nhất thế giới, gần 100% dân số sống trong các
đô thị. Tốc độ đô thị hoá ở các nớc kém phát triển hơn diễn ra nhanh hơn so với các
nớc phát triển hơn. Ví dụ từ năm 1975 đến năm 2000, theo báo cáo giữa kỳ của dự
án chơng trình nghị sự 21 về Phân tích những tác động của chính sách đô thị hoá
đối với sự phát triển bền vững đất nớc, tỷ lệ đô thị hoá ở châu á và châu Phi đã
tăng từ khoảng 22 25% lên gần 40%, tức là tăng khoảng 15%- 18%, trong khi ở
châu Âu tỷ lệ đô thị hoá tăng chậm hơn, từ xấp xỉ 70% lên gần 80%, tức là tăng
khoảng 10%.


1000

1200

Nguồn: UNFPA. 2000
Quá trình đô thị hoá ở hầu hết các nớc thuộc thế giới thứ ba là kết quả của sự
bùng nổ dân số nông thôn và nhu cầu cần nhiều cơ hội việc làm tốt hơn.
Tỷ lệ đô thị hoá ở các nớc đang phát triển tăng trung bình hằng năm là vào
khoảng 4% từ năm 1975 đến nay ( Bảng 1.3).
Bảng 1.3. Dân số đô thị và tỷ lệ đô thị hoá ở các đang phát triển
Năm

Dân số đô thị

Tăng trung bình

(tỷ ngời)

năm(%)

1980

0.96

1985

1,2

1990


8

Bảng 1.4. So sánh mức độ đô thị hoá ở một số nớc châu á

Quốc gia

Dân đô

Tỷ lệ dân

Tăng trởng

Tăng trởng

Dự báo tỷ lệ

thị năm

đô thị năm

dân đô thị

dân đô thị

dân đô thị đến

2001

2001

3,5

36,1

Trung Quốc

471,9

36,7

3,5

2,2

59,5

Indonesia

90,4

42,1

4,2

2,4

63,7

Mông cổ


3,0

41,3

Nguồn: Ngân hàng thế giới, năm 2006
Quá trình đô thị hoá có nhiều vấn đề lớn nh gia tăng nhanh số dân đô thị,
chênh lệch mức độ đô thị hoá, những biến đổi về kinh tế (chuyển đổi cơ cấu nghề
nghiệp từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp công nghiệp, dịch vụ ) xã hội, địa lý,
nhân văn, môi trờng
1.3. Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam
1.3.1. Phân loại đô thị ở Việt Nam
Theo Nghị định số 72/2001/ NĐ-CP ngày 5/10/2001 của Chính Phủ về Phân
loại đô thị và cấp quản lý đô thị quy định và hớng dẫn rất cụ thể về quy trình thành
lập một đô thị mới, phân loại đô thị dựa trên đánh giá theo từng tiêu chuẩn có thang
chấm điểm cũng nh quy định về cấp quản lý đô thị. Hiện nay ở Việt Nam có 6 loại
đô thị: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và
đô thị loại V, với 5 tiêu chí bao gồm: chức năng đô thị, tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp trong tổng số lao động, cơ sở hạ tầng, quy mô dân số và mật độ dân số (Xem
bảng 1.5). Đối với các đô thị miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa và hải đảo thì
có thể áp dụng mức tối thiểu bằng 70% các tiêu chí này hoặc các đô thị có chức


9

năng nghỉ mát, du lịch, nghiên cứu khoa học, tiêu chí về mật độ dân số có thể tối
thiểu bằng 50% theo tiêu chí quy định.
Theo thông t liên tịch số 02/2002-TTLT-BXD-TCCCBCP ngày 8/3/2002 của
Bộ Xây dựng- Ban tổ chức cán bộ chính phủ Hớng dẫn về phân loại đô thị và cấp
quản lý đô thị, thì hiện nay cả nớc có 708 đô thị, trong đó 2 đô thị/ thành phố đặc
biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, 4 đô thị/ thành phố loại trực thuộc trung ơng là Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế và Cần Thơ, 12 đô thị loại II, 20 đô thị loại III, 50


30 điểm

15 điểm

10 điểm

90%

đồng bộ và

1,5 triệu

15000ng-

hoàn chỉnh

ngời

ời/km2

đồng bộ và

50 vạn ng-

12000ng-

hoàn chỉnh

ời


biệt

thúc đẩy KT- XH của cả nớc

Đô thị

Đô thị với chức năng là trung tâm CT,

loại I

KT, VH, KHcó vai trò thúc đẩy KT-

85%

XH của vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả
nớc
Đô thị

Đô thị với chức năng là trung tâm CT,

loại II

KT, VH, KHcó vai trò thúc đẩy KT-

nhiều mặt h-

XH của vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một

ớng tới đồng

loại IV

hợp hoặc chuyên ngành về CT, KT, VH,

70%

đã hoặc đang

5vạn ngời

6000ngời/km2

4000 ngời

2000ngời/km2

đợc xây dựng

KHcó vai trò thúc đẩy KT- XH của

từng mặt

một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh

đồng bộ và
hoàn chỉnh

Đô thị

Đô thị với chức năng là trung tâm tổng

trung tâm của đơn vị hành chính, các thơng cảng và thành phố buôn bán nh Phố
Hiến (Hng Yên), Hội An (Quảng Nam), và Gia Định (Sài Gòn cũ).
Từ năm 1955 đến năm 1975 bắt đầu hình thành đô thị hoá, mặc dù đô thị hoá
đợc thực hiện dới ảnh hởng của các chủ trơng kinh tế, xã hội khác nhau song nó vẫn
diễn ra ở hai miền và ngay cả trong điều kiện chiến tranh.
Từ năm 1975 đến năm 1986 với đặc điểm nổi bật là một chiến lợc phát triển
hài hoà giữa nông thôn và thành thị, u tiên phát triển nông thôn, hạn chế di chuyển
tự do của dòng dân c bằng hộ khẩu, phân bố lại dân c bằng các đợt di dân đến các
vùng kinh tế mới, các nhà máy đợc xây dựng trong hoặc di chuyển đến các khu
công nghiệp cách xa các khu vực đô thị nhng kèm theo là sự xuống cấp của cơ sở hạ
tầng, đờng xá, hệ thống cấp thoát nớc, điện.
Từ năm 1986 đến nay đánh dấu bằng sự dịch chuyển từ nền kinh tế tập
trung và kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, với
chủ trơng giải phóng sức lao động và khuyến khích sản xuất, ngời lao động đợc tự
do di chuyển, dòng di dân từ nông thôn ra đô thị lớn cha từng có, tốc độ đô thị hoá
bắt đầu gia tăng. Từ năm 1994 bắt đầu xuất hiện sự phân cực mạnh mẽ thể hiện ở
sức hút dòng nhập c đến hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Kinh tế phát triển, bộ mặt đô thị đợc cải thiện song cũng dẫn đến nhiều vấn đề cần
giải quết nh: cơ sở hạ tầng thiếu và xuống cấp, cha đáp ứng đợc yêu cầu về nhà ở, đờng xá, cấp thoát nớc, điện, không gian cây xanh và các khu vui chơi giải trí do dân
số gia tăng; môi trờng ô nhiễm do vệ sinh cha tốt, không khí ô nhiễm, vấn đề tiếng
ồn và rác thải, sử dụng đất đai; năng lực quản lý đô thị: quy hoạch, quản lý, dịch vụ
đô thị, cảnh quan đô thị, hệ thống văn bản pháp lý giúp quản lý đô thị; các vấn đề xã
hội: việc làm, tệ nạn, lối sống và văn minh đô thị.
Tình hình đô thị hoá trong nớc
Cũng nh nhiều nớc khác trong khu vực và trên thế giới, tốc độ đô thị hoá ở
Việt Nam cũng đang diễn ra hết sức nhanh chóng. Bảng 1.6 cho thấy trong vòng 10


13


2020

480

500

550

649

656

-

-

11,87

13,77

14,94

19,47

20,87

30,4

46,0


Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng nhng phân bố không đồng đều giữa
các vùng lãnh thổ; tập trung ở những khu công nghiệp, những vùng trọng điểm miền
Bắc, Trung và Nam, trong khi ở những vùng núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo
thì tỷ lệ đô thị hoá thấp hơn nhiều. Đặc biệt là tốc độ đô thị hoá ở miền Nam cao hơn
nhiều so với tốc độ đô thị hoá ở miền Bắc (xem bảng 1.7). Nhng nhìn chung đô thị hoá
ở Việt Nam vẫn diễn ra chậm và trình độ đô thị hoá còn thấp hơn nhiều so với các nớc
khác trong khu vực.
Bảng 1.7. Sự phát triển dân số đô thị ở miền Bắc và miền Nam từ 1955- 1999 [24]
Năm

Miền Bắc
Tổng

số Dân

Miền Nam

số Tỷ lệ đô Tổng

dân

đô

thị

(nghìn

thị(nghìn

(%)

thị(nghìn

(%)

ngời)

ngời)

7,4

11.500

3.186

27,7

2.384

10,5

22.310

8.924

40,0

32.210

4.491


gây ra sự quá tải, tăng tỷ lệ thất nghiệp, tăng ô nhiễm môi trờng, tệ nạn xã hội, gây
khó khăn cho công tác quản lý đô thị.
Diện tích đất đai đô thị cả nớc tính đến năm 2000 vào khoảng 114.000 ha,
chiếm khoảng 0,34% diện tích cả nớc. Dự báo đến năm 2010 tăng lên 243.000 ha
chiếm 0.74% diện tích cả nớc, và đến năm 2020 có thể tăng lên 460.000 ha chiếm
1,4% diện tích cả nớc (xem hình 1.2).
Số lợng đô thị ở nớc ta tăng nhanh tơng đối. Theo tài liệu điều tra của viện
Quy hoạch Đô thị nông thôn, từ năm 1976 cả nớc có 312 đô thị các loại. Hiện nay,
số lợng đô thị trong toàn quốc đã hơn 700. Song mạng lới đô thị của nớc ta cha cân
đối hài hoà, đã gây nên những sức ép về dân số và sự quá tải về nhiều mặt cho các
đô thị[26].
Đến năm 2020, gần một nửa (45%) ngời Việt Nam sẽ sống ở các vùng đô
thị, trong khi chính phủ coi trọng giá trị của việc đô thị hoá nh là động lực phát
triển kinh tế, cũng đồng thời nhận thấy mối nguy cơ tiềm tàng của việc đô thị
hoá thiếu sự kiểm soát sẽ tạo ra những thành phố hỗn độn và gây thiệt hại cho
môi trờng.

Hình 1.2. Diện tích đất đô thị ở Việt Nam (ha) đến năm 2000 và
dự báo đến năm 2020[25]
Chất lợng và trình độ đô thị hoá của nớc ta còn quá thấp, chúng đợc phản ánh qua
các tiêu chí sau đây:


16

Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong khu vực đô thị còn quá thấp, trung bình
mới chiếm trên 60%. Trừ hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đạt
85% - 90%.
Cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật còn quá yếu kém: thiếu về khối lợng
và kém về chất lợng phục vụ so với yêu cầu, nhất là giao thông, cấp nớc, thoát nớc

Hiện tại chúng ta có khoảng 20 triệu ngời sống ở các đô thị nhng đến năm 2020, con
số này sẽ là khoảng 70 triệu ngời. Điều này cũng đồng nghĩa 50 triệu dân c đô thị
cần nhà ở, việc làm và các dịch vụ đời sống khác. Hay tính theo quỹ đất cứ 100m 2
/đầu ngời thì cần tới 500.000 ha đất dành cho đô thị, trong đó theo số liệu của hiệp
hội Đô thị Việt Nam dự báo, chỉ riêng về dịch vụ tối thiểu cho 3 hạng mục cấp nớc,
thoát nớc và thu gom xử lý chất thải rắn đã cần khoản tiền đầu t khổng lồ 8,9 tỉ USD
(năm 2010) và 13 tỉ USD (năm 2020). Những yếu tố khác cũng rất quan trọng phải
tính cho tơng lai sắp tới nh: cần bao nhiêu nhà ở, trờng học, bệnh viện
1.4. Một số quan điểm về phát triển đô thị bền vững
Theo quan điểm của Chính phủ tại quyết định số 10/1998/QĐ- TTg
Căn cứ quan điểm phát triển đô thị đã đợc thủ tớng Chính Phủ phê duyệt tại
quyết định số 10/1998/ QĐ- TTg ngày 23/1/1998 thì một đô thị phát triển bền vững
phải hội tụ đủ các yếu tố sau và đây cũng là cơ sở để chỉ đạo công tác lập, xét duyệt
quy hoạch xây dựng, quản lý và phát triển đô thị bền vững trong cả nớc:
1. Vị trí, chức năng của đô thị phù hợp trong hệ thống đô thị cả nớc, của vùng
và địa phơng.
2. Cơ sở kinh tế kỹ thuật tạo động lực phát triển cân đối với quy mô của đô thị.
3. Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, dân số, xã hội và môi trờng đạt đợc tơng
xứng với cấp và loại đô thị.
4. Cơ cấu quy hoạch đô thị hợp lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên, quy luật phát
triển kinh tế xã hội, quá trình phát triển giữa lịch sử và hiện tại, tr ớc mắt
và tơng lai, đảm bảo kết hợp hài hoà và cân đối giữa trung tâm và ngoại ô,
giữa đô thị với nông thôn.


18

5. Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội đồng bộ với trình độ hiện đại hoặc
thích hợp, tuỳ thuộc vào yêu cầu khai thác và sử dụng của từng khu vực trong
đô thị.

động trên 1000 ngời;Tỷ lệ tốt nghiệp đại học và sau đại học; Tỷ lệ đơn khiếu nại đợc
giải quyết hàng năm; Số ngày để có đợc giấy phép đầu t; Số vụ phạm pháp hàng
năm; Số lợng tội phạm và tai nạn giao thông hàng năm; đánh giá tình trạng tham
nhũng, quan liêu, tính minh bạch, dân chủ trong quản lý.
Một khu định c lành mạnh đợc đánh giá đánh giá thông qua một số chỉ số nh:
Chất lợng môi trờng không khí, đất, nớc, đa dạng sinh học, quản lý chất thải, chất độc
hại..; Diện tích nhà ở m2 bình quân đầu ngời; Thu nhập bình quân đầu ngời; Tỷ lệ
hộ đợc dùng điện và nớc sạch; Số bác sỹ trên 1000 ngời, số giờng bệnh trên 1000 ngời; Tỷ lệ trẻ em đi học từ 6 15 tuổi; Số lợng tội phạm trên 1000 ngời; Tỷ lệ hộ
nghèo, HDI, CPM; Tỷ lệ sinh thô, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, tỷ lệ chết thô, tỷ lệ tử
vong trẻ sơ sinh, tổng tỷ lệ sinh; Số lợng phơng tiện giao thông ( ô tô, xe máy) trên
1000 dân; Mật độ dân của toàn thành phố và nội thành.
Tài chính lành mạnh đợc đánh giá thông qua một số chỉ số nh: Cân đối thu
chi; Tỷ lệ doanh nghiệp phá sản; cơ cấu thu nhập xã hội dành cho tiêu dùng, tiết
kiệm và đầu t vào sản xuất; Tổng số nợ quá hạn hoặc số doanh nghiệp nợ quá hạn.
Theo quan điểm phát triển đô thị thân thiện với môi trờng
Xét từ quan điểm môi trờng thì phát triển đô thị bền vững phải tính đến các
yếu tố môi trờng bên cạnh các yếu tố kinh tế xã hội. Hay nói cách khác, đó là khái
niệm Phát triển đô thị thân thiện với môi trờng (Enviromentally sustainable Urban
Development). Phạm Ngọc Đăng, Đại học Xây dựng đã giới thiệu 10 tiêu chí phát
triển bền vững đô thị thân thiện với môi trờng. Vậy phát triển đô thị bền vững thân
thiện với môi trờng là gì? Nhiều tổ chức quốc tế đã đa ra khái niệm Thành phố sinh
thái (Ecological City) để xác định phát triển bền vững đô thị thân thiện với môi trờng. Tại Việt Nam, nhiều nơi đa ra mục tiêu xây dựng Thành phố Xanh Sạch
-Đẹp. Tiêu chí mà Phạm Ngọc Đăng giới thiệu đã dựa trên khái niệm thành phố
sinh thái đợc đa ra tại hội nghị WHO Liverpool 1998 đồng thời dựa trên khái niệm
phát triển bền vững theo định hớng Chiến lợc phát triển bền vững của Việt Nam. Dới
đây là 10 tiêu chí:


20


nhiều hủ tục và mê tín dị đoan ở nông thôn biến mất; đờng sá nông thôn đợc trải
nhựa, bê tông sạch sẽ, đi lại thuận tiện; ngời nông dân trớc kia chỉ quanh quẩn trong
thôn làng, giờ mở rộng quan hệ ra bên ngoài; điều hoà tiền công và thu nhập, giảm
sức ép về dân số và đất đai để tạo tiền đề cho tập trung và tích tụ ruộng đất, phát
triển nền nông nghiệp lớn, điện khí hoá và công nghiệp hóa nông thôn có cơ sở hạ
tầng đầy đủ, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và học vấn tốt, tăng cờng ngân sách cho
quốc gia, nâng cao chất lợng cuộc sống cho ngời dânTuy nhiên với tốc độ đô thị
hoá nhanh chóng trong các nớc đang phát triển đã và đang tạo ra nhiều vấn đề khó
khăn, để lại những hậu quả và tác động không tốt đến điều kiện sống ở thành thị và
cản trở tiến trình phát triển xã hội nh.
Mất cân bằng về giới:Trong cộng đồng di c từ nông thôn ra đô thị, các đô thị
châu Mỹ và châu Âu, nữ giới nhiều hơn nam giới, lý do là phần lớn các công việc
đồng áng ở đây là do đàn ông làm, phụ nữ chủ yếu lo việc nhà nên phụ nữ có điều
kiện rời bỏ nông thôn ra đô thị. Ngợc lại nam giới nhiều hơn nữ giới ở các đô thị
châu Phi và châu á vì việc đồng áng ở đây vai trò của phụ nữ trội hơn nam nên nam
giới có điều kiện ra thành thị làm việc.
Tăng độ mắn tổng số: Chắc chắn rằng độ mắn ở đô thị luôn thấp hơn ở nông
thôn và độ mắn ở vùng phát triển cũng luôn thấp hơn ở vùng kém phát triển. Tuy
nhiên những ngời từ nông thôn ra đô thị thờng có độ mắn cao hơn những ngời sống
bản địa nên đã tăng độ mắn đô thị cao hơn.
Tăng nghèo đói: Cộng đồng di c đông đảo các thành phần cũng đồng thời
mang theo cả gánh nặng của đói nghèo. Năm 1980, ớc tính có 40 triệu hộ gia đình
dân đô thị nghèo đói so với 80 triệu hộ nghèo ở nông thôn. Vào năm 2000 các hộ
nghèo tuyệt đối ở đô thị tăng lên 76% chiếm 72 triệu hộ, trong khi số nghèo ở nông
thôn giảm xuống 29% với 56 triệu hộ.Theo số liệu điều tra của Uỷ ban kinh tế châu
Mỹ la tinh và Caribe thì 22% dân Panama City(1983),25% dân đô thị Costa Rica
(1982),64% dân Guatemala City(1983), 45% dân Santiago de Chile (1985) nghèo
đói (UNDP,1989). Nền kinh tế đô thị không thể tiêu thụ hết cái nghèo của nông



nhiều, kể cả lấn chiếm đất đai, xây dựng không phép. Sự di c trái phép vào đô thị


23

góp phần gia tăng các xóm liều và các khu ổ chuột. Kamasi Ghana, 3/4 số hộ chỉ có
1 phòng, điều kiện này cũng đúng cho 50% số dân Cancuta, 33% số dân Mexico
City và phần lớn dân ở các đô thị châu Phi. Có những căn hộ đợc nhiều gia đình thay
nhau thuê vào các giờ khác nhau trong ngày(UNDP,1989).
Do đô thị hoá quỹ đất dùng cho các mục đích phi nông nghiệp ngày càng
tăng lên. Doxiadsis 1968 đã dự báo vào cuối thế kỷ 21 diện tích đất lục địa đợc sử
dụng nh sau: Đất nông nghiệp 37%, khu dân c 30%, khu đất bảo tồn tự nhiên 33%.
Rừng ma nhiệt đới và các hệ sinh thái bị suy kiệt và mất khả năng tái tạo do khai
thác bừa bãi, san ủi để phát triển nông, công nghiệp và khu định c. Gây sức ép lớn
đến tài nguyên nớc, cả về mặt khối lợng nớc sạch đợc sử dụng và lợng chất gây ô
nhiễm nguồn nớc.
Đô thị hoá làm gia tăng mức sử dụng năng lợng, từ đó gây suy thoái tài
nguyên, phát xả khí nhà kính, ô nhiễm khí và nguồn nớc, ở một số thành phố do
khai thác nớc ngầm quá mức gây sụt lún đất, nớc ngầm bị nhiễm mặn.
Rác thải (1tỷ USD phát xả 5000 tấn rác), khối lợng rác tăng theo mức độ đô
thị hoá theo đầu ngời từ 0,4 kg/ngời/ ngày ở các đô thị nghèo đến trên dới 3 kg/ngời/ngày ở các nớc phát triển.
Tỷ lệ diện tích cây xanh và mặt nớc trong đô thị bị giảm; bề mặt đất thấm nớc, thoát nớc bị suy giảm.
Nhiều nét đẹp truyền thống trong gia đình, họ hàng, làng xóm láng giềng
cũng có phần bị tổn hại, một bộ phận thanh niên ăn chơi đua đòi; quan hệ con cái
với cha mẹ trong một số gia đình ngày càng xa dần; thế hệ trẻ tiếp thu nhanh xu thế
hiện đại, ngợc lại với đa phần ngời cao tuổi cố giữ những giá trị truyền thống, dẫn
tới những mâu thuẫn mới.
Vậy đô thị hoá chính là một hiện tợng dân số, kinh tế, xã hội. Đợc coi là kết
quả của quá trình phát triển, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá, mang lại
nhiều thế mạnh cho xã hội. Nhng trong điều kiện không bình thờng, đô thị hoá làm

2.2. Mục tiêu nghiên cứu: Nhằm 3 mục tiêu chính
Tìm hiểu quá trình đô thị hoá diễn ra trên thế giới cũng nh ở Việt Nam,
những vấn đề kinh tế, xã hội, môi trờng có liên quan trong quá trình đô thị hoá.
Nghiên cứu hiện trạng kinh tế, xã hội, môi trờng trong quá trình đô thị hoá
của Vĩnh Khê.
Đánh giá mức độ đô thị hoá (hiện nay) của thôn Vĩnh Khê.
2.3. Phơng pháp luận
Luận văn ứng dụng lý thuyết hệ thống để phân tích, tổng hợp và nghiên cứu.
Tức là xem địa bàn nghiên cứu là một hệ thống với các thành phần có liên quan chặt
chẽ với nhau, phân tích cấu trúc hệ thống, tập trung xem xét quá trình, các mối tơng
tác, tính tổng thể của hệ thống. Đặc biệt, luận văn còn xem hệ thống đó là một hệ
sinh thái nhân văn gồm các nhân tố vô sinh và nhân tố hữu sinh mà trong đó con ngời đóng vai trò trung tâm, có ảnh hởng to lớn tới hệ sinh thái và môi trờng tự nhiên,
cũng nh môi trờng lại tác động trở lại đối với đời sống con ngời. Các nhân tố dân số,
kinh tế, xã hội, môi trờng đợc phân tích kỹ nhất.
2.4. Phơng pháp nghiên cứu
2.4.1. Phơng pháp thu thập và phân tích tài liệu
Thu thập, hệ thống hoá, phân tích và đánh giá các giữ liệu từ các tài liệu, các
công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, cụ thể nh sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status