Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
tập
Báo cáo thực
I. Lý luận chung:
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thạch Thất là cơ quan tham mưu
cho UBND huyện Thạch Thất công tác quản lý nhà nước về quản lý sử dụng đất
đai, bảo vệ môi trường, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản. Phòng có 37 cán
bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong đó bộ phận môi trường có 05
đồng chí (01 đồng chí lãnh đạo phòng phụ trách chung, 01 đồng chí chuyên viên và
03 cán bộ hợp đồng). Trong những năm qua, với tốc độ phát triển mạnh của hoạt
động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các sản phẩm làng nghề đã nảy
sinh nhiều vấn đề về công tác bảo vệ môi trường. Phòng Tài nguyên & Môi trường
đã tham mưu cho UBND huyện thực hiện tốt các chương trình tuyên truyền nâng
cao nhận thức cuả nhân dân trên địa bàn, thực hiện tốt công tác kiểm tra, phát hiện,
xử lý vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên nước, môi trường.
Tuy nhiên, do địa bàn quản lý rộng, các loại hình hoạt động sản xuất kinh
doanh nhiều, đa lĩnh vực, đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý về bảo vệ môi
trường hạn chế về số lượng và trình độ chuyên môn do đó có nhiều khó khăn trong
công tác quản lý tại địa phương.
Trên cơ sở thực trạng công tác quản lý về bảo vệ môi trường tại địa phương,
Tôi đã tham khảo các tài liệu lưu trứ tại phòng Tài nguyên Môi trường, các số liệu
liên quan đến quản lý tài nguyên nước, các chỉ tiêu kinh tế xã hội của phòng Kinh
tế và các báo cáo kinh tế - xã hội của địa phương để xây dựng nội dung báo cáo
trong thời gian thực tập tại phòng Tài nguyên và Môi trường huyện.
1. Một số khái niệm cơ bản.
Có rất nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về môi trường và bảo vệ
môi trường. Theo nghĩa , chúng ta có thể xem xét trên một số quan điểm sau:
- Môi trường bao gồm các vật chất hữu cơ và vô cơ quanh sinh vật. Theo
định nghĩa này thì không thể nào xác định được môi trường một cách cụ
nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Như vậy, môi trường sống đối
với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể
sinh vật là con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự
nghỉ ngơi của con người”.
Từ các quan điểm trên để thấy được có rất nhiều thuật ngữ liên quan đến
môi trường và các từ ngữ liên quan. Trong phạm vi của tiểu luận này, tôi xin đưa ra
khái niệm của một số từ ngữ chung nhất được đề cập trong tiểu luận và hiểu theo
định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước CHXHCNVN thông
qua ngày 29/11/2005 như sau:
1. Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh
con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và sinh vật.
2. Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất,
nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất
khác.
3. Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong
lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự
cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường;
khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh
học.
4. Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện
tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
2
Lớp: CD9QM4
Căn cứ vào nghị định 80/2006NĐ_CP ngày 9/8/2006 của chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật bảo vệ môi trường.
•
Quyết định số 22/2006 QĐ_BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài
Nguyên Môi Trường về việc áp dụng các TCVN về môi trường
•
Căn cứ vào QCVN 01:2009 BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất
lượng nước ăn uống
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
3
Lớp: CD9QM4
Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Báo cáo thực
tập
•
Căn cứ vào QCVN 06:2009 BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
một số chất độc hại trong môi trường không khí xung quanh.
•
Căn cứ vào QCVN 09:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
chất lượng nước ngầm.
•
Căn cứ vào QCVN 14:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
nước thải sinh hoạt.
•
Căn cứ vào QCVN 15:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
Huyện Thạch Thất nằm ở phía Tây thành phố HÀ NỘI, là vùng bán sơn địa,
có tọa độ địa lý từ 20058’23” đến 21027’54” Vĩ độ Bắc và 10027’54” và 105038’22” Kinh
độ Đông.
_ Phía bắc giáp huyện Phúc Thọ.
_ Phía đông giáp huyện Phúc Thọ , Quốc Oai.
_ Phía nam giáp với huyện Quốc Oai, huyện Lương Sơn (tỉnh HÒA BÌNH).
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
4
Lớp: CD9QM4
Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
tập
_ Phía tây giáp huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây.
Báo cáo thực
Diện tích tự nhiên của toàn huyện trước đây là 131,84 km2 , đơn vị hành
chính gồm thị trấn Liên Quan và 20 xã trong đó có 4 xã nằm ở phía bắc, 9 xã nằm
ở phía đông, 4 xã nằm phía nam, 3 xã nằm ở phía tây. Theo quyết định điều chỉnh
địa giới hành chính thành phố HÀ NỘI , từ ngày 1/8/2008 , có thêm 3 xã thuộc
huyenj Lương Sơn _ Hòa Bình được sáp nhập vào huyện Thạch Thất là : xã Tiến
Xuân, Yên Trung và Yên Bình.Diện tích đất tự nhiên được diền chỉnh từ 131,84
km2 lên thành 202,5 km2.
II.1.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện thạch thất.
A : Địa hình , địa mạo
Huyện Thạch Thất có địa hình đa dạng , độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống
Báo cáo thực
tập
_Lượng bốc hơi : bình quân năm khoảng 860 mm, bằng 57% so với lượng
mưa trung bình cả năm.
_ Độ ẩm : không khí trung bình năm khoảng 83%, giữa các tháng trong
năm biến thiên từ 80-89%. Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm là tháng 11 và
tháng 12 tuy nhiên chênh lệch về độ ẩm giữa các tháng không lớn.
_ Gió :hướng gió thịnh hành về mùa lạnh là gió mùa Đông Bắc từ tháng 11
đến tháng 3 năm sau. Còn lại các tháng trong năm chủ yếu là gió Đông Nam. Thỉnh
thoảng xuất hiện gió Tây Nam váo các tháng 6, 7.
C : Điều kiện thủy văn.
_Nước mặt : Nguồn nước mặt chủ yếu trong khu vực được cung cấp bởi
song Tích , kênh dẫn nuốc Đồng Mô- Ngài Sơn, Phù Sa. Nước mưa được lưu trữ
trong các ao hồ, chủ yếu là các hồ thủy lợi vừa và nhỏ,
_ Nước ngầm: Được chia làm hai khu vực. Vùng gò đồi phía phải song Tích
có mực nước ngầm khá sâu, kết quả khoan thăm dò ở Hòa Lạc thấy nước ngầm ở
độ sâu 70-80m, lượng nước này không lớn nhưng có chất lượng tốt. Vùng đồng
bằng phía trái song Tích có mực nước ngầm nông và khá dồi dào, hầu hết các giếng
khơi sâu trên 8m đều có nước , nhiều giếng có nước ở độ sâu 5m.
D : Đặc điểm thổ nhưỡng.
Nằm trong khu vực đòng bằng song Hồng, huyện Thạch Thất (trước khi
nhập them 3 xã) bao gồm những loại đất chính sau:
•
Nhóm đâí phù xa: Diện tích 6205,97 ha chiếm 47,07%
diện tích tự nhiên . Các loại đất trong nhóm đất phù xa được hình thành trên trầm
tích của các con sông. Gồm các loại đất như sau
Đất phù sa được bồi hàng năm(Pb):
Diện tích 150,82 ha chiếm 1,14%diện tích đất tự nhiên. Đất được hình thành do sự
bôi đắp một lượng phù sa mới hàng năm vào mùa mưa, tùy theo điều kiện địa hình
và động năng dòng chảy mà lượng phù sa mới được bồi đắp dày hay mỏng. Đất
nơi chân đất có địa hình trung bình có điều kiện tưới tiêu nên trồng 2 vụ lúa hoặc
luân canh lúa màu.
•
Nhóm đất đỏ vàng , dện tích 3454,39 ha, chiếm 26,43 diện
tích tự nhiên , bao gôm 3 loại
1.
Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs) : Diện tích
281,20 ha chiếm 2,13% diện tích tự nhiên . Đất được hình thành trên đá phiến sét .
Hình thành phẫu diện thường có màu đỏ vàng, vàng đỏ là chủ đạo , đôi khi có màu
vàng nhạt . Đây là loại đất có độ phì khá, lại ở dạng đồi cao, tầng đất không dày
nên sử dụng cho lâm nghiệp.
2.
Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp) :Diện tích
3117,57 ha chiếm 23,65% diện tích tự nhiên. Đất được hình thành trên mẫu chất
phù sa cổ, thường ở địa hình đồi lượn sông có độ dốc dưới 15. Đây là loại đất có độ
phì thấp, phân bố ở địa hình ít dốc nên sử dụng trồng cây hoa màu và cây công
nghiêp ngắn ngày.
3.
Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl) : Diện
tích 85,62 ha chiếm 0,65% diện tích tự nhiên . Đây là loại đát hình thành trên nền
đất feralit và trên các laoij đá mẹ khác nhau hoặc mấu đất phù sa cổ, được con
người khai phá thành ruộng để trồng lúa nước , đã làm thay đổi các tính chất hoặc
hình phẫu diện so với đất hình thành tại chỗ. Hướng sử dụng : ở những vùng đất
giải quyết được nước tưới nên trồng 2 vụ lúa/năm. Ở những vùng không có điều
kiện tưới nên sử dụng công thức luân canh lúa- màu.
•
Nhóm đất thung lũng (D) : Diện tích 550,73 ha chiếm
4,18% diện tích tự nhiên . Đất thường phân bố ở các thung lũng vùng đồi. Đất được
hình thành do sản phẩm bội tụ từ bên trên đồi đưa xuống , tầng đất thường lẫn sỏi
đá, nơi thấp thường có gley. Hiện tại loại đất này đang được dử dụng trồng lúa.
không nhiều. Ngoài ra, tài nguyên rừng chủ yếu là rừng trồng được khai thác theo
chu kì lâm nghiệp tại các xã mới sáp nhập , ấc xã đồi gò phía Tây huyện có phần
lớn diện tích rừng chuyển giao cho khu công nghiệp Bắc Phú Cát(cũ), Đại học
Quốc gia nên chỉ còn khoảng 301,7 ha được thống vào đất lâm nghiệp.
II.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội.
II.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế.
II.1.2.1.1 Nông nghiệp.
Mặc dù nông nghiệp không là nguồn thu chủ yếu trong nền kinh tế của
huyện nhưng gía trị sản xuất nông nghiệp hàng năm tăng bình quân 5,5%. Tổng
giá trị sản xuất nông nghiệp đạt trên 227 tỷ đồng. trong đó nghành trồng trọt đóng
góp lớn nhất vào giá trị sản xuất nghành nông nghiệp đạt hơn 130.332 triệu đồng
chiếm 51,4%.
•
Trồng trọt: Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã có những
chuyển biến tích cực, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hiệu quả tại
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
8
Lớp: CD9QM4
Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Báo cáo thực
tập
một số xã có mô hình điểm như: Đại Đồng, Cẩm Yên…đảm bảo giá trị tăng trưởng
ngành nông nghiệp, cải thiện kinh tế cho nhân dân.
•
Chăn nuôi: Chăn nuôi của huyện cũng đã có những
bước chuyển biến đáng kể, nhịp độ tăng trưởng khá đạt 51% giá trị sản xuất nông
9
Lớp: CD9QM4
Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Báo cáo thực
tập
giới hành chính tiếp giáp với Quốc Oai, Sơn Tây là các nơi có tiềm năng du lịch
sinh thái, du lịch tâm linh tạo điều kiện để Thạch Thất có chiến lược phát triển du
lịch trong thời gian tới.
II.1.2.3 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
Trong những năm qua, nghành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của
huyện tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao và tập trung vào một số nghành chủ
yếu như vật liệu xây dựng , láp ráp xe máy, công nghiệp cơ khí, sản xuất đồ mộc.
Một số doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ
thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm nên chất lượng sản phẩm cạnh tranh được với
các loại sản phẩm nhập khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần tăng nguồn thu
cho ngân sách Nhà nước và tăng trưởng kinh tế địa phương.
Bên cạnh hoạt động sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, huyện
Thạch Thất còn có 9 làng nghề hiện nay đang được khôi phục các nghề truyền
thống nổi tiếng như: Mộc Chàng Sơn, Kim khí Phùng Xá…và các nghề mới như ở
Hữu Bằng.
I.1.2.2 Đặc điểm văn hóa xã hội:
I.1.2.2.1 Dân số
Dân số toàn huyện năm 2005 là 152619 người, hiện nay là 174.862 người
với hai dân tộc chính là Kinh và Mường. Dân tộc Mường khoảng gần 14500 người
chiếm 5,08% tổng dân số tập trung tại ba xã Yên Bình, Yên Trung và Tiến Xuân.
Dân số thành thị là 5621 người. Dân số nông thôn là 169.241 người. Tỷ lệ giữa dân
158.698
174.862
77.979
74.070
74447
76521
77.439
85480
tiêu
Dân
số
147.267
trung bình
71.307
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
10
Lớp: CD9QM4
Cơ cấu lao động của huyện Thạch Thất được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2. Cơ cấu lao động phân theo ngành nghề (năm 2005)
Chỉ tiêu
Số lao động (người)
Tỷ lệ (%)
Tổng số
79.600
100
Nông nghiệp
48.100
60.4
Công nghiệp
23.600
29.6
Dịch vụ
7.900
Thạch Thất coi trọng công tác y tế nhằm chăm lo sức khỏe cộng đồng, phát
huy nguồn nhân lực của huyện. Huyện đã tập trung chỉ đạo thực hiện công tác
chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân: tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới 1
tuổi đạt 100%, tiêm uốn ván cho phụ nữ có thai đạt 98%. Cơ sở vật chất cho tuyến
xã được tăng cường nhằm làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và khám
chữa bệnh cho nhân dân, làm tốt công tác phòng dịch. Huyện cũng tăng cường
công tác kiểm tra hành nghề y dược tư nhân, thực hiện tốt chính sách xã hội.
Đến nay toàn huyện có 1 bệnh viện Huyện với 140 giường và 23/23 xã có
trạm y tế. Cán bộ y tế tăng cường về số lượng và chất lượng. 100% trạm y tế có bác
sỹ, 117/169 thôn tại huyện Thạch thất cũ có cán bộ y tế thôn. Công tác dân số kế
hoạch hóa gia đình, giáo dục và chăm sóc trẻ em ngày càng được quan tâm. Các chỉ
tiêu biện pháp thực hiện kế hoạch hóa gia đình đều đạt và vượt kế hoạch. Tỷ lệ trẻ
em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng hàng năm đều giảm.
I.1.2.2.5 Giáo dục và đào tạo
Tỷ lệ đến lớp của các cấp học cao (năm 2004, tiểu học đạt 99.8%, THCS đạt
99.4%). Hiện tại nếu không tính các xã mới sáp nhập, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi
đến lớp đạt 100%. Tỷ lệ tốt nghiệp THCS là 99.8%, THPT đạt 99.6%. Số học sinh
giỏi cấp tỉnh, số học sinh thi đỗ đại học, cao đẳng ngày càng tăng.
Công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên được quan tâm, giáo viên có trình độ
trên chuẩn ở ngành Mầm non là 45%, tiểu học là 65.5%, THCS là 62%. .
Huyện đã tập trung vào xây dựng thêm trường học, lớp học, sửa chữa bàn
ghế, cung cấp đủ sách giáo khoa và thiết bị trường học cho các năm học.
I.1.2.2.6 Văn hóa, thông tin, thể thao
Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật được quan tâm và thực hiện thường
xuyên. Các loại hình nghệ thuật truyền thống như hát chèo, rối nước… được
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
12
không ổn định, nhiễm phèn và độ cứng cao. Phần lớn nước dùng để cấp cho các
nhà máy nước được dẫn từ các sông nhỏ, ít bị mặn nhưng lại chịu ảnh hưởng của
phân bón hoá học và thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp. Kết quả phân tích
các chỉ tiêu môi trường có 12 trong tổng số 30 mẫu nước ngầm có nhiễm sắt, nước
có màu vàng và người dân thường xử lý bằng lọc cát trước khi sử dụng.
Trên địa bàn Thạch Thất, chỉ có hai khu công nghiệp Hoà Lạc và Bắc Phú
Cát có hệ thống thoát nước thải tập trung. Các cụm công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và làng nghề chưa có hệ thống thoát nước thải riêng mà thoát chung hệ
thống nước sinh hoạt cũ. Một số cụm công nghiệp như Cụm công nghiệp Phùng Xá
có xây dựng hệ thống thoát nước song chúng đang dần xuống cấp, không đáp ứng
được yêu cầu. Các doanh nghiệp không xử lý trước khi thải đổ nước thải hoặc một
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
13
Lớp: CD9QM4
Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Báo cáo thực
tập
số trạm xử lý nước thải đã được xây dựng (Công ty Lisohaka, Công ty Duy
Thịnh..) nhưng chưa đi vào hoạt động. Một số cụm công nghiệp hoạt động sản xuất
có nước thải chứa kim loại nặng, axít ... điển hình là điểm công nghiệp Phùng Xá
đã quy hoạch các doanh nghiệp mạ kim loại thành một khu vực riêng và xây dựng
trạm xử lý nước thải mạ. Tuy nhiên, trạm xử lý nước do công ty Kim Long đầu tư
chỉ hoạt động được thời gian đầu còn hiện tại gần như không hoạt động. Lý do là
các hộ sản xuất kinh doanh không nộp tiền phí nước thải, thậm chí với mức phí
hiện tại là 4.000 đồng/m 3 không đủ chi trả cho quá trình vận hành, mua hóa chất xử
lý.
BOD5
NO2-
NO3-
Coliform
(MNP/100ml)
24
0,27
0,19
5217
NM5
19,7
5
18
0,19
1,24
6000
NM6
27
2,5
28
II.2.1.2 Nước dưới đất.
Theo các số liệu phân tích chất lượng nước ngầm tại các khu công nghiệp và
làng nghề, hầu hết các nguồn nước ngầm tại đây bị ô nhiễm SO 42-, nồng độ SO42cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn cho phép, còn các chỉ tiêu khác đều nằm trong
giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn nước ngầm TCVN 5944 – 1995. Điều này được
thể hiện trên biểu đồ sau
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
15
Lớp: CD9QM4
Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
tập
Báo cáo thực
Trong đó:
NN1: Công ty cổ phần hóa chất Hòa Bình
NN2: GK nhà Ô. Nguyễn Văn Thắng, gần CTCP hóa chất Hòa Bình
NN3: GĐ bà Xuyên, gần CTCP hoá chất Hòa Bình.
NN4: Giếng khoan khu xí nghiệp gạch xã Cẩm Yên
NN5: GK nhà chị Kiều Thị Huyền, gần Xí nghiệp gạch xã Cẩm Yên
NN6: Giếng khoan nhà anh Đỗ Văn Sơn, khu xí nghiệp gạch xã Cẩm Yên
NN7: GĐ nhà anh Khuất Quang Thinh, khu xí nghiệp gạch xã Cẩm Yên
NN8: Giếng khoan nhà máy đá ốp lát cao cấp Vinaconex
NN9: Giếng đào cơ sở sản xuất Dương Thủy xã Phùng Xá
II.2.1.3 Nước thải
Kết quả phân tích mẫu nước thải tại khu vực công nghiệp và làng nghề cho
29,7
5
0,203
4,09
6200
NT2
54
54,4
4
0,101
3,12
719
NT3
59
56,4
Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
tập
NT5
56
78
NT6
70
90,7
NT7
56
98,3
NT8
69
68
NT9
147
4950
0,1
0,219
5,02
6970
1
0,115
2,17
5004
9
0,419
9,27
9070
3,21
0,24
2
Như các mẫu phân tích ở trên cho thấy nguồn nước ở các làng nghề và khu
công nghiệp đang bị ô nhiễm nặng nề, các chỉ tiêu vượt quá mức giới hạn cho phép
của các tiêu chuẩn, quy chuẩn .
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
17
Lớp: CD9QM4
Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Báo cáo thực
tập
Các nhà máy xử lý nước thải không đi vào hoạt động làm ảnh hưởng tới các
môi trường xung quanh các công ty, nhà máy ,người dân xung quanh.
Các công ty chưa ý thức được tác hại của nước thải của nhà máy thải ra môi
trường nên không đóng tiền phí xử lý nước thải cho nhà máy xử lý dẫn đến nhà
máy xử lý nước thải không hoạt động.
•
Tác động của môi trường nước bị ô nhiễm gây ra:
Đối với sức khỏe cộng đồng : nước thải gây ảnh hưởng tới nguồn nước sinh
hoạt của người dân, gây nên nhiều bệnh cho con người: ung thu, hô hấp, tiêu hóa..
Đối với nuôi trồng thủy sản: làm ảnh hưởng tới môi trường sống của các
sinh vật, làm cho các sinh vật chết , gây nên nhiều bệnh cho các sinh vật…làm ảnh
hưởng tới sản lượng thủy sản, chất lượng, gây tổn thất nặng nề tới kinh tế người
dân.
•
Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Báo cáo thực
tập
Tại làng nghề sản xuất đồ mộc (Chàng Sơn, Canh Nậu), quy trình sản xuất
từ khâu xẻ gỗ đến bào nạo, phun sơn hoàn thiện đều phát thải ô nhiễm môi trường
khí đặc biệt là khâu đánh bụi gỗ. Hoạt động sản xuất không được quy hoạch thành
một nơi tập trung nên ô nhiễm bụi tác động trực tiếp đến sức khoẻ các thành viên
gia đình và cộng đồng. Cá biệt một số hộ sử dụng lối đi chung hoặc nơi công cộng
để sản xuất nên phát tán bụi rất khó kiểm soát. Kết quả phỏng vấn người dân cho
thấy tỷ lệ người dân mắc các bệnh về đường hô hấp đặc biệt người già và trẻ em ở
các xã nghề mộc rất cao.
Tại điểm công nghiệp Phùng Xá hoạt động gia công, tái chế kim loại phát
sinh khí thải độc hại như CO, SO2, hơi a xít, kiềm, mùi khó chịu từ quá trình đốt
cháy của than, quá trình hàn chập, quá trình mạ và hoạt động của các xưởng rút sắt
dây. Toàn bộ lượng khí thải chưa được xử lý bay vào không khí. Đến điểm công
nghiệp Phùng Xá vào những ngày nắng nóng, không khí tưởng như vón đặc bởi
mùi khó chịu của gỉ sắt, mùi hắc của hóa chất. Lượng khí thải tuy không lớn nhưng
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người lao động và người dân xung
quanh.
Hoạt động sản xuất gạch tuynen tại Đồng Trúc, Cẩm Yên và gạch thủ công
tại Phùng Xá, Đại Đồng, Lại Thượng, Phú Kim cũng gây bức xúc cho người dân.
Khi các lò gạch đốt, khói theo gió bay vào các thôn gây các bệnh về đường hô hấp,
ốm, ảnh hưởng đến năng suất lao động. Người dân đã có những phản ứng gay gắt
và nhà máy gạch tuynen đã phải nâng cao ống khói.
Một nguyên nhân khác gây ô nhiễm không khí tại các khu cụm công nghiệp
và làng nghề là do phương tiện giao thông qua lại. Hàng ngày có rất nhiều các xe ô
tô chuyên chở nguyên vật liệu, và các sản phẩm đi phân phối tạo nên nguồn ô
nhiễm di động.
Bên cạnh ô nhiễm môi trường khí do các hoạt động sản xuất tại địa phương,
Gây ảnh hưởng tới môi trường quang hợp của các cây , khi các bụi nhiều
trong không khí
Phát triển công nghiệp hóa,hiện đại hóa trong huyện thạch thất ảnh hưởng
tới môi trường không khí do nhiều công ty, xí nghiệp được thành lập , các phương
tiện tham gia giao thông cũng tăng lên gây ảnh hưởng tới môi trường không khí.
II.2.3. Hiện trạng môi trường đất.
II.2.3.1. Hiện trạng môi trường đất công nghiệp- làng nghề
Quá trình phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện
trong những năm qua đã tác động không nhỏ đến môi trường nói chung và môi
trường đất nói riêng. Nguyên nhân là do nước thải công nghiệp không được xử lý
hoặc xử lý chưa triệt để đã xả trực tiếp ra kênh rạch, rác thải không được thu gom
và xử lý.
Tình trạng ô nhiễm môi trường đất được phản ánh qua kết quả đo đạc tại các
vị trí đại diện cho các khu vực công nghiệp xung quanh huyện. Kết quả, quan trắc
của Trung tâm nghiên cứu môi trường địa chất được thể hiện trong bảng dưới đây:
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
20
Lớp: CD9QM4
Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
tập
Báo cáo thực
Bảng5: Các chỉ tiêu phân tích mẫu đất và một số chỉ tiêu phân tích vi
lượng (mg/kg) môi trường đất tại huyện Thạch Thất.
6
10
6
14
6
pH/KCl
0
7
8
7
7
7
9
4
0
0
K+ + Na+
.07
2
.21
1
.75
2
.11
0
.11
4
.99
3
SO42-
.51
0
.44
0
.15
0
.59
0
.70
0
Mg2+
.59
4
.46
7
.80
2
.90
5
.15
2
Cl-
.30
2
.87
0
.10
2
.84
1
.75
1
Zn
.50
5
.15
4
.98
6
.56
1
.70
0
.83
2
0
.008 0
.080
.015
.020 0
.010
.007 0
.090
.014 0
.012
.012 0
.040
Ghi chú:
Đ01: Công ty cổ phẩn hóa chất nông nghiệp Hòa Bình
Đ03: Nhà bà Cấn Thị Xiêm, gần CTCP hóa chất nông nghiệp Hòa Bình
Đ04: Nhà Ô. Nguyễn Văn Thắng, gần CTCP hóa chất nông nghiệp Hòa
Bình
Đ09: Cơ sở sản xuất của Bà Hoa, điểm Công nghiệp xã Phùng Xá
Đ10: Cơ sở Bảy Thành, điểm công nghiệp xã Phùng Xá
Đ14: Cơ sở Trung Hà, điểm công nghiệp xã Phùng Xá
Bảng số liệu cho thấy tại các điểm đo đều có hiện tượng ô nhiễm đất, nhất là
tại điểm đo Công ty cổ phần hóa chất nông nghiệp Hòa Bình. Tại các điểm đo của
các hộ gia đình gần công ty này cũng có hiện tượng ô nhiễm đất. Đây là doanh
được đổ tại nơi tập trung mà người dân chủ yếu đổ tại các bờ ao, sông suối hay ven
đường, góc phố. Thêm vào đó trong sản xuất nông nghiệp người dân còn lạm dụng
hoá chất và thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hoá học không hợp lý. Do đó xuất hiện
hiện tượng tích tụ các hoá chất độc, kim loại nặng, làm chua hoá, chai cứng đất.
Ngoài ra do đặc điểm địa hình nên vào mùa mưa thường xảy ra tình trạng ngập úng
cục bộ, tạo điều kiện để nguồn nước bẩn xâm nhập, làm ô nhiễm môi trường đất.
Kết quả phân tích một số chỉ tiêu về đất khu vực nông nghiệp nông thôn thể
hiện ở bảng dưới đây:
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
22
Lớp: CD9QM4
Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
tập
Báo cáo thực
Bảng 6: Các chỉ tiêu phân tích mẫu đất và một số chỉ tiêu phân tích vi
lượng (mg/kg)
Kí hiệu
pHKCL
P SO42- Ca2+ Mg2+ Fe2+ Cl-
Cu2
0.010
Đ05
7.40
0.83 0.70
0.32 3.57
2.05 0.70 1.89
0.040
0.014
Đ06
4.70
1.00 0.63
0.60 5.85
4.57 1.57 1.13
0.050
0.019
7.63
2.21 0.59
0.58 4.90
5.70 1.17 2.70
0.014
0.012
Đ11
7.12
0.92 0.78
0.61 6.28
2.05 0.88 4.01
0.004
0.014
Đ12
6.01
0.99 0.70
0.55 3.15
2.43 2.75 1.83
0.012
0.040
Đ15
7.32
1.11 0.57
0.53 1.25
4.98 2.04 4.60
0.007
KPHT
Kết quả phân tích cho thấy chất lượng môi trường đất khu vực dự án là khá
nghèo chất dinh dưỡng (hàm lượng P khá thấp). Một số mẫu đất có nhiễm kim loại
nặng và thuốc bảo vệ thực vật đặc biệt tại khu vực gần Công ty thuốc bảo vệ thực
vật Hoà Bình.
Đánh giá chung về môi trường đất.
•
Đối với môi trường khác: gây ảnh hưởng tới môi trường sống của các sinh
vật xung quanh, làm mất sự đa dạng phong phú , gây ảnh hưởng sự phát triển của
các sinh vật, gây ảnh hưởng tới nghành nuôi thủy sản.
II.2.4. Hiện trạng môi trường khác.
II.2.4.1. Hiện trạng môi trường nghành thương mại – dịch vụ- du lịch
II.2.4.1.1. Các tụ điểm thương mại dịch vụ - du lịch
Với những lợi thế và tiềm năng cho phát triển ngành công nghiệp tiểu thủ
công nghiệp, kinh tế huyện đang có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh
tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ từng bước giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Cùng với
sự phát triển của ngành công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, hệ thống thương mại
dịch vụ đã nhanh chóng phát triển trên khắp các địa bàn của huyện.
Đến nay toàn huyện có 2875 doanh nghiệp và hộ cá thể hoạt động thương
mại với số lao động khoảng 6000 người, đã hình thành các trung tâm cụm dân cư,
thị trấn, thị tứ như Đại Đồng, Hoà Lạc, Hữu Bằng, Hạ Bằng, Bình Phú, Chàng Sơn,
Yên Bình... Hoạt động thương mại dịch vụ phát triển đa dạng hoá với nhiều loại
hình dịch vụ, hình thành trung tâm buôn bán của địa phương nhưng cũng tiềm ẩn
nguy cơ ô nhiễm môi trường cục bộ tại các trung tâm buôn bán này.
Một nguồn phát thải khác là tại các khu chợ trên địa bàn các xã và thị trấn
của huyện. Các chợ lớn của huyện đó là chợ Săn thuộc thị trấn Liên Quan, chợ Nủa
thuộc Bình Phú, chợ Cò xã Yên Bình; các chợ phiên và các chợ tạm thường họp
vào buổi sáng.
Thành phần rác thải của ngành thương mại rất phức tạp, bao gồm cả rác thải
vô cơ như túi nilong, vỏ kẹo bánh và rác thải hữu cơ như vỏ ốc, vỏ hến tại các khu
chợ, ảnh hưởng lớn đến cảnh quan môi trường huyện. Trên các con đường chính,
đường thôn xóm, tại các khu vực có hoạt động thương mại dịch vụ, rác thải được
vứt bừa bãi trên đường đi gây mất mỹ quan. Chợ Săn thị trấn Liên Quan là một ví
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
24
chỉ riêng ở huyện Thạch Thất mà ở ngay cả các bệnh viện lớn trong cả nước. Do
tính độc hại của nó nên nước thải bệnh viện được xếp vào danh mục chất thải nguy
hại. Ngoài các loại vi trùng từ máu, còn có dung dịch chứa các chất phóng xạ phát
sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của bệnh nhân, nước rửa
dụng cụ chứa phóng xạ. Các chuyên gia trong ngành Y tế chỉ ra rằng các vi khuẩn
gây bệnh có trong nước thải bệnh viện đều ở mức khá cao, đặc biệt là vi khuẩn
Salmonalla, Shigella, Vibrio, Cholerae, Coliorm, tụ cầu, liên cầu v.v… với các
nguy cơ nhiễm virus, chủ yếu là virus đường tiêu hoá, bại liệt, các loại ký sinh
trùng, amip và các loại nấm..
Với quy mô hơn 140 giường bệnh, trung bình mỗi ngày bệnh viện Huyện xả
SVTH: Nguyễn Đỗ Bằng
25
Lớp: CD9QM4