ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN VĂN SƠN
Tên đề tài :
“NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM, ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG
BỆNH DO ĐƠN BÀO LEUCOCYTOZOON GÂY RA Ở GÀ
TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH – TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ THỬ NGHIỆM
QUY TRÌNH PHÒNG TRỊ BỆNH CHO GÀ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học
: Chính quy
: Thú y
: Chăn nuôi Thú y
: 2009 - 2014
Thái Nguyên, 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN VĂN SƠN
hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể. Đến nay khóa luận của em
đã hoàn thành.
Nhân dịp này, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân
thành tới cô giáo hướng dẫn ThS. Đỗ Thị Lan Phương, cô giáo GSTS.
Nguyễn Thị Kim Lan, ThS. Dương Thị Hồng Duyên và các thầy cô trong
khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt
quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, ban chủ nhiệm
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tạo
điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cở sở vật chất của khoa
Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ trạm thú y
huyện Phú Bình, cán bộ các xã: Điềm Thụy, Thượng Đình, Xuân Phương,
Nhã Lộng và nhân dân huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài em cũng nhận được sự quan tâm
động viên sâu sắc của gia đình và bạn bè.
Em xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Trần Văn Sơn
LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện phương châm "Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với
thực tiễn sản xuất", thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của chương
trình đào tạo ở các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên nói riêng. Giai đoạn thực tập đóng vai trò rất quan trọng đối với
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ........................................ 22
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .................................................... 22
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài.................................................. 23
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................................... 25
3.1. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................... 25
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu....................................................... 25
3.3. Vật liệu nghiên cứu ............................................................................. 25
3.4. Nội dung nghiên cứu........................................................................... 26
3.4.1. Tình hình nhiễm, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh
Leucocytozoon ở gà tại huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên .................. 26
3.4.2. Nghiên cứu thử nghiệm quy trình phòng bệnh Leucocytozoon
cho gà ......................................................................................................... 26
3.5. Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu ................................... 27
3.5.1. Phương pháp xác định tình trạng áp dụng các biện pháp phòng
bệnh Leucocytozoon cho gà ở các địa phương nghiên cứu....................... 27
3.5.2. Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà tại các địa phương .................................................... 27
3.5.10. Thử nghiệm quy trình phòng bệnh Leucocytozon cho gà ............. 29
3.6. Phương pháp xử lý số liệu .................................................................. 30
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .......................................................... 31
4.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện
Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên .................................................................... 31
4.1.1. Thực trạng công tác phòng chống bệnh đơn bào
Leucocytozoon cho gà ở huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên ................. 31
4.1.2. Tình hình nhiễm đơn bào đường máu Leucocytozoon ở gà ............ 33
4.1.3. Triệu chứng lâm sàng bệnh Leucocytozoon ở gà tại huyện Phú
Bình – tỉnh Thái Nguyên ........................................................................... 38
: Leucocytozoon
Nxb
: Nhà xuất bản
n
: Dung lượng mẫu
P
: Độ tin cậy
S
: Simulium
spp
: Species
VSTY
: Vệ sinh thú y
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Thực trạng công tác phòng chống bệnh Leucocytozoon cho gà
Ngành chăn nuôi nước ta ngày càng được mở rộng và nâng cao chiếm
một vị trí quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân.
Hiện nay, ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước đều có những trang
trại chăn nuôi với quy mô lớn và áp dụng những kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến
hiện đại.
Nghành chăn nuôi đã và đang ngày càng phát triển mạnh mẽ do mang
lại lợi nhuận lớn. Hàng năm cung cấp ra thị trường những sản phẩm có giá trị
dinh dưỡng cao như thịt, trứng, sữa… Các sản phẩm này dễ chế biến, dễ ăn,
ngon miệng, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng ở mọi lứa tuổi.
Đặc biệt, trong chăn nuôi gia cầm, hàng năm tạo ra một số lượng lớn
nguồn thực phẩm, phục vụ cho bữa ăn hàng ngày của mỗi chúng ta, đáp ứng
được đủ cho nhu cầu của người tiêu dùng và là mặt hàng xuất khẩu mang lại
nguồn doanh thu lớn. Chính vì vậy, chăn nuôi gia cầm ngày càng có những
bước tiến vượt bậc về cả số lượng và chất lượng, đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển của đất nước, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người
nông dân ở các địa phương.
Tuy nhiên, dịch bệnh ngày càng phát sinh nhiều gây ra những hậu
quả nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của người chăn nuôi nếu
không có những biện pháp phòng và điều trị bệnh kịp thời. Trong chăn
nuôi gà hiện nay bệnh dịch xảy ra rất nhiều gây ảnh hưởng lớn tới sức
khỏe của vật nuôi và thiệt hại về mặt kinh tế cho người chăn nuôi như
bệnh Cúm gia cầm, bệnh Marek, bệnh Newcastle, Gumboro… Và đặc biệt
trong những năm gần đây bệnh do ký sinh trùng cũng khá phổ biến, gây ra
những hậu quả vô cùng đáng tiếc. Chúng làm cho gà gầy yếu, chậm lớn,
giảm sức sản xuất thịt, trứng.
2
Cùng với đó Việt Nam là một nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt
1.2. Mục tiêu đề tài
- Xác định được đặc điểm dịch tễ bệnh do Leucocytozoon gây ra ở đàn
gà của một số địa phương thuộc huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định được đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh do đơn bào
Leucocytozoon gây ra trên gà ở huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên.
- Xây dựng quy trình phòng, trị, góp phần hạn chế những thiệt hại do
bệnh Leucocytozoon gây ra cho đàn gà ở huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên
nói riêng và các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc nói chung.
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu đề tài để có những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ,
bệnh lý, lâm sàng của bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra ở gà tại huyện
Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên, đồng thời có cơ sở khoa học để xây dựng quy
trình phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon cho gà đạt hiệu quả cao nhất.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đề tài là cơ sở để người chăn nuôi gà biết áp dụng những quy
trình phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon vào trong chăn nuôi gà. Nhằm
mục đích hạn chế tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cho gà, cách nhận biết bệnh để
có những biện pháp điều trị kịp thời, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra, đồng
thời thúc đẩy nghành chăn nuôi gà ngày càng phát triển mạnh hơn nữa.
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Ký sinh trùng là những sinh vật sinh trưởng và phát triển trong hoặc
trên cơ thể một sinh vật khác - gọi là ký chủ, chiếm đoạt chất dinh dưỡng của
ký chủ mà nó ký sinh. Trong phân loại học, dựa theo cấu trúc cơ thể của ký
trí trong hệ thống phân loại như sau:
Ngành Protozoa
Lớp Sporozoa
Bộ Haemosporidia
Họ Leucocytozoidae
Giống Leucocytozoon
Loài Leucocytozoon caullergyi (Mathis et Leger, 1909)
Leucocytozoon sabrazeis (Mathis et Leger, 1910)
Leucocytozoon simondi (Mathis et Leger, 1910)
Leucocytozoon smithi (Laveran et Lucet, 1905)
Leucocytozoon andrewsi (Atchley, 1951)
Leucocytozoon schufneri (Prowazek, 1912)
Leucocytozoon schoutedeni (Rodham Pons et Bequaert, 1913)
Đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện được 107 loài Leucocytozoon spp.
ký sinh và gây bệnh cho gà, gà tây, vịt, ngỗng và nhiều loài chim hoang dã.
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái các loài Leucocytozoon ở gà
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9]; Nguyễn Thị Kim Lan
(2012) [12], cơ thể đơn bào thường do một tế bào rất nhỏ cấu thành, tổ chức
của đơn bào gồm màng tế bào, chất nguyên sinh, hạt hoặc nhân tế bào.
Đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, các nội tạng của
gà và các loài chim ở hai dạng: dạng tiểu thể hình dùi trống, hoặc hình thoi
6
nhọn hai đầu với kích thước từ 15 - 20 µm; dạng bào tử hình trứng với kích
thước từ 20 - 25 µm.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho rằng: trong quá trình phát triển ở
ký chủ cũng như ở véc tơ trung gian truyền bệnh, các loài Leucocytozoon có
nhiều hình dạng khác nhau. Kích thước của chúng thay đổi tuỳ thuộc dạng và
mầm bệnh vào máu của vật chủ.
Các bào tử từ máu xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách,
phổi, thận, tổ chức cơ để trở thành giao tử (Schizont). Các giao tử vào hồng
cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử
(Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte).
Khi dĩn hút máu gia cầm bệnh, vào cơ thể dĩn, các tiểu thể lại phát triển
thành noãn nang (Oocyste), rồi bào tử (Sporozoite) trong vách dạ dày dĩn và
vòng đời lại được lặp lại.
Tác giả Lê Đức Quyết [23] cho biết, vòng đời của Leucocytozoon bao
gồm các giai đoạn như sau:
* Giai đoạn ở tế bào chủ:
Gia cầm bị dĩn - ký chủ trung gian truyền bệnh đốt và truyền mầm bệnh
(các bào tử Sporozoite) vào cơ thể. Khi vào cơ thể gia cầm, mầm bệnh theo
máu tới gan, lách, thận, não… Tại đây, chúng xâm nhập vào các tế bào của ký
chủ và bắt đầu sinh sản vô tính bằng hình thức liệt phân, kết quả từ 1
Sporozoit đã tạo ra một lượng lớn Merozoite. Chính những Merozoite e này
mới có khả năng xâm nhập vào máu và ký sinh ở hồng cầu (quá trình này mất
4 - 6 ngày hoặc kéo dài hơn tùy loài).
Quá trình sinh sản của đơn bào ở trong tế bào gan của vật chủ không có
chu kỳ nhất định. Sau khi phát triển ở gan, tất cả các Merozoite đều vào máu.
* Giai đoạn ở trong hồng cầu:
Giai đoạn này tạo thể tự dưỡng và thể phân liệt trong đó có thể mang
giới tính (giao tử đực và giao tử cái). Giai đoạn ở trong hồng cầu bắt đầu từ
8
khi các Merozoite từ gan vào máu, tiếp cận với bề mặt hồng cầu có những thụ
thể Receptor tương ứng và xâm nhập vào hồng cầu qua 5 giai đoạn:
- Nhận diện và gắn bám
đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh và giai đoạn hai là
giai đoạn phát triển trong cơ thể vật chủ:
* Giai đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh (dĩn).
Đây là giai đoạn hình thành bào tử nang (Sporogony), giai đoạn này kết thúc
10
trong vòng 3 - 4 ngày. Vì trong máu của gia cầm bệnh đã có sẵn giao tử đực
và giao tử cái, hoặc hợp tử của Leucocytozoon, nên ngay sau khi hút máu gia
cầm bệnh, các tế bào máu chứa mầm bệnh bị dịch tiêu hóa của ký chủ trung
gian (dĩn) làm tan vỡ và giải phóng ra các giao tử và các hợp tử. Chúng nhanh
chóng bám vào thành dạ dày và chui vào các tế bào niêm mạc dạ dày, ruột của
dĩn. Ở đó chúng bắt đầu phát triển thành bào tử nang (Oocyst). Toàn bộ quá
trình này chỉ diễn ra trong vòng 12 giờ kể từ thời điểm dĩn hút máu gia cầm
bệnh lần cuối.
Trong mỗi bào tử nang bắt đầu có quá trình sinh trưởng và phát triển
thành 4 thoi trùng (Sporozoite). Các thoi trùng này nhanh chóng lớn lên và di
hành đến cư trú trong tuyến nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh. Chỉ
có các thoi trùng này mới có khả năng truyền bệnh. Ký chủ trung gian truyền
bệnh cho gia cầm thụ cảm thông qua việc hút máu của gia cầm bệnh, sau đó
hút máu của gia cầm khỏe và truyền nước bọt kèm theo thoi trùng gây bệnh
vào cơ thể gia cầm khỏe. Như vậy, kể từ khi dĩn hút máu gia cầm bệnh lần
cuối đến lúc có khả năng truyền bệnh phải mất 18 ngày.
* Giai đoạn phát triển của Leucocytozoon trong cơ thể gia cầm thụ cảm.
Ngay sau khi thoi trùng theo nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh xâm
nhập vào cơ thể gia cầm, chúng lột xác và hình thành nên các thể phân lập
trung gian (Merozoite), các thể phân lập trung gian này bám ngay vào các tế
bào máu và theo máu đi khắp cơ thể. Từ đây, chúng phát triển theo hai hướng:
Hướng thứ nhất: Chúng chui vào và ký sinh trong các tế bào máu, sinh
triển và tạo nên thể phân lập cực đại gọi là Megaloschizont với kích thước lên
đến 400 µm và làm tắc nhiều mao mạch của các cơ quan ký chủ. Để tiếp tục
phát triển, trong mỗi Megaloschizont hình thành nên 2 thể phân lập trung gian
Merozoite, chúng lớn lên và rời khỏi Megaloschizont, rời khỏi tế bào của cơ
quan ký chủ, chui vào các tế bào máu để ký sinh và quá trình phát triển được
12
tiếp tục lặp lại như hướng thứ nhất - kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính trong
các tế bào nội mô ở các cơ quan nội tạng của gia cầm thụ cảm.
2.1.2. Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà
2.1.2.1. Những thiệt hại kinh tế do bệnh Leucocytozoon gây ra
Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà không gây thành ổ dịch lớn nguy
hiểm, ít làm cho gà chết đột ngột và chết hàng loạt (trừ trường hợp đặc
biệt). Song, đơn bào này đã gây tác hại nghiêm trọng, làm cho sự sinh
trưởng và phát triển của gà bị ngừng trệ, cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả
năng tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng của thịt, trứng giảm, dẫn
đến năng suất chăn nuôi giảm thấp.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho rằng: gà bị bệnh đơn bào
đường máu Leucocytozoon ở thể cấp tính có thể chết đột ngột do xuất
huyết các nội quan và thiếu máu cấp. Gà mái giảm đẻ hoặc ngừng đẻ, kém
ăn, giảm tăng trọng và gầy yếu nhanh. Gà mắc bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày
với tỷ lệ tới trên 50% số gà bị bệnh.
Lê Văn Năm (2011) [21] cho biết: tại một số địa phương như Bắc
Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, bệnh đơn bào
Leucocytozoon xuất hiện ở hầu hết các đàn gà nuôi thả vườn với tỷ lệ dao
động từ 40 - 70%, gây thiệt hại vô cùng to lớn cho người chăn nuôi.
2.1.2.2. Dịch tễ học bệnh Leucocytozoon ở gà
Lê Đức Quyết và cs (2009) [23] cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon
Véc tơ truyền bệnh là: các loài dĩn Simulium spp.
* Leucocytozoon smithi (Laveran et Lucet, 1905)
Loài này ký sinh ở gà tây tại các bang thuộc vùng Đông Mỹ (Bắc
Dakota, Nebraska), CHLB Đức, các nước vùng Balkan...
Véc tơ truyền Leucocytozoon smithi cho gà là các loài dĩn Simulium spp.
Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997) [5] cho biết loài
Leucocytozoon caullergyi có đặc điểm như sau: cơ thể đơn bào hơi tròn, kích
14
thước 15,0 - 15,5 µm. Tế bào vật chủ cũng tròn, kích thước 20 µm. Ở trong cơ
thể dĩn - véc tơ truyền Leucocytozoon, Zygote có dạng tròn đường kính 14µm,
sau đó kéo dài, kích thước 21µm, chúng xuyên qua vách ruột tạo thành
Oocyst hình gần tròn kích thước 4 - 14 x 5 - 14 µm. Oocyst phát triển thành
thoi trùng (Sporozoite). Các thoi trùng đến tuyến nước bọt của dĩn có kích
thước 7 - 11 x 1 - 2 µm.
Tuổi mắc bệnh: Gà ở các lứa tuổi đều bị bệnh. Tuổi gà càng cao tỷ lệ
và cường độ nhiễm bệnh càng tăng.
Mùa vụ: Gà mắc bệnh ở tất cả các mùa trong năm, nhưng nhiễm nhiều
và nặng ở mùa Hè và mùa Xuân.
Điều kiện vệ sinh thú y: điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và
khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một
trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm bệnh Leucocytozoon
của gà. Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các loài
dĩn hút máu - Véc tơ truyền bệnh.
Yếu tố stress: các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu ẩm,
thấp, thức ăn kém dinh dưỡng... đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây
lan bệnh Leucocytozoon ở gà.
2.1.2.3. Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon
Thời gian ủ bệnh từ 4 - 7 ngày.
Gà bệnh thể hiện các triệu chứng đặc trưng sau:
Thể cấp tính: gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng chết đột ngột do xuất
huyết các nội tạng, hồng cầu tan vỡ hàng loạt, gây bần huyết cấp tính; ỉa
chảy nặng, phân có màu xanh lá cây, thường có lẫn máu. Gà mái đang đẻ
bị bệnh sẽ giảm đẻ hoặc ngừng đẻ do đơn bào tác động vào cơ quan sinh
sản. Gà trưởng thành mắc bệnh sẽ giảm tăng trọng, gầy yếu nhanh, nhưng
chết ít hơn gà con. Gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng bị bệnh sẽ chết sau 3 - 6
ngày với tỷ lệ cao.
16
Theo Lê Văn Năm (2011) [21] triệu chứng của bệnh Leucocytozoon
gồm các thể như sau:
- Thể quá cấp:
Trong suốt thời gian ủ bệnh, gà bị sốt cao nhưng có thể vẫn ăn uống
bình thường nên người chăn nuôi hầu như không để ý, hoặc không quan sát
thấy những biểu hiện bất thường của đàn gà. Bệnh bỗng dưng bùng phát lẻ tẻ
khi gặp các yếu tố strees bất lợi, với các triệu chứng điển hình như: đột nhiên
ho hoặc hắt hơi, mào, tích tái nhợt, ộc máu ra miệng, mũi, đôi khi ở cả hậu
môn rồi chết. Một số khác lại có triệu chứng lừ đừ hoặc có triệu chứng thần
kinh, nhảy sốc lên rồi rơi xuống nền dãy dụa và chết. Cả hai trường hợp trên
đều do dập vỡ gan, hoặc xuất huyết não bởi sự phát triển quá mạnh của các
Leucocytozoon trong các cơ quan đó.
Số gà chết như mô tả trên không xảy ra ồ ạt, nhưng tăng dần qua mỗi
ngày. Nếu không được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời, tỷ lệ chết sẽ rất cao.
- Thể cấp tính:
Đây là thể bệnh phổ biến nhất và gắn liền với thời tiết ẩm ướt do mưa
phùn kéo dài. Khí hậu ẩm thấp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, sinh