Đại học thái nguyên
Đại học nông lâm thái nguyên
-----------------------
lu thị phơng dung
Tên đề tài:
ảnh hởng của mật độ và số dảnh cấy/khóm
đến sinh trởng, phát triển và năng suất lúa
tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp
Thái Nguyên, 2011
Đại học thái nguyên
Đại học nông lâm thái nguyên
-----------------------
lu thị phơng dung
Tên đề tài:
ảnh hởng của mật độ và số dảnh cấy/khóm
đến sinh trởng, phát triển và năng suất lúa
tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60 62 01
học Thái Nguyên. Người hướng dẫn khoa học đã giành nhiều thời gian và tâm
huyết chỉ bảo tôi phương pháp và những kiến thức cần thiết trong thời gian thực
tập.
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi
trong thời gian thực tập.
Tác giả
Lưu Thị Phương Dung
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đề án xây dựng thương hiệu gạo thơm Yên Dũng được triển khai dựa trên
kết quả mô hình sản xuất đại trà các giống lúa thơm đặc sản trên địa bàn huyện
Yên Dũng từ năm 2006 đến nay. Nhằm khuyến khích các hộ tham gia đề án,
hàng năm huyện trích ngân sách hỗ trợ 30% giá giống lúa cho nông dân, tăng
cường tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật gieo cấy, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh
theo kỹ thuật mới như: cấy lúa theo phương pháp cải tiến mới SRI (System of
Rice Intensification), “3 giảm, 3 tăng”…nhằm hạn chế lượng thuốc bảo vệ thực
vật mà vẫn đảm bảo năng suất, chất lượng gạo…
Các giống lúa chất lượng cao như: Bắc thơm số 7, Hương thơm số 1,
N46…đã được huyện đưa vào sản xuất và được nông dân chấp nhận vì chúng
đều cho năng suất ổn định và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Trong số này, đáng
chú ý hơn cả và được đa số người nông dân sản xuất là giống Bắc thơm số 7.
Tuy đây là giống lúa có năng suất không thật cao nhưng ổn định, chất lượng gạo
được người tiêu dùng ưa chuộng và đặc biệt là giá cả cao hơn gạo thường từ
2000 đến 3000VNĐ/kg.
Tuy nhiên, khi gieo cấy ở hộ gia đình giống lúa này thường dễ bị nhiễm
Tìm ra mối quan hệ tương tác giữa mật độ cấy và số dảnh cấy/khóm ảnh
hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây lúa.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất:
Ứng dụng kết quả nghiên cứu này trong việc cải tiến kỹ thuật cấy lúa
hiện nay bằng việc xác định mật độ cấy và số dảnh cấy phù hợp để đưa vào
quy trình sản xuất nhằm tiết kiệm giống, chi phí sản xuất, giảm sâu
bệnh…và bảo vệ môi trường.
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.1. Cơ sở khoa học
Năng suất lúa được hình thành từ các yếu tố, đó là: Số bông/m2. số hạt
chắc/bông và trọng lượng 1000 hạt (P1000 hạt). Mối quan hệ đó được thể hiện bằng
công thức:
Số bông/m2 x số hạt chắc/bông x P1000 hạt
Năng suất lúa (tạ/ha) =
_______________________________________________________
10000
Năng suất quan hệ với các yếu tố tạo thành năng suất là quan hệ toán
học. Nhưng giữa các yếu tố cấu thành năng suất trong một quần thể ruộng lúa
lại có quan hệ sinh học thong qua mối quan hệ giữa quần thể và cá thể. Trong đó
ta thấy: Số bông/m2 đặc trưng cho quần thể, P1000 hạt đặc trưng cho cá thể. Mối
quan hệ này thể hiện tính thống nhất và mâu thuẫn. Khi cá thể tốt sẽ tạo điều
kiện tạo nên quần thể tốt. Nhưng khi cả quần thể quá tốt sẽ hạn chế cá thể
phát triển: khi số bông tăng quá nhiều sẽ làm cho số hạt chắc/bông và P1000 hạt
giảm đi.
định mật độ gieo cấy căn cứ vào các yếu tố sau:
* Mật độ gieo cấy lúa phụ thuộc vào đặc điểm của giống lúa định gieo cấy:
+ Giống lúa chịu thâm canh càng cao, tiềm năng năng suất lớn mật độ
gieo cấy càng dày và ngược lại, giống lúa chịu thâm canh thấp mật độ gieo cấy
thưa hơn. Ví dụ mật độ gieo cấy giống lúa lai chịu thâm canh cao, tiềm năng
năng suất lớn sẽ cao hơn mật độ gieo cấy các giống lúa nếp chịu thâm canh kém,
tiềm năng năng suất trung bình.
+ Những giống lúa có bộ lá gọn, góc lá nhỏ, thế lá đứng gieo cấy mật độ
dày hơn những giống lúa có phiến lá to, góc lá lớn.
* Mật độ gieo cấy lúa phụ thuộc vào tuổi mạ: Tuổi mạ càng ngắn (mạ non) khả
năng đẻ cao cấy thưa hơn mạ già, tuổi mạ cao.
* Xác định mật độ gieo cấy lúa hợp lý căn cứ vào độ phì của đất, khả năng thâm
canh của hộ nông dân: Đất tốt, khả năng thâm canh cao mật độ gieo cấy thưa
hơn loại đất xấu, khả năng thâm canh thấp.
* Xác định mật độ gieo cấy lúa hợp lý căn cứ vào mùa vụ: Vụ mùa, thời tiết
nắng nóng cây lúa sinh trưởng nhanh, đẻ sớm, đẻ nhiều cấy thưa hơn vụ đông
xuân nhiệt độ thấp, cây lúa lâu đẻ, đẻ kém như kinh nghiệm lâu năm của người
nông dân "chiêm ăn dảnh, mùa ăn bông" [38].
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Cây lúa nước giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp lương thực cho con
người ở nhiều nước trên thế giới nói chung và ở nước ta lúa còn là một nông sản
xuất khẩu mang lại giá trị cao cho nông nghiệp. Phương hướng sản xuất lúa của
Việt Nam là tập trung khai thác, đầu tư thâm canh cho những vùng có điều kiện
thuận lợi để cây lúa có thể phát huy tối đa tiềm năng của giống.
So với các nước, Việt Nam chúng ta là nước nông nghiệp nhưng bình
quân lại ít đất nông nghiệp nhất, dân tộc ta có nghề truyền thống trồng lúa nước
nhưng bình quân lại có ít đất trồng lúa nhất. Thử so sánh, chúng ta hiện có trên
86,5 triệu dân nhưng chỉ có gần 4,2 triệu ha đất trồng lúa, bình quân chỉ 485
từng lá tương đối ổn định. Chỉ số diện tích lá của ruộng lúa có thể đạt đến 10
hoặc hơn chút ít, sau khi trỗ bông thì giảm xuống bởi một số lá già và chết đi.
Trên thân chính của lúa có tổng số lá nhất định, tùy từng giống mà có
tổng số lá khác nhau. Mỗi lá đều có chức năng nhất định tùy từng giai đoạn sinh
trưởng. Trong cùng một thời kỳ thì lá hoạt động động mạnh nhất là lá thứ hai từ
trên xuống (lá công năng). Quan sát hình thái và sức sống của lá công năng, ta
biết được sinh trưởng của cây lúa tốt hay xấu [15, tr.57-59].
2.2.2. Đặc điểm sự đẻ nhánh của lúa
Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa, liên quan chặt chẽ đến quá
trình hình thành số bông và năng suất cây lúa.
Cây lúa non hoặc cây mạ (người ta gọi là thân chính hay cây mẹ). Các
nhánh mọc ra từ thân chính được gọi là nhánh nguyên thuỷ (cây lúa thường có
từ 5 - 7 nhánh nguyên thuỷ). Các nhánh mọc ra từ nhánh nguyên thuỷ được gọi
là nhánh cấp 2 và các nhánh mọc ra từ nhánh cấp 2 được gọi là nhánh cấp 3.
Nhánh nguyên thuỷ phát triển ở giữa thân chính và lá thứ hai kể từ gốc. Mặc dù
vẫn dính liền vào thân cây mẹ tới tận những giai đoạn phát triển sau, nhưng
nhánh nguyên thuỷ vẫn độc lập kể từ khi nó có rễ riêng.
Thời gian đẻ nhánh của cây lúa được tính từ khi lúa bén rễ hồi xanh đến khi
làm đốt, làm đòng. Tuy nhiên ở ruộng mạ cũng có hiện tượng đẻ nhánh nếu mạ
gieo thưa hoặc những cây mạ quanh bờ có thể đẻ 1 - 2 nhánh đầu tiên khi có 4 5 lá (gọi là mạ ngạnh trê), nhưng ngay lúc đó mật độ cây trong ruộng mạ tăng
lên và quá trình đẻ nhánh ngừng lại. Về khả năng đẻ nhánh của cây lúa thì phụ
thuộc vào phạm vi mắt đẻ (tức là số lá trên cây mẹ, tuổi mạ và số lóng đốt kéo
dài) và điều kiện ngoại cảnh.
Người ta cũng phân biệt thời gian đẻ nhánh hữu hiệu và vô hiệu. Trên cây
lúa, thông thường chỉ có những nhánh đẻ sớm, ở vị trí mắt đẻ thấp, có số lá
nhiều, điều kiện dinh dưỡng thuận lợi mới có điều kiện phát triển đầy đủ để trở
thành nhánh hữu hiệu (nhánh thành bông). Còn những nhánh đẻ muộn, thời gian
sinh trưởng ngắn, số lá ít thường trở thành nhánh vô hiệu [35].
lúa đó.
c) Về mùa vụ gieo cấy: Thời gian đẻ nhánh của một giống lúa dài hay ngắn
phụ thuộc vào thời vụ gieo cấy. Vụ chiêm xuân có thời gian đẻ nhánh dài hơn vụ
mùa và trong cùng một vụ thì vụ sớm sẽ có thời gian đẻ nhánh dài hơn vụ muộn.
Tuy nhiên, tuy có thời gian đẻ nhánh ngắn hơn nhưng trong vụ mùa số nhánh lúa
vẫn nhiều hơn trong vụ đông xuân.
d) Về mức phân đạm: Có một nguyên tắc, nếu bón lượng cao hơn và sớm
hơn thì số đẻ cũng nhiều hơn. Nếu bón thúc đạm sớm, quá trình đẻ nhánh sẽ
diễn ra sớm hơn. Nếu bón phân nhiều, bón thúc muộn, thời gian đẻ nhánh sẽ kéo
dài hơn [43].
2.2.3. Dinh dưỡng với cây lúa
Cũng như các loại cây trồng khác, lúa phải hút của đất một loạt chất
khoáng N, P, K, Ca, Mg, Fe, Si…và các nguyên tố vi lượng. Ba nguyên tố chủ
yếu là đạm, lân và kali. Khi phơi khô và đốt đi các bộ phận của cây lúa , ngoài
đạm, các chất khoáng của cây lúa đều ở lại trong tro. Phân tích tro này sẽ biết
được tỷ lệ gần đúng các chất có trong cây lúa ở từng giai đoạn sinh trưởng, phát
triển và trong các điều kiện canh tác khác nhau. Trong quá trình dinh dưỡng
khoáng của cây lúa có sự tương quan mật thiết giữa chất này với chất khác; quá
trình này lại phụ thuộc nhiều vào điều kiện bên ngoài và kỹ thuật canh tác.
Lá lúa là bộ phận có lượng protein cao và tiến hành quang hợp mạnh mẽ.
Đạm của lá lúa là nguồn protein chính của hạt. Bẹ lá tích trữ các sản phẩm khác của
quang hợp như tinh bột. Thân tích trữ tinh bột, lân tích trữ ở thân cũng là nguồn lân
chính của hạt. Rễ không tích trữ nhiều chất dinh dưỡng hay tinh bột, nhiệm vụ
chính của chúng là hút thức ăn. Bông lúa là nơi tích trữ các chất protein, đường và
các chất khoáng chuyển về trong quá trình làm hạt.
Khi thiếu đạm, lân và lưu huỳnh thì chiều dài lá, số lượng lá, số lượng
bông và số lượng hạt trên bông đều giảm. Thiếu kali và magie sẽ làm giảm năng
suất lúa và trọng lượng 1000 hạt. Tuy nhiên thành phần hoá học của bông không
cm hoặc 30 x 30 cm (Tanaka Akira, 1981) [22].
Trong công bố gần đây của các tác giả như Yuan Qianhua, Lu Xinggui,
Cao Bing và cộng sự, Ban Nghiên cứu tiêu chuẩn và phát triển cây trồng chuyển
gen thuộc chương trình Công nghệ cao Trung Quốc (2002) đã sử dụng tổ hợp lai
hai dòng PA64S/9311 để nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố
cấu thành năng suất và năng suất của tổ hợp lai. Các tác giả sử dụng hai công
thức cấy thưa (90.000 khóm/ha) và công thức cấy truyền thống ở Trung Quốc
(300.000 khóm/ha). Kết quả nghiên cứu cho thấy số nhánh đẻ của công thức cấy
thưa giảm đáng kể so với công thức cấy dày vào thời điểm trước 10 tháng 5,
nhưng đến 25 tháng 5 thì sự sai khác chỉ còn rất nhỏ. Kích thước nhánh đẻ ở
công thức cấy thưa lớn hơn cấy dầy 8,86%, tỷ lệ kết hạt thấp hơn 2,35% và khối
lượng 1000 hạt cũng thấp hơn 0,86g. Năng suất của công thức cấy thưa giảm 17
- 19%.
Trong một thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố khí tượng tại Nam
Kinh cho kết quả nhiệt độ không khí thấp ở giai đoạn đẻ nhánh mạnh là yếu tố
ảnh hưởng chính đến sự sai khác về số hoa giữa hai công thức cấy. Nhiệt độ thấp
ở giai đoạn trước và sau trỗ 10 ngày, cùng với số hoa trên m2 lớn, chỉ số diện tích
lá lớn của công thức cấy thưa là những nguyên nhân sinh lý làm giảm tỷ lệ kết
hạt. Sự sai khác về khối lượng 1000 hạt có liên quan chủ yếu đến nhiệt độ ở giai
đoạn chín sữa. Số lượng hạt và số lá tính trên m2 liên quan với nhau rất chặt. Kết
quả nghiên cứu về yếu tố khí hậu phù hợp cho mật độ cấy thưa phải ở độ cao thấp
hơn mực nước biển, đó là yếu tố mang tính quyết định cho đẻ nhánh sớm và tránh
sự tổn thương của hạt trong giai đoạn chín sữa ở vùng trồng lúa phía Nam Trung
Quốc. Đối với các vùng dịch dần lên phía Bắc một chút, do nhiệt độ thấp nên
không đủ ấm cho một số loại giống lúa, nên công thức cấy thưa không thể thực
hiện được ở vùng nhiệt độ thấp.
Theo công bố của Shaobing Peng, Jianchang Yang - IRRI và Trần Thúc
Sơn - Viện Nông hóa Thổ nhưỡng tại Hội nghị lúa lai tổ chức tại Hà Nội từ 14 17 tháng 5 năm 2002 về cơ sở sinh lý của ruộng sản xuất lúa lai đã nêu ra giải
suất. Đứng về phương diện sinh trưởng của cây lúa mà xét thì có thể có 2 mặt.
Thứ nhất là bộ rễ lúa có được chăm sóc, quản lý tốt không. Thứ hai là bộ phận
trên mặt đất, đặc biệt là việc điều chỉnh số nhánh có thích hợp không [25].
Trong những năm gần đây một hệ thống nghiên cứu về phương pháp canh
tác lúa “cải tiến” đã và đang được khuyến khích mở rộng, bởi nó thỏa mãn được
cả 2 mục tiêu là đạt được hiệu quả kinh tế và phát triển nông nghiệp bền vững.
Đó chính là Hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI (system of rice intensification)
do nhà khoa học người Pháp Fr. Laulaniere giới thiệu tại Madagascar vào những
năm 1980, sau đó được tiến sỹ Norman Uphoff thuộc viện quốc tế về lương
thực, nông nghiệp và phát triển của trường đại học Cornell (Hoa Kỳ) phổ biến
rộng rãi. Cơ sở kỹ thuật của SRI là thay đổi một số hoạt động canh tác chủ yếu
và thông qua tác dụng tương hỗ của chúng tạo điều kiện cho tiềm năng di truyền
của lúa được phát huy, và qua đó thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển của
lúa để tạo năng suất cao [30], [31].
Fr. Laulaniere và các đồng nghiệp của ông gọi SRI là một phương pháp,
một nguyên lý dựa trên những kết quả, và kết luận rút ra từ những quan sát thực
tế. Những nguyên tác cơ bản của SRI đó là: Cấy mạ non (8 - 15 ngày tuổi chỉ có
2 lá nhỏ), cấy 1 dảnh (cấy 1 dảnh/ khóm với các khoảng cách cấy thưa khác
nhau tùy vào đất. Khoảng cách rộng như vậy sẽ tạo điều kiện cho bộ rễ có
khoảng không để phát triển. Đây là một nhân tố quyết định thành công của SRI),
cấy cẩn thận và sử dụng phân chuồng [41].
* Thành tựu về áp dụng SRI ở một số nước trên thế giới:
SRI được phát hiện ở Madagascar vào những năm 1980, SRI đã làm thay
đổi tuổi thực tế của cây lúa, thay đổi nước, đất và chất dinh dưỡng trong đất và
có thể làm tăng năng suất từ 50 - 100%, thậm trí nhiều hơn. Trong khi đó vẫn
cùng một thời gian mà giảm được lượng hạt giống, nước, phân bón, hóa chất
nông nghiệp và thậm trí cả lao động [43], [45].
Phương pháp SRI đạt được năng suất cao hơn với ít cá thể cây trồng hơn,
được 30 – 40% lượng nước tưới sử dụng, 70% sâu bệnh hại [48].
Tại Ấn Độ kỹ thuật SRI đã được thử nghiệm từ năm 2005 - 2006, thí nghiệm
được tiến hành với tuổi mạ 12 ngày tuổi, khoảng cách cấy 25 x 25cm (tương ứng
với mật độ là 16 cây/m2), chế độ nước được bão hoà cho đến khi lúa trỗ bông, sau
đó được giữ ở mực nước 1 - 2cm trong khoảng 20 ngày. Lượng phân bón được sử
dụng chỉ bằng một nửa so với các phương pháp canh tác khác. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, phương pháp canh tác lúa theo SRI cho năng suất cao nhất, lượng
nước sử dụng tiết kiệm hơn các phương pháp canh tác khác từ 10,5 - 21,27% [39].
Phương pháp canh tác theo SRI đã chứng minh được rằng chúng có lợi thế
khi áp dụng với các giống địa phương cũng như các giống lúa lai. Năng suất cao
hơn đã được khẳng định ở hàng loạt các quốc gia như Trung Quốc, Gambia, Ấn
Độ, Indonesia, Myanma, Srilanka…Thực tế SRI bị chậm lại một phần là do ảnh
hưởng bởi cuộc cách mạng xanh ở Châu Á - cuộc cách mạng dựa trên giống mới
và đòi hỏi đầu tư nhiều phân bón, nhiều nước. Phương pháp SRI trái ngược lại là
không yêu cầu việc sử dụng giống mới và đầu tư nhiều từ bên ngoài. Nông dân
có thể tăng sản lượng của mình bằng cách tiếp tục trồng bất cứ giống gì mà họ
đang sử dụng, làm giảm lượng hạt giống, nước tưới, phân bón và công lao động.
2.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào đặc
điểm của giống, điều kiện đất đai, nước tưới, dinh dưỡng, trình độ thâm canh của
người dân…Khi nghiên cứu về vấn đề này Sasato (1966) đã kết luận: Trong điều
kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa, ngược lại phải cấy dầy.
Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dầy không có lợi bằng giống to bông, vùng lạnh
nên cấy dầy hơn vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa
gieo muộn nên cấy dầy hơn lúa gieo sớm (Nguyễn Thị Lẫm và cs, 2003) [16].
Đối với nhóm lúa thường gieo mạ thâm canh hoặc gieo mạ cải tiến thì nên
cấy mạ non. Bố trí cấy với mật độ thưa hơn so với cách gieo mạ truyền thống. Mạ
non cấy 3 - 4 dảnh/khóm (mạ non chưa đẻ), 30 - 35 khóm/m2 để sau thời kỳ đẻ
bị úng hoặc bị phá hại, mất khoảng, những dảnh lúa sẽ được tách ra cấy bù vào
những khoảng trống đó. Hiện nay, số dảnh cấy trên một khóm lúa thường là từ 2
- 3 dảnh.
Trong thực tế không có sự khác nhau rõ rệt về năng suất giữa cấy một
dảnh và 2 - 3 dảnh nếu như cây mạ không chết. Như vậy tại sao người ta lại phải
cấy nhiều dảnh trên một khóm lúa? Một giải thích rất logic là nếu cấy nhiều
dảnh (2 - 3 dảnh/khóm) thì nếu một dảnh mạ bị chết thì dảnh còn lại sẽ đẻ đủ số
nhánh cần thiết và cũng không phải cấy lại nếu cây mạ bị chết (không bị mất
khóm) [33].
Một nghiên cứu thực địa được tiến hành tại Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc
tế (IRRI), Việt Nam trong mùa khô năm 1997 và 1998 trong điều kiện chủ động
được tưới tiêu. Mục tiêu của nghiên cứu này để định lượng chỉ số diện tích lá
(LAI) mà tại đó sự đẻ nhánh dựa trên các mối quan hệ giữa tỷ lệ đẻ nhánh và
LAI, và để xác định tác động của nitơ (N) trên LAI của cây lúa nước (Oryza
sativa L.). Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ đẻ nhánh tương đối (RTR) giảm theo cấp
số nhân nhưng LAI tăng ở một mức độ đầu vào đối với việc bón N. Khoảng
cách cấy và số lượng cây giống ở mỗi diện tích thí nghiệm ít ảnh hưởng lên LAI
[46], [47].
Thí nghiệm với giống lúa Di Hương đã được gieo mạ và cấy với theo mật
độ thay đổi với các khoảng cách khác nhau (30 x 30, 20 x 15, 20 x 10, 15 x 5, 10
x 5 và 5 x 5cm) với số dảnh khác nhau trong mỗi khóm (thay đổi từ 1 dảnh
thường, 1 dảnh ngạnh trê, 3 dảnh, 5 dảnh, 8 dảnh, 13 dảnh, 16 dảnh. Như vây,
mỗi khóm đã thay đổi từ 11 đến 400 khóm/m2 và mật độ dảnh cơ bản cũng thay
đổi từ 11 – 6400 dảnh/m2 ở vụ mùa năm 1960. Chúng ta thấy thời gian đẻ nhánh
của lúa Di Hương thay đổi rõ với mật độ, mật độ khóm càng cao, thời gian đẻ
nhánh càng ngắn dù mật độ dảnh/khóm cao hay thấp. Mật độ dảnh/khóm càng
cao với cùng một mật độ khóm/m2 thì thời gian đẻ nhánh rút ngắn lại. Cấy càng
nhiều dảnh, lúa càng ít hạt: Cấy 1600dảnh/m2, mỗi bông chỉ có 8 hạt; cấy 1000
Khoảng cách và mạ gốc: 3 - 4 cây mạ (bao gồm cả nhánh) một gốc (đối
với mạ cỡ trung bình cấy sớm) hoặc 6 - 7 cây mạ (bao gồm cả nhánh) một gốc
(đối với mạ cỡ lớn cấy muộn), khoảng 30 nghìn gốc một ha.
Số nhánh tối đa: 4,5 - 5,24 triệu nhánh/ha đối với các tổ hợp lai dạng bông
lớn và 5,25 - 6 triệu nhánh/ha đối với các tổ hợp lai bông cỡ trung bình.
Số nhánh sinh sản: Khoảng 3 triệu nhánh/ha đối với các dạng bông lớn và
chừng 3,7 triệu nhánh/ha đối với dạng bông trung bình.
* Tiêu chuẩn của lúa lai chín muộn cho năng suất 7,5 tấn/ha
Khoảng cách và mạ gốc: 5 - 6 cây mạ (bao gồm cả nhánh) một gốc và
khoảng 37,5 nghìn gốc một ha.
Số nhánh tối đa: 4,5 - 5,24 triệu nhánh/ha.
Số nhánh sinh sản: Khoảng 2,7 triệu nhánh/ha đối với các dạng bông lớn và
chừng 3,7 triệu nhánh/ha đối với dạng bông trung bình [24].
Theo Nguyễn Hữu Tề và cộng sự (1997) thì giống lúa có nhiều bông
nên cấy 200 - 250 dảnh cơ bản/m2, giống to bông cấy 180 - 200 dảnh/m2. Số
dảnh cấy/khóm là 3 - 4 dảnh ở vụ mùa và 4 - 5 dảnh ở vụ chiêm [23].
Theo Trương Đích (2002) với các giống lúa lai nên cấy 2 - 3 dảnh với mật
độ 50 - 55 khóm/m2 và cấy 3 - 4 dảnh với mật độ 40 - 45 khóm/m2.
Nhìn chung, mật độ khóm/m2 và số dảnh cấy/khóm có ảnh hưởng rất rõ rệt đến
số bông/m2 từ đó ảnh hưởng đến năng suất lúa trên một đơn vị diện tích canh tác
[7].
Nhìn chung, trong điều kiện bình thường ở ruộng tốt, mực nước trong
thích hợp, đối với các giống lúa cao cây ở Việt Nam, nên cấy dầy hợp lý, và mỗi
khóm nên cấy ít dảnh. Bụi lúa cấy ít dảnh sẽ đẻ thuận lợi, sẽ có các nhánh xòe ra
bốn phía, bụi lúa tròn và sẽ khỏe hơn những bụi cấy nhiều dảnh. Mật độ khóm
và mật độ dảnh trong khóm là những biện pháp có thể sử dụng để điều tiết một
cách thích đáng sự đẻ nhánh của cây lúa, và qua sự đẻ nhánh sẽ điều tiết sự phát
triển của cả quần thể ruộng lúa (Bùi Huy Đáp, 1980) [5].
Chính những điều này đã quyết định năng suất của lúa khi áp dụng SRI cao hơn
hẳn so với đối chứng (Phụ 2004, 2005). Tùy theo việc áp dụng các biện pháp
đơn lẻ hay tổng hợp kỹ thuật SRI mà năng suất lúa vượt hơn so với đối chứng từ
4-24%. Tại Thái Nguyên vụ xuân 2005 giống Khang dân 18 được cấy ở tuổi mạ
14 ngày, mật độ 11 khóm/m2 và áp dụng chế độ nước tưới theo SRI năng suất
đạt 8,53 tấn/ha, vượt đối chứng 23,2%, và giống khang dân 18 cấy trong vụ mùa
ở tuổi mạ 14 ngà, mật độ cấy 17 khóm/m2, chế độ nước theo SRI đã đạt năng
suất 6,23 tấn/ha vượt đối chứng 24,3%.
- Hiệu quả kinh tế: Áp dụng kỹ thuật SRI làm chi phí hạt giống giảm từ 5676%, tiết kiệm nước 62%, giảm công cây và thuốc trừ sâu, trong khi đó năng
suất lúa tăng lên. Do đó kỹ thuật SRI làm tăng hiệu quả sử dụng đất, lao động,
đầu tư và tăng thu nhập…
- Bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững: Phân tích ưu điểm
của SRI về khía cạnh môi trường cho thấy để đạt năng suất lúa cao, SRI không
yêu cầu tăng cường phân bón hóa học, trong khi đó lại giảm thuốc trừ sâu do cây
lúa sinh trưởng và phát triển mạnh nên có thể chống chịu tốt hơn về vấn đề sâu
bệnh hại. Điều này có thể giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu bệnh và thuốc trừ cỏ,
do đó nâng cao chất lượng đất và nước. Các biện pháp quản lý cây trồng, đất,
nước và dinh dưỡng của SRI góp phần tăng cường sự hoạt động và đa dạng của
hệ vi sinh vật đất, làm cho đất ‘’sống và khỏe” hơn, đó là nhân tố quyết định đến
tính bền vững trong hệ thống sản xuất lúa (Hoàng Văn Phụ, 2004, 2005) [19],
[27].
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mật độ cấy và số dảnh cấy/khóm trên giống lúa