Nghiên cứu sán lá (TREMATODA) ký sinh ở một số loài cá biển ven bờ từ Hải Phòng đến Quảng Bình - Pdf 35

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

NGUYỄN VĂN TĂNG

NGHIÊN CỨU SÁN LÁ (TREMATODA)
KÝ SINH Ở MỘT SỐ LOÀI CÁ BIỂN VEN BỜ
TỪ HẢI PHÒNG ĐẾN QUẢNG BÌNH

Chuyên ngành: Ký sinh trùng học
Mã số: 62.42.01.05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI - 2016


Công trình được hoàn thành tại:
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS. TS. Hà Duy Ngọ
2. PGS. TS. Phạm Văn Lực

Phản biện độc lập 1:………………………………………………
Phản biện độc lập 2: ………………………………………………

Phản biện 1: PGS. TS. Nguyễn Văn Thọ
Phản biện 2: TS. Phan Kế Long

loài cá biển ven bờ từ Hải Phòng đến Quảng Bình.
2.2. Xác định được thành phần loài sán lá đã thu thập ở một số
loài cá biển ven bờ từ Hải Phòng đến Quảng Bình.
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1. Điều tra tình hình nhiễm sán lá ký sinh ở một số loài cá biển
ven bờ từ Hải Phòng đến Quảng Bình.
3.2. Nghiên cứu thành phần loài sán lá ký sinh ở một số loài cá
biển ven bờ từ Hải Phòng đến Quảng Bình.


2

4. Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
- Đưa ra các dẫn liệu mới nhất về tình hình nhiễm sán lá ký sinh ở
cá biển ven bờ từ Hải Phòng đến Quảng Bình.
- Cung cấp các dẫn liệu về đa dạng thành phần loài sán lá ký sinh
ở một số loài cá biển ven bờ. Góp phần làm phong phú hơn những hiểu
biết về khu hệ sán lá ký sinh và đa dạng sinh học biển ở Việt Nam.
- Cung cấp số liệu về sự thích nghi vật chủ của các loài sán lá,
góp phần nghiên cứu sinh thái và tiến hóa của sán lá.
5. ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Cung cấp số liệu mới nhất về tình hình nhiễm sán lá ký sinh ở
83 loài cá biển ven bờ từ Hải Phòng đến Quảng Bình.
- Bổ sung dẫn liệu về thành phần loài sán lá ký sinh ở cá biển ven
bờ từ Hải Phòng đến Quảng Bình, trong đó:
+ Phát hiện và mô tả 2 loài sán lá ký sinh mới cho khoa học.
+ Bổ sung 18 loài sán lá ký sinh trên cá biển Việt Nam.
+ Phát hiện vật chủ mới của 12 loài sán lá ký sinh.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 131 trang, trong đó: Mở đầu 3 trang, Tổng quan tài

thống kê thành phần sán ký sinh ở cá biển Nhật Bản. Chauhan (1953) đã
công bố khu hệ các loài sán lá ký sinh ở cá biển Ấn Độ. Năm 1965,


4

Yamaguti nghiên cứu sán lá ký sinh trên cá ở vùng biển Hawai đã mô tả
13 loài mới thuộc 13 giống mới.
Từ 1974-1984, Wiliam và cộng sự nghiên cứu sán lá ký sinh ở cá
biển Bờ Tây và Tây Nam của Puerto Rico, tổng số 1019 cá thể cá thuộc
225 loài, 155 giống, 76 họ đã phát hiện 66 loài sán lá thuộc 52 giống, 19
họ. Năm 1975, Velasquez cho xuất bản công trình “Sán lá ký sinh ở cá
tại Philippines” trong đó tác giả mô tả 73 loài (23 loài mới) thuộc 50
giống, 21 họ sán lá ký sinh trên 27 họ cá ở Philippin.
Ở Hàn Quốc, Chai và cộng sự (1984) đã phát hiện 2 người bị
nhiễm sán lá Heterophyes heterophyes nocens (Heterophyidae), trong
đó một trường hợp xác định có thể vật chủ trung gian là Cá đối (Mugil
cephalus). Đến năm 1985, Chai và cộng sự đã phát hiện thêm tám
trường hợp nhiễm Heterophyes heterophyes nocens ở Hàn Quốc, tất cả
những người này trước đó đã ăn sống một số loài cá nước lợ như Cá đối
(Mugil cephalus).
Bray và các cộng sự (1993) nghiên cứu về họ Lepocreadiidae ở cá
Pomacentrid (Perciformes) trên đảo Heron, Queensland, Úc đã xác định
69 loài, thuộc 36 giống, trong đó có 6 giống mới và 57 loài lần đầu tiên
xác định tại biển nước Úc.
Năm 1994, William và cộng sự xuất bản cuốn “Giun sán ký sinh
ở cá”, công trình nghiên cứu về thành phần loài, vòng đời và đặc điểm
cấu tạo của các nhóm sán lá đơn chủ, sán dây, sán lá, giun đầu gai và
giun tròn ký sinh ở cá nước ngọt và nước mặn.
Đến năm 1996, Bray và cộng sự nghiên cứu về phân họ

Epinephelus tại tỉnh Khánh Hòa.


6

Arthur và Bùi Quang Tề (2006) đã thống kê danh sách các loài
KST ở cá nước ngọt và cá biển Việt Nam, trong đó có 147 loài sán lá ký
sinh ở 63 loài cá biển.
Năm 2009, Hà Duy Ngọ và cộng sự đã thống kê được 70 loài
giun sán-giáp xác ký sinh, trong đó có 51 loài sán lá ở 51 loài cá vùng
biển Hải Phòng.
Nguyễn Văn Hà và cộng sự (2007-2011) nghiên cứu GSKS trên
cá biển tại vịnh Hạ Long, Quảng Ninh đã mô tả 46 loài thuộc 22 họ của
9 bộ GSKS, trong đó có 12 loài giun sán mới cho khoa học, bao gồm 2
loài sán lá, 1 loài giun tròn và 9 loài giun đầu gai .
Như vậy, nhìn chung các nghiên cứu về sán lá ký sinh ở cá biển
Việt Nam vẫn còn ít, phân tán, phạm vi nghiên cứu còn nhỏ, số loài vật
chủ khảo sát còn hạn chế so với số loài cá biển của nước ta. Nghiên cứu
của chúng tôi đã xác định được tỷ lệ, cường độ nhiễm và 38 loài sán lá
ký sinh ở 83 loài cá biển ven bờ.

CHƢƠNG 2
VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tƣợng
Đối tượng nghiên cứu sán lá ký sinh ở 1115 cá thể cá biển (cá tự
nhiên) thuộc 83 loài, 33 họ của 8 bộ cá biển. Trong đó, Bộ Cá trích
(Clupeiformes) - 3 loài thuộc 2 họ, Bộ Cá mối (Myctofhiformes) - 2 loài
thuộc 2 họ, Bộ Cá chình (Anguilliformes) - 3 loài thuộc 2 họ, Bộ Cá đối
(Mugiliformes) - 9 loài thuộc 2 họ, Bộ Cá vược (Perciformes) - 58 loài

thu mẫu.
2.1.3. Địa điểm
- Nghiên cứu ngoài thực địa tại 4 địa điểm: Cát Bà-Hải Phòng,
Giao Thủy-Nam Định, Diễn Châu-Nghệ An, Đồng Hới-Quảng Bình.
- Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: Tiến hành phân tích mẫu
tại phòng thí nghiệm Ký sinh trùng học thuộc Viện sinh thái và Tài
nguyên sinh vật.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phƣơng pháp tiếp cận
- Phương pháp kế thừa: thu thập, phân tích, xử lý các số liệu
thống kê, các dẫn liệu điều tra, nghiên cứu, thông tin khoa học đã có từ
trước tới nay liên quan tới đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra thực địa và phân tích nội nghiệp.
Phƣơng pháp nghiên cứu sán lá ký sinh ở cá theo: Buchmann
(2007) và Heckmann (1980).
2.2.1. Thu thập và xử lý mẫu vật chủ
Mẫu cá được thu hoàn toàn ngẫu nhiên. Cá biển được thu tại các
làng chài, bến cá và cảng cá địa phương. Tách riêng từng loài, ghi tên cá


8

thường gọi, cá được ướp lạnh trong các thùng xốp đưa về phòng thí
nghiệm và tiến hành thu mẫu sán lá.
Trước khi mổ khám các mẫu cá đều được chụp ảnh, đo kích
thước, hoặc giữ lại (tùy trường hợp cụ thể) để xác định tên khoa học của
cá.
Mẫu cá được Tiến sĩ Nguyễn Kim Sơn - Phòng Sinh thái môi
trường nước, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật định loại.
2.2.2. Thu thập và bảo quản mẫu sán lá

Định loại sán lá dựa theo khóa định loại sán lá (Keys to the
Trematoda), tập 1-3.
2.2.6. Xử lý số liệu
* Tính tỷ lệ nhiễm theo công thức:
TLN (%): A% =

N1
x 100%
N

Trong đó: A là tỷ lệ nhiễm, N1 là số cá nhiễm sán lá ký sinh; N là
số cá nghiên cứu.
* Tính cường độ nhiễm giun sán ký sinh:
- CĐN thấp nhất: số lượng sán lá ít nhất trên 1 vật chủ.
- CĐN cao nhất: số lượng sán lá nhiều nhất trên 1 vật chủ.
Các số liệu, kết quả được xử lý bằng các chương trình ứng dụng
thống kê toán học trong Microsoft Excel trên máy vi tính.


10

CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. TÌNH HÌNH NHIỄM SÁN LÁ KÝ SINH Ở MỘT SỐ LOÀI CÁ
BIỂN VEN BỜ TỪ HẢI PHÒNG ĐẾN QUẢNG BÌNH
3.1.1. Tình hình nhiễm sán lá ký sinh ở các bộ, họ vật chủ
Tổng số 1.115 cá thể cá thuộc 83 loài, 33 họ của 8 bộ cá biển đã
được mổ khám để nghiên cứu sán lá ký sinh. Trong đó Bộ Cá vược có
số họ và số loài lớn nhất (58 loài thuộc 19 họ), tiếp đó đến Bộ Cá nóc (3
họ), Bộ Cá nheo có số họ và loài nghiên cứu ít nhất (1 loài thuộc 1 họ),
các bộ còn lại mỗi bộ nghiên cứu 2 họ.

Trong 8 bộ vật chủ, tỷ lệ nhiễm sán lá cao nhất ở Bộ Cá đối
(71/151 cá thể - 47,0%), thấp nhất ở Bộ Cá trích (4/25 cá thể - 16,0%),
các bộ cá còn lại có tỷ lệ nhiễm sán lá 19,0-45,9%. Bộ Cá nheo số lượng


11

cá thể nghiên cứu còn ít (5 cá thể thuộc 1 loài) với tỷ lệ nhiễm 2/5, cần
nghiên cứu thêm về bộ cá này để có đánh giá chính xác hơn.
Kết quả nghiên cứu tỷ lệ nhiễm sán lá ở 33 họ cá biển ven bờ vịnh
Bắc bộ từ Hải Phòng đến Quảng Bình cho thấy, cả 33 họ cá đều bị
nhiễm sán lá, tỷ lệ nhiễm cao nhất ở Họ Cá thu (33/58 cá thể - 56,9%)
và thấp nhất ở Họ Cá đìa (2/24 cá thể - 8%), các họ còn lại có tỷ lệ
nhiễm sán lá từ 11,5-46,5%. Có 10 họ cá số lượng cá thể nghiên cứu
(
Họ OPECOELIDAE Ozaki, 1925
Phân họ OPECOELINAE Ozaki, 1925
Giống Coitocaecum Nicoll, 1915
Coitocaecum gumnophallum Nicoll, 1915


13

Vật chủ: Cá tráp đuôi xám (Acathopagus berda)
Giống Opecoeliva Manter, 1934
Opecoeliva sp.
Vật chủ: Cá mú chấm vạch (Epinephelus amblycephalus)
Giống Opecoelus Ozaki, 1925
Opecoelus brevifistulus (Ozaki, 1928) Crowcroft, 1947
Vật chủ: Cá đục bạc (Sillago sihama)
Opecoelus haduyngoi Nguyen, 2012
Vật chủ: Cá tráp đuôi xám (Acanthopagus berda)
Opecoelus pteroisi Shen, 1986
Vật chủ: Cá nạng bạc (Pennahia agentata)
Giống Pseudopecoeloides Yamaguti, 1940
Pseudopecoeloides sp.
Vật chủ: Cá bao áo (Atropus attropus)
Phân họ PLAGIOPORINAE Manter, 1947
Giống Helicometra Odhner, 1902
Helicometra fasciata (Rudolphi, 1819)
Vật chủ: Cá mú chấm to (Epinephelus megachir)
Helicometra posodonophae Nguyen, 2012
Vật chủ: Cá nhệch (Pisodonophis cancrivorus)
Giống Helicometrina Linton, 1910
Helicometrina nimia Linton, 1910

Phân họ PLEORCHIINAE Caballero, 1952
Giống Pleorchis Railliet, 1896
Pleorchis hainanensis Shen, 1983


15

Vật chủ: Cá nạng bạc (Pennahia agentata), Cá uốp đuôi lá
(Johnius carutta).
Pleorchis sciaenae Yamaguti, 1938
Vật chủ: Cá đù nanh (Nibea albiflora), Cá tráp đuôi xám
(Acanthopagus berda)
Giống Stephanostomum Looss, 1899
Stephanostomum bicoronatum (Stossich, 1883) Fuhrmann, 1928
Vật chủ: Cá uốp đuôi lá (Johnius carouna)
Stephanostomum ditrematis (Yamaguti, 1939) Manter, 1947
Vật chủ: Cá cam sao (Seriola dumerili)
Stephanostomum fistulariae (Yamaguti, 1940) Manter & Van
Cleave, 1931
Vật chủ: Cá khoai (Harpadon nehereus)
Họ GYLIAUCHENIDAE Fukui, 1929
Phân họ GYLIAUCHENINAE Fukui, 1929
Giống Gyliauchen Nicoll, 1915
Gyliauchen tarachodes Nicoll, 1915
Vật chủ: Cá đìa (Siganus fuscescens)
Họ LEPOCREADIIDAE Odhner, 1905
Phân họ LEPOCREADIIAE Odhner, 1905
Giống Bianium Stunkard, 1930
Bianium lunaris n. sp.
Vật chủ: Cá nóc tro (Lagocephalus lunaris)

Vật chủ: Cá đù nanh (Nibea albiflora)
Liên họ OPISTHORCHOIDEA Looss, 1899
Họ CRYPTOGONIMIDAE Ward, 1917


17

Giống Metadena Linton, 1910
Metadena sp.
Vật chủ: Cá hường (Lutjanus ruselli)
Giống Neometadena Hafeezullah & Siddiqi, 1970
Neometadena ovata (Yamaguti, 1952)
Vật chủ: Cá hường (Lutjanus ruselli)Giống Siphoderina Manter,
1934
Siphoderina sp.
Vật chủ: Cá hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus)
Bộ STRIGEIDA (La Rue, 1926) La Rue, 1957
Liên họ BUCEPHALOIDEA Poche, 1907
Họ BUCEPHALIDAE Poche, 1907
Phân họ PROSORHYNCHINAE Nicoll, 1914
Giống Prosorhynchus Odhner, 1905
Prosorhynchus sp.
Vật chủ: Cá mú chấm to (Epinephelus megachir)
Liên họ HEMIUROIDEA Looss, 1899
Họ HEMIURIDAE Looss, 1899
Phân họ DINURINAE Looss, 1907
Giống Erilepturus Woolcock, 1935
Erilepturus hamati (Yamaguti, 1934) Manter, 1947
Vật chủ: Cá nhụ lớn (Eleutheronema tetradactylum), Cá chai
(Platycephalus indicus), Cá đù nanh ((Nibea albiflora).

sinh trùng giống nhau hơn. Tuy nhiên, có những loài có quan hệ họ hàng
gần nhưng do phương thức sống, thành phần thức ăn,… khác nhau, nên
có khu hệ KST khác nhau.


19

Trong 38 loài sán lá, phần lớn các loài sán lá ký sinh ở 1 loài vật
chủ, chỉ có 2 loài sán lá ký sinh ở 2 loài vật chủ: loài Skrjabinolecithum
spasskii ký sinh ở Cá đối nhồng và Cá đối mục thuộc Họ Cá đối; loài
Pleorchis sciaenae ký sinh ở Cá đù nanh thuộc Họ Cá đù và Cá tráp
đuôi xám thuộc Họ Cá tráp và 1 loài (Erilepturus hamati) ký sinh ở 3
loài vật chủ (Cá nhụ lớn, Cá chai, Cá đù nanh) thuộc 3 bộ khác nhau: Bộ
Cá đối, Bộ Cá vược và Bộ Cá mù làn.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, mặc dù số lượng mẫu vật chủ
không đồng đều về các cá thể trong từng loài, số loài trong các họ và số
họ trong các bộ, mẫu vật chủ thu được chủ yếu tập trung ở Bộ Cá vược
với 714 cá thể thuộc 58 loài, 19 họ. Tuy vậy, kết quả nghiên cứu cũng
cho thấy được thành phần loài sán lá ở Bộ Cá vược khá phong phú (26
loài) điều này có liên quan đến sự đa dạng trong khẩu phần thức ăn của
bộ cá này.
70.0%

65.0%

60.0%
50.0%
40.0%
30.0%
20.0%

Các loài mới cho khoa học gồm: Bianium lunaris n. sp., Bianium
fuscescens n. sp.; các loài mới bổ sung cho khu hệ sán lá ở cá biển Việt
Nam: Coitocaecum gumnophallum, Opecoeliva sp., Pseudopecoeloides
sp.,

Helicometrina

nimia,

Phyllotrema

sp.,

Vesicocoelium

solenophagum, Opistholebes amplicoelus, Skrjabinolecithum spasskii,
Haplosplanchnus

pachysomus,

Gyliauchen

tarachodes,

Diploproctodaeum haustrum, Monodhelmis dollfusi, Phyllodistomum
sp., Metadena sp., Neometadena ovate, Siphoderina sp., Prosorhynchus
sp., Elytrophalloides sp..
Trong 13 họ sán lá: họ Opecoelidae có số lượng loài lớn nhất (11
loài), phần lớn các loài sán lá thuộc họ này ký sinh trên các loài cá thuộc
Bộ Cá vược, chỉ riêng loài Helicometra posodonophae ký sinh ở Cá

biển Adriatic; biển Ligurian; Corsica; Tunisia; biển Đen; Đại Tây
Dương (Senegan, Mauritania); Hoàng Hải, Đông Hải và Nam Hải
(Trung Quốc); biển Nhật Bản; Ấn Độ Dương (biển Ả Rập, vịnh
Bengan). Loài S. ditrematis đã được phát hiện ký sinh ở các họ cá
Carangidae, Centropomidae, Embiotocidae, Priacanthidae, Sciaenidae,
Triakidae ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ (vịnh Bengan, Krusadai),
biển Ả Rập, biển Đỏ, Mozambique, Địa Trung Hải, Corsica, Brazil,
Florida (Mỹ), biển Caribe. Loài E. hamati ký sinh ở các loài cá
(Glossogobius giuris, Scomberoides lysan, Scomberoides sp.) ở nhiều
vùng biển khác nhau trên thế giới.


22

CHƢƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. KẾT LUẬN
4.1.1. Nghiên cứu sán lá ký sinh ở 1.115 cá thể cá thuộc 83 loài,
33 họ của 8 bộ cá ở khu vực biển ven bờ Việt Nam từ Hải Phòng đến
Quảng Bình, cho thấy 348 (31,2%) cá thể thuộc 76 loài cá bị nhiễm sán
lá, một số loài có tỷ lệ nhiễm sán lá cao (trên 50%) như: Cá đối cỏ
(65,8%), Cá cam vân (80%), Cá bạc má (70,6%); 7 loài cá (Cá song
đen, Cá tráo, Cá say, Cá móm gai dài, Cá uốp lưng xanh, Cá phèn, Cá
thu chấm) chưa phát hiện nhiễm sán lá.
4.1.2. Cường độ nhiễm sán lá ở 76/83 loài cá có sự khác biệt rõ
rệt, những loài có cường độ nhiễm sán lá cao như: Cá đối nhồng và Cá
đối vây dài (50 sán lá/cá thể cá), Cá đối cỏ (1-181 sán lá/cá thể cá, trung
bình 44,7 sán lá/cá thể cá), những loài có cường độ nhiễm sán lá thấp:
Cá sơn và Cá bò da (1sán lá/cá thể cá); đa số các loài còn lại có cường
độ nhiễm trung bình dưới 20 sán lá/cá thể cá.
4.1.3. Đã phát hiện 38 loài sán lá ký sinh thuộc 30 giống, 13 họ, 3

3-6 loài.
4.2. KIẾN NGHỊ
4.2.1. Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần loài sán lá ký sinh
ở cá biển nước ta rất phong phú. Vì vậy, cần có những nghiên cứu tiếp
theo về khu hệ sán lá ký sinh trên cá biển ở những vùng biển khác của
Việt Nam.
4.2.2. Bên cạnh nghiên cứu về thành phần loài cần có các nghiên
cứu về sinh học, sinh thái học và dịch tễ học một số loài sán lá để có
phương pháp phòng sự lây nhiễm sán lá từ cá tự nhiên sang cá nuôi và
từ cá sang người.

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
1. Nguyễn Văn Tăng, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Hà (2013), “Mô tả hai
loài sán lá thuộc giống Pleorchis Railliet, 1896 (Trematoda:
Acathocolpidae) ký sinh trên cá biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam”,
Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội nghị
Khoa học toàn quốc lần thứ năm (10/2013), Nxb Nông nghiệp, tr.
227-230.
2. Nguyễn Văn Tăng, Nguyễn Văn Hà, Hà Duy Ngọ, Phạm Văn Lực
(2015), “Mô tả một số loài sán lá ký sinh ở Họ Cá khế
(Carangidae) từ Hải Phòng đến Quảng Bình”, Thủy sản Việt Nam,
9(208), tr. 52-54.
3. Nguyễn Văn Tăng, Nguyễn Văn Hà, Hà Duy Ngọ, Phạm Văn Lực
(2015), “Thành phần loài sán lá ký sinh ở một số loài cá biển ven



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status