Nghiên cứu tác động của phương pháp tính điểm (30%) đến chất lượng học tập sinh viên khoa quản trị kinh tế quốc tế - Pdf 35

1

TỔNG QUAN
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đời sống ngày càng cao, nhu cầu sử dụng sữa hàng ngày trong mỗi gia đình
trở thành thiết yếu đặc biệt là sữa dành cho trẻ em. Vì vậy, thị trường sữa ngày
càng có thêm nhiều sản phẩm mới đa dạng về nhãn hiệu và chất lượng. Tuy nhiên,
với hàng loạt nhãn hiệu sữa đang có mặt trên thị trường như hiện nay người tiêu
dùng không biết lựa chọn sao cho đảm bảo về chất lượng và công dụng của từng
mặt hàng sữa mang lại. Đặc biệt là khi ngày nay với nhiều dòng sản phẩm sữa
được chào bán trên thị trường rất phong phú, đa dạng về các thể loại: sữa nước, sữa
bột, sữa chua…Không chỉ dừng lại ở đây mà chất lượng sản phẩm, hàng giả, hàng
nhái tràn lan trên thị trường khiến cho người tiêu dùng không khỏi lo lắng khi
quyết định đi mua sữa cho con trẻ.
Hơn nữa, sữa là một loại sản phẩm đặc biệt hơn các loại sản phẩm khác bởi
đây chính là nguồn cung cấp dinh dưỡng chính cho các thế hệ tương lai của đất
nước. Nếu ngay từ đầu các bé được sử dụng đúng loại sản phẩm, đảm bảo chất
lượng, an toàn thực phẩm thì quá trình phát triển trí não, tăng trưởng của bé sẽ tốt
hơn. Ngược lại nếu sản phẩm không được đảm bảo thì ngay từ đầu khi các bé hấp
thụ sản phẩm sẽ không những không phát triển bình thường mà có khi còn làm
chậm hay giảm một số chức năng vốn có. Vì vậy, điều này là rất quan trọng cần
phải có sự can thiệp, tác động, quản lý của Chính phủ là rất lớn, từ diễn biến thị
trường trên thực tế mà Chính phủ sẽ có những chính sách áp dụng phù hợp cho
ngành sữa Việt Nam hiện nay.
Xác lập vấn đề nghiên cứu


2

Như đã trình bày ở trên, tình hình thị trường sữa bột trẻ em trên địa bàn Biên
Hòa đang là một bài toán khá phức tạp. Vấn đề nghiên cứu ở đây là nghiên cứu

Cụ thể, qua đề tài nghiên cứu, người tiêu dùng cũng phần nào thấy được đặc
điểm và vai trò của mặt hàng sữa bột trẻ em như thế nào, và từ đó đưa ra những lựa
chọn tiêu dùng thông thái, tránh mua phải những sản phẩm giả, không đúng chất
lượng. Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp kinh doanh sữa bột trẻ em sẽ nắm bắt
thêm được các tình hình luật pháp quản lý thị trường sữa ra sao, và từ đó họ có cái
nhìn tổng quan về ngành mình đang kinh doanh, để đưa ra những chiến lược cạnh
tranh lành mạnh trên thị trường mình đang kinh doanh, nhằm đáp ứng nhu cầu của
khách hàng, để đạt lợi nhuận tối đa.Về phía quản lý của Chính phủ, qua đề tài
nghiên cứu có thể thấy cái nhìn tổng quát nhất về thị trường sữa từ đó đưa ra các
chính sách, văn bản quản lý sao cho phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp kinh
doanh, và có những chế tài quản lý chặt chẽ về những vi phạm của nhà cung ứng
sữa trên thị trường.
Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài các phần như tóm lược, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt,
kết luận… đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2: Thực trạng thị trường sữa bột trẻ em tại thành phố Biên Hòa.
Chương 3: Một số giải pháp cho thị trường sữa bột trẻ em tại thành phố Biên Hòa
và kiến nghị.


4

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu thị trƣờng
1.1.1 Khái niệm: [5]
Nghiên cứu thị trường liên quan đến việc thu thập, ghi âm và làm cho ý nghĩa
của tất cả các thông tin có sẵn mà sẽ giúp đỡ một đơn vị kinh doanh để hiểu thị
trường của nó. Nghiên cứu thị trường đặt ra để trả lời các câu hỏi sau đây:

Thị trường của chúng tôi thay đổi?
Nghiên cứu thị trường là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng, nếu công tác

nghiên cứu thị trường được làm tốt, nó cung cấp đầy đủ thông tin chính xác để
giúp người làm marketing đưa ra một chiến lược phù hợp và do đó mang lại hiệu
quả cao. Ngược lại, nếu công tác nghiên cứu thị trường thu thập về những thông tin
không chính xác, không phản ảnh đúng tình hình thực tế thị trường, và do không
dựa trên cơ sở thông tin vững chắc nên quyết định được đưa ra sẽ không sát với
thực tế, dẫn đến hoạt động marketing sẽ không hiệu quả, lãng phí nhân vật lực.


5

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài, trước khi quyết định thâm nhập một thị
trường, tung ra một sản phẩm mới, hoặc thực hiện một chiến dịch quảng bá truyền
thông, hay quyết định điều chỉnh một trong các yếu tố chiêu thị như tăng giảm giá,
thay đổi bao bì sản phẩm, tái định vị v.v. họ đều thực hiện nghiên cứu thị trường
trước khi xây dựng kế hoạch chi tiết.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do đánh giá không đúng tầm mức quan
trọng của nghiên cứu thị trường, hoặc cũng có thể có nhận thức nhưng do hạn chế
về ngân sách, đã không chú tâm đúng mực đến công tác nghiên cứu thị trường
trước khi tung một sản phẩm mới, kết quả là họ đã phải trả giá đắt khi vấp phải
những trở ngại khó có thể vượt qua trong quá trình triển khai thâm nhập thị trường.
1.1.2 Tầm quan trọng của công tác nghiên cứu thị trƣờng:
Điều cơ bản nhất quyết định sự thành công của một sản phẩm là sự chấp nhận
của người mua sản phẩm hoặc sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ. Làm thế nào
biết được khách hàng có thích hay không thích, chấp nhận hay không chấp nhận?
Chỉ có cách duy nhất, chính xác nhất và cũng là một kỹ thuật xưa như trái đất là
hỏi chính khách hàng người được cho là sẽ mua sản phẩm, hoặc/và người dù không
trực tiếp mua nhưng có ảnh hưởng tác động đến quyết định mua sản phẩm. Cùng

mà quyết định phương hướng kinh doanh của mình.
Quá trình nghiên cứu thị trường bao gồm việc xác định hệ thống, thu thập, phân
tích và phân phối thông tin cho mục đích phát triển kiến thức và ra quyết định. Các


7

lý do và thời gian mà tại đó công ty hoặc tổ chức của bạn có thể xem xét thực hiện
nghiên cứu thị trường khác nhau, nhưng mục đích chung của việc đạt được trí
thông minh để ra quyết định vẫn không đổi trong suốt.
Cho dù tổ chức đang tiến hành quảng cáo, đặc biệt các dự án nghiên cứu thị
trường, tạo ra một chương trình nghiên cứu thị trường mới hoặc sửa đổi một một
trong hiện tại, các bước chính trong quá trình này là gì? Trong khi có hàng chục
các bước nhỏ trên đường đi, những bước phù hợp với một trong sáu bước chính
của quá trình nghiên cứu thị trường. Đó là:
1. Xác định vấn đề cần nghiên cứu.
2. Phát triển phương pháp tiếp cận vấn đề.
3. Xây dựng nghiên cứu thiết kế và chiến lược.
4. Thu thập dữ liệu.
5. Thực hiện phân tích dữ liệu.
6. Báo cáo và trình bày.
1.3 Các phƣơng pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu thị trường được chia ra làm hai dạng:
Nghiên cứu định tính


Tìm hiểu động cơ, những yếu tố thúc đẩy.




cấp các báo cáo nghiên cứu thị trường, có thể truy cập trên Internet.
1.3.2 Khảo sát lấy mẫu
Là cách phổ biến nhất để thu thập dữ liệu lĩnh vực. Nó liên quan đến việc tham
gia một cuộc điều tra dân số của một khu vực nhỏ của dân số mà đại diện cho tất cả
các của một nhóm cụ thể.
Thuận tiện để lấy mẫu thông tin từ bất kỳ nhóm nào. Phán quyết lấy mẫu là tinh
tế hơn: người phỏng vấn sẽ chọn trả lời cao, đường phố trên cơ sở dù có hoặc
không xuất hiện để thuộc về một phân đoạn cụ thể hoặc dân số - nói rằng, tầng lớp
trung lưu những người kinh doanh. Lấy mẫu hạn ngạch giao dịch với các loại cụ
thể của người trả lời - ví dụ như nữ sinh viên đang theo học các ngành khoa học xã
hội.
1.3.3 Quan sát trực tiếp


9

Hãy quan sát những sản phẩm hay dịch vụ mà khách hàng đang mua và cách
khách hàng sử dụng chúng. Hãy quan tâm đặc biệt đến những khó khăn mà khách
hàng gặp phải khi dùng các sản phẩm và dịch vụ thông dụng. Những khó khăn này
có thể đại diện cho các cơ hội thị trường. Nhân viên bán hàng là những người có
điều kiện tốt nhất để nghiên cứu bằng phương pháp quan sát.
1.3.4 Thử nghiệm.
Một công ty sản xuất thực phẩm đóng gói giới thiệu loại sản phẩm mới ở các
mức giá khác nhau với các kích thước bao bì khác nhau và trưng bày mẫu trong
một số cửa hàng được chọn. Sau đó, công ty sẽ ghi nhận phản ứng của khách hàng
để điều chỉnh giá cả và kích thước bao bì phù hợp trước khi chính thức tung sản
phẩm ra thị trường.
1.3.5 Thu thập và phân tích dữ liệu mua hàng
Sự phát triển của công nghệ thông tin và mã vạch đã giúp các công ty có thể lưu
giữ thông tin về nhu cầu và thị hiếu của khách hàng. Chẳng hạn, bằng cách truy

nước (nếu ngân sách nhà nước có ảnh hưởng đến thị trường của bạn), thuế xuất
nhập khẩu, quota và các thoả thuận cấp nhà nước có liên quan đến thị trường,
nguồn cung cấp nguyên liệu, vật tư cho sản phẩm của bạn... Qua đó có thể dự đoán
thị trường và xây dựng kế hoạch kinh doanh của mình.


11

- Thu thập thông tin về hoạt động của các đối tác, khách hàng tiềm năng. Qua đó
giúp bạn đưa ra những quyết định đúng đắn, ngăn ngừa rủi ro...
1.4.2 Nghiên cứu nhu cầu thị trƣờng.
Thu thập thông tin về nhu cầu của khách hàng, xu hướng tiêu dùng để qua đó có
thể tung sản phẩm mới hoặc cải tiến sản phẩm hiện hữu nhằm có thể đáp ứng tốt
hơn nhu cầu của thị trường, cũng cố vị trí của mình trên thị trường.
1.4.3 Nghiên cứu kênh phân phối.
Thu thập thông tin về thói quen và hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng để
thiết lập kênh phân phối cho sản phẩm mới sắp được tung ra thị trường. Hoặc phát
triển thêm kênh phân phối mới cho sản phẩm hiện hữu khi phát hiện sự thay đổi
trong hành vi tiêu dùng của một bộ phận khách hàng.
1.4.4 Đánh giá mức độ nhận biết của một thƣơng hiệu và hình ảnh của thƣơng
hiệu.
Thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn khách hàng nhằm đánh giá mức độ
nhận biết về thương hiệu trước và sau khi tung ra một chiến dịch quảng bá thương
hiệu nhằm để đo lường hiệu quả của hoạt động truyền thông.
1.4.5 Thu thập thông tin đối thủ cạnh tranh.
Thu thập thông tin của đối thủ cạnh tranh nhằm phục vụ cho việc phân tích
cạnh tranh. Thu thập thông tin về hoạt động của đối thủ cạnh tranh nhằm phán
đoán chiến lược của họ như các kế hoạch đầu tư nghiên cứu phát triển sản phẩm
mới, bổ sung nhân lực, xây dựng kho tàng, nhà máy, kênh phân phối. Thu thập
thông tin về các hoạt động chuẩn bị của đối thủ cạnh tranh về các hoạt động truyền

gầy.
+ Sữa bột nguyên kem: Là sữa bột chứa từ 26% đến 42% hàm lượng chất
béo.
+ Sữa bột tan nhanh: Là sữa bột chứa từ 1,5% đến 26% hàm lượng chất béo.
+ Sữa bột gầy: Là sữa bột chứa nhỏ hơn 1,5% hàm lượng chất béo.
1.5.2 Đặc điểm của mặt hàng sữa bột:
Nhóm nguyên liệu và vật liệu phụ trong thành phần sữa bột thường bao gồm:
(1) độ tinh khiết của tất cả các loại nguyên liệu và vật liệu phụ phải đảm bảo yêu
cầu đối với sản xuất thực phẩm, (2) chủng sữa tinh khiết,(3) các vitamin, (4) dầu
thực vật,(5) đạm, ( 6) đường sữa, đường sacaroza, glucoza,lactoza, (7) tinh bột, (8)
axit lactic, axit xitric, (9) muối khoáng, (10) nước uống, (11) các chất phụ gia khác
tùy theo tính chất của từng sản phẩm.
Để phân biệt được các loại sản phẩm sữa bột trên thị trường có rất nhiều
cách, dưới đây là một số cách đơn giản:
+ Tùy theo công dụng sản phẩm được chia ra các loại như sau:
- Loại sản phẩm dùng cho trẻ đẻ non và trẻ đến 3 tháng tuổi.
- Loại sản phẩm dùng cho trẻ từ 4 đến 12 tháng.
- Loại sản phẩm dùng cho trẻ từ 1 tới 3 tuổi.
- Loại sản phẩm dùng cho bà mẹ mang thai.
- Loại sản phẩm dùng cho người già.
+ Tùy theo phương pháp chế biến sản phẩm được chia:
- Loại sản phẩm sữa bột không có phụ gia.


14

- Loại sản phẩm sữa bột có phụ gia.
- Loại sản phẩm dùng cho chế độ ăn kiêng.
+ Tùy theo phương pháp chế biến và nhu cầu sử dụng sản phẩm sữa thì được
chia làm các loại sau:

1. Màu sắc

Từ màu trắng sữa đến màu kem nhạt

2. Mùi, vị

Thơm, ngọt đặc trưng của sữa bột, không có mùi, vị lạ

3. Trạng thái

Dạng bột, đồng nhất, không bị vón cục, không có tạp chất lạ

(Nguồn: Theo cục vệ sinh an toàn thực phẩm)

[3]

- Chỉ tiêu vi sinh: tổng số vi khuẩn hiếu khí, số vi sinh vật gây bệnh như ecoli,
salmonella, clostridium…
- Chỉ tiêu hóa lý: độ ẩm, tỷ trọng, khả năng hòa tan, độ chua, kích thước hạt, hàm
lượng các chất dinh dưỡng như hàm lượng chất béo, lactose, vitamin, protein,…
- Khả năng hòa tan của sữa bột được xác định qua các chỉ tiêu: chỉ số hòa tan, độ
thấm ướt, độ phân tán…
- Chỉ số hòa tan: phương pháp chung xác định chỉ số hòa tan là cho 10g sữa bột
gầy (hoặc 13g sữa bột nguyên kem) vào 100ml nước ở 20 khuấy trộn trong một
thời gian xác định, sau đó đem li tâm trên thiết bị chuẩn với số vòng quay và thời
gian xác định. Sau quá trình li tâm, ta tách bỏ một thể tích xác định phần lỏng, tiếp
tục cho một lượng nước cất vào ống ly tâm, lắc đều rồi đem ly tâm lần hai. Thể


16

tác động đến thị trường sữa bột trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể
sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng để thực hiện tốt các vấn đề về sản xuất và
cung cấp sữa trên thị trường.

Tóm tắt chƣơng 1
Như vậy thông qua chương 1, nhóm tác giả đã đề cập đến các vấn đề liên quan
đến các phương pháp nghiên cứu thị trường, quy trình thực hiện nghiên cứu thị
trường qua các bước phù hợp nhằm tránh những sai sót xảy ra trong hoạt động
nghiên cứu. Nhóm tác giả cũng nhận thấy rằng, cần phải giới thiệu về sản phẩm
nghiên cứu đó là sữa bột dành cho trẻ em, nên chúng tôi cũng đã có những giới
thiệu sơ nét về sữa bột, đặc điểm của sữa bột và vai trò của sữa bột trong công
đồng xã hội.
Ngoài ra chúng tôi cũng giới thiệu một số chỉ tiêu đánh giá sữa bột hiện nay,
cũng như giới thiệu các hoạt động liên quan đến quản lý của Chính phủ nhằm tạo
sự ổn định, bền vững trong việc phát triển sản phẩm sữa đến cộng đồng.
Hy vọng đây là những yếu tố cần thiết cho người đọc khi muốn tham khảo các
thông tin cơ bản trong đề tài nghiên cứu của nhóm chúng tôi. Trân trọng!


18

CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƢỜNG SỮA BỘT
TRẺ EM TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
2.1 Giới thiệu thị trƣờng Biên Hòa:
2.1.1 Yếu tố địa lý Biên Hòa:
Thành phố Biên Hòa nằm ở phía tây tỉnh Đồng Nai, bắc giáp huyện Vĩnh
Cửu, nam giáp huyện Long Thành, đông giáp huyện Trảng Bom, tây giáp thị xã Dĩ
An, Tân Uyên tỉnh Bình Dương và Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh.
Biên Hòa ở hai phía của sông Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Hồ Chí

nhân lực với trình độ cao đã tăng cường nguồn lực con người cho yêu cầu phát
triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
+ Công nghiệp
Thành phố đô thị loại II này cũng là trung tâm công nghiệp quan trọng của cả
nước. Biên Hòa có 5 khu công nghiệp được Chính phủ phê duyệt: Khu công nghiệp
Biên Hòa 1, Khu công nghiệp Biên Hòa 2, Khu công nghiệp Amata, Khu công
nghiệp Tam Phước và Khu công nghiệp Loteco đã đi vào hoạt động với cơ sở hạ
tầng được xây dựng đồng bộ.
Bên cạnh ngành công nghiệp hiện đại, hiện thành phố vẫn còn một vài cụm


20

công nghiệp truyền thống, thủ công mĩ nghệ như:
Cụm công nghiệp gốm sứ Tân Hạnh
Vùng thủ công mĩ nghệ đá Bửu Long
Vùng sản xuất gốm Tân Vạn, Bửu Long, Hiệp Hòa
+ Nông, lâm, thủy sản
Thành phố Biên Hòa ngoài có thế mạnh về Công nghiệp mà thành phố cũng có
những hợp tác xã cung cấp rau xanh cho thị trường thành phố và lân cận. Còn về
lâm nghiệp, hiện thành phố chỉ có một vài xã, phường vùng ven phát triển lâm
nghiệp vì thế mà cơ câu kinh tế nông, lâm nghiệp chỉ chiếm chưa tới 0,5%. Về thủy
sản, thành phố cũng còn một vài phường xã ven sông có bè cá.
Do tốc độ đô thị hóa cao, nên hiện thành phố hầu như không còn trồng cây
lương thực (lúa, bắp, khoai mì).Và do vấn đề về môi trường nên thành phố hầu như
đã cấm chăn nuôi tại một số phường tập trung nhiều dân cư.
+ Thƣơng mại, dịch vụ
Hiện nay, hoạt động thương mại trên địa bàn thành phố rất sôi động. Thành
phố hiện có 1 ngân hàng có trụ sở chính đặt thành phố là Ngân Hàng TMCP Đại Á
(56-58_CMT8_P. Quyết Thắng). Ngoài ra còn có hơn tất cả các chi nhánh của tất


22

cho cầu Đồng Nai cũ đã hơn 40 năm tuổi. Cây cầu mới này xây cách cầu cũ khoảng
3m về phía thượng lưu sông Đồng Nai. Ngoài ra, dự án này bao gồm cả việc cải tạo
xây dựng hệ thống giao thông hai đầu cầu phía Bình Dương và Đồng Nai như: nút
giao thông Tân Vạn, nút giao thông ngã vũng Tàu, hầm chui vượt sông... với tổng
vốn lên đến hơn 1,1 tỷ USD.
2.1.4 Yếu tố giáo dục
Do vị trí gần thành phố Hồ Chí Minh-trung tâm giáo dục của cả nước nên hầu
như thành phố Biên Hòa khá ít trường Đại học và còn là trung tâm hành chính,
chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục của tỉnh Đồng Nai nên các trường Đại học và
Cao Đẳng của Đồng Nai hầu như đều nằm ở Biên Hòa. Thành phố Biên Hòa hiện
chỉ có 3 trường Đại học độc lập ở Biên Hòa là: Đại học Lạc Hồng, Đại học Đồng
Nai và Đại học Công nghệ Đồng Nai. Ngoài ra còn có các chi nhánh cơ sở của các
trường Đại hoc ở TPHCM như: Đại học Mở, Đại hoc Công Nghiêp,...Ở Hệ Cao
Đẳng thì có các trường Cao Đẳng Mĩ Thuật trang trí Đồng Nai, Cao đẳng nghề
Đồng Nai, Cao Đẳng Y Tế Đồng Nai,...Về hệ Trung cấp chuyên nghiệp có: Trung
Cấp Nghề Giao thông vận tải Đồng Nai, Trung cấp nghề Tin học Viễn Thông Đồng
Nai,...
Tuy nhiên thành phố Biên Hòa có rất nhiều trường THPT nổi bật, chất lượng
cao và phân bố rất nhiều khu vực trong thành phố như: THPT chuyên Lương Thế
Vinh; Trường Trung học phổ thông Ngô Quyền, Đồng Nai; THPT Trấn Biên;
THPT Nguyễn Trãi; THPT Nguyễn Hữu Cảnh; THPT Nam Hà; THPT Tam Phước;
THPT Chu Văn An; THPT Thống Nhất; THPT Nguyễn Văn Trỗi; THPT Lê Hồng
Phong...
Bậc Trung học cơ sở có rất nhiều trường phân bố rộng khắp trong thành phố


23

Tốc độ tăng dân số tại Biên Hòa cũng khá cao, hơn 2% năm nên cũng là thị
trường tiềm năng cho việc kinh doanh sữa trẻ em tại thị trường này. Đặc biệt đây
cũng là thị trường công nghiệp nên các gia đình khi sinh con thường không có
nhiều thời gian chăm sóc nên các sản phẩm làm từ sữa rất hữu dụng cho trẻ nhỏ tại
thị trường này. Mặc dù vẫn phải nhấn mạnh đến ích lợi của sữa mẹ nhưng do
những điều kiện khách quan mà sản phẩm làm từ sữa vẫn được tiêu thụ rất mạnh
nên đây cũng là thị trường đáng được khai thác.
2.2. Thực trạng thị trƣờng sữa tại thành phố Biên Hòa:
2.2.1 Thực trạng kinh doanh sữa tại thành phố Biên Hòa:
Biên Hòa là thành phố loại 2 nhưng vẫn là thị trường màu mỡ cho các doanh
nghiệp khai thác trong đó có những doanh nghiệp chuyên kinh doanh các sản phẩm
làm từ sữa.
Hiện nay một số doanh nghiệp đang sản xuất và kinh doanh sản phẩm sữa tại
thành phố Biên Hòa gồm: Abbott, Dutch Lady (tức công ty Friesland Campina hiện
nay), Nestle, Vinamilk,…
Các hãng sữa nước ngoài chiếm thị phần lớn hiện nay tại thành phố Biên Hòa
cũng như toàn quốc có ảnh hưởng rất lớn đến chính sách giá thay đổi hiện nay của
sữa trẻ em. Cụ thể hãng Abbott của Hoa Kỳ chiếm khoảng 32% thị phần sữa bột trẻ
em, trong khi đó Dutch Lady cũng chiếm khoảng 16% thị phần sữa bột trẻ em, tiếp
theo là Dumex chiếm khoảng 8% và Nestle chiếm khoảng trên 6%. Trong khi đó
hãng sữa trong nước chỉ có Vinamilk là có thể có sức cạnh tranh tương xứng với
mức thị phần chiếm khoảng 25%, ngoài ra còn một số hãng nhỏ lẻ khác.
Nhu cầu tiêu thụ sữa qua các năm đều tăng cho thấy thị trường Biên Hòa
người dân ngày càng nhận thấy tầm quan trọng của sữa trong cuộc sống hàng ngày


25

cũng như giá trị của sữa đối với trẻ em hiện nay.
Bảng 2.1 Mức tiêu thụ sữa tại thành phố Biên Hòa

[2]

Xét trên toàn thị trường Việt Nam với hơn 86 triệu dân, tỷ lệ tăng hàng năm
vào khoảng 1,2% nên mỗi năm có khoảng hơn 1 triệu trẻ em ra đời, với mức tăng
GDP khoảng 6-8% mỗi năm và tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng còn ở mức tương đối cao
(khoảng 20%) sẽ là một thị trường tiềm năng để phát triển ngành sữa. Hơn nữa,
như thống kê ở bảng trên, mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người tại Biên Hòa năm
2011 là 13,28 lít/người/năm, là mức khá cao trên thị trường Việt Nam. Sữa hiện
nay được tiêu thụ chủ yếu tại các thành phố lớn, khu vực thành thị có kinh tế phát
triển, còn tại các vùng nông thôn thì rất thấp. Theo số liệu thống kê của Viện Dinh
dưỡng thì người dân thành thị sử dụng lượng sữa bình quân hàng năm nhiều gấp 4
lần người dân nông thôn. Các vùng nông thôn càng nghèo, càng xa thì cơ hội được
dùng các sản phẩm từ sữa càng ít. Ngay ở các vùng nông thôn thì mức tiêu thụ sữa
của các xã nghèo chỉ bằng một phần năm mức tiêu thụ sữa ở xã không nghèo.
Trong tương lai khi mức thu nhập bình quân tăng lên thì mức tiêu thụ sữa cũng sẽ
gia tăng cả ở khu vực thành thị và nông thôn. Cơ cấu tiêu dùng đang có nhiều thay
đổi. Hiện nay tại thị trường Biên Hòa có tới hơn 200 loại sản phẩm sữa do các công
ty trong nước sản xuất và nhập khẩu, cạnh tranh nhau khá gay gắt. Các loại sản


Trích đoạn Tăng cƣờng giám sát các hoạt động quảng cáo: Đối với ngƣời tiêu dùng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status