TRƯỜNG ĐẠ I H ỌC KINH TẾ TP. HCM
Khoa Kế Toán – Kiểm Toán
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
Khoa Kế Toán – Kiểm To án
NHÓM 27:
STT
HỌ TÊN
MSSV
46
Bùi Thị Mộng Huyền
33121020452
114
Nguyễn Thị Hồng Son
33111025871
143
Trần Thị Bích Trâm
European Union
International Monetary Fund
Gross Domestic Product
Official Development Assistance
LỜI MỞ ĐẦU
Nợ công đang trở thành vấn đề nóng bỏng không chỉ ở riêng Châu Âu, Mỹ,
Nhật Bản mà nhiều nước đang phát triển trên thế giới cũng đang phải đối mặt,
trong đó có Việt Nam. Bộ Tài chính dự kiến nợ công của Việt Nam năm 2011 ở
mức khoảng 1.375 nghìn tỷ đồng, tương đương 58,7% GDP. Mặc dù chỉ số trên
vẫn được xem là trong ngưỡng an toàn nhưng nếu không có một chương trình và
kế hoạch quản lý nợ công hiệu quả, đặc biệt là nợ nước ngoài thì nguy cơ mất
kiểm soát nợ công trong tương lai là điều có thể xảy ra.
Nợ công đang đe dọa đến đà phục hồi và sự ổn định của nền kinh tế toàn thế
giới, viễn cảnh của cuộc tái suy thoái kinh tế toàn cầu cũng đã được đặt ra.
Trong khi đó, đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị trường
mới nổi, mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế biểu hiện rõ nhất khi nợ vượt
mức 90-100% GDP; lúc này, nợ càng tăng, tăng trưởng kinh tế giảm đáng kể.
Như vậy, việc đánh giá đúng nợ công và "thực chất" nợ công của một nền kinh tế,
một quốc gia là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong những thời điểm nhạy cảm. Bởi
lẽ, nếu chỉ chú trọng vào con số tỉ lệ nợ công cao một cách thuần tuý sẽ gây nên
hiệu ứng tâm lý dễ gây rối loạn nền kinh tế, thậm chí dẫn nền kinh tế đến bên bờ
vực phá sản. Ngược lại, nếu yên tâm với tỉ lệ nợ công còn trong giới hạn an toàn,
mà không phân tích cẩn trọng, chú ý đúng mức đến khoản nợ đó được hình thành
như thế nào, bằng cách nào, thực trạng nền kinh tế ra sao và khả năng trả nợ thế
nào..., cũng sẽ dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy thâm hụt ngân sách - "thắt
lưng buộc bụng" - tác động tiêu cực đến tăng trưởng.
khi đọc tin một doanh nghiệp thu xếp ký kết một khoản vay 2 tỷ đô-la với một
ngân hàng nước ngoài nào đó, có sự bảo lãnh của Chính phủ, có thể có người vẫn
nghĩ đó là nợ doanh nghiệp, không phải nợ công.
Ngoài ra cần chú ý thêm khái niệm “nợ nước ngoài của quốc gia”: Là tổng
các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của
doanh nghiệp và tổ chức khác vay theo phương thức tự vay, tự trả (Luật quản lý nợ
công năm 2009). Vốn vay từ A DB hay WB đương nhiên là nợ nước ngoài rồi
nhưng một doanh nghiệp vay từ đối tác nước ngoài vài trăm triệu đô-la, chẳng hạn,
dù có hay không có bảo lãnh của chính phủ, thì khoản tiền đó vẫn phải tính vào
tổng nợ nước ngoài của quốc gia.
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của chính phủ, khi chi tiêu của chính
phủ lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được. Do đó, Nhà nước phải đi vay (trong hoặc
ngoài nước) để trang trải thâm hụt ngân sách. Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả
gốc và lãi khi đến hạn, Nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp. Vì vậy, suy
cho cùng nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế: hôm nay hay ngày mai,
thế hệ này hay thế hệ khác. Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, được hầu
hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách. Nợ
chính phủ thể hiện sự chuyển giao của cải từ thế hệ sau (thế hệ phải trả thuế cao)
cho thế hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế).
II. TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - Ý
NGHĨA CỦA NGƯỠNG NỢ VÀ TRẦN NỢ QUỐC GIA
“Nợ công là một trong những nguồn cần thiết của cấu trúc vốn mỗi quốc
gia. Nó góp phần tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn,
nhưng lại gây tổn hại cho nền kinh tế trong dài hạn, do gánh nặng thực hiện
nghĩa vụ trả nợ cả vốn gốc và lãi. Theo tính toán của những nhà kinh tế học, khi
vay nợ tăng vượt ngưỡng 90-100% GDP, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ suy giảm
tiết kiệm cũng thấp và tiếp tục quay lại với cấu trúc vốn nội bộ thiếu thốn. Vì vậy,
lúc này, những kiến thức thuộc về chuyên môn, bộ máy quản lý tài chính quốc gia
và sự hỗ trợ tài chính từ những nước Phương Tây để khắc phục sự khó khăn về
nguồn lực là điều trở nên rất cần thiết. Mặt khác, nợ nước ngoài như là một sự ràng
buộc chính yếu đến cấu trúc vốn của nhữngquốc gia đang phát triển. Trong đó, nợ
dồn tích lại bởi vì những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của nó, dần dần nợ
không góp phần một cách đáng kể cho sự phát triển kinh tế tại những đất nước
đang phát triển trong dài hạn. Phát triển những ý tưởng trên.
Theo Elmendorf và Mankiw (1999): Nợ công có ảnh hưởng quan trọng
đến nền kinh tế cả trong ngắn và dài hạn. Các khoản nợ (phản ánh tài trợ thâm hụt)
có thể kích thích tổng cầu và sản lượng trong ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu huy động
vốn của những cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế. Nợ công cao có thể ảnh
hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăng trưởng thông qua lãi suất dài hạn cao hơn,
bóp méo hệ thống thuế trong tương lai cao hơn, lạm phát và sự không chắc chắn
cao hơn về các triển vọng và chính sách.
Thứ hai:
Đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị trường
mới nổi, mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế biểu hiện rõ nhất
khi nợ vượt mức 90-100% GDP; lúc này, nợ càng tăng, tăng trưởng kinh tế
giảm đáng kể.
Theo M. Reinhart và S. Rogoff : Đã xem xét mối quan hệ giữa nợ công và
tăng trưởng kinh tế với các mức độ khác nhau của nợ công ở những nền kinh tế
tiên tiến và mới nổi. Nghiên cứu gần đây được thực hiện bởi hai tác giả này, thông
qua thống kê tương quan đơn giản về những mức khác nhau của nợ công và tốc độ
tăng trưởng GDP thực dài hạn trong mẫu 20 quốc gia phát triển trải dài khoảng hai
thế kỷ (1790 – 2009), và mẫu 24 nền kinh tế thị trường mới nổi giai đoạn 1946 2009 nhận thấy rằng:
(i)
trở chi tiêu công cho đầu tư phát triển, hạn chế việc tích lũy nguồn vốn và có
khuynh hướng cản trở áp dụng những chính sách tiền tệ linh hoạt để củng cố
những doanh nghiệp vừa và nhỏ do nguồn thu được phải đáp ứng phần lớn nghĩa
vụ nợ cả gốc và lãi. Điều này đã ảnh hưởng một cách gián tiếp đến việc làm, học
vấn và sự bần cùng, nghèokhó của người dân trong một quốc gia.
Thứ tư:
Tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư có mối quan hệ với
nhau, khi vốn nội địa không đủ để tài trợ cho chi tiêu đầu tư trong nước
thì vay nợ là tất yếu để phục vụ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vay nợ luôn
kèm theo những rủi ro do lãi suất, thời hạn, cơ cấu vay mượn, gây ảnh
hưởng tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế, do đó vấn đề quản lý nợ hiệu quả
đang trở nên cấp thiết.
Theo Hunt (2007): Sự tăng lên trong tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế dẫn
đến tăng trưởng kinh tế. Sachs (2002) tranh luận rằng sự tăng trưởng sẽ
không tăng cho đến khi tổng lượng vốn tăng đạt đến một ngưỡng nhất định. Lý
thuyết “dual-gap” nói rằng đầu tư là một hàm của tiết kiệm, và trong những quốc
gia đang phát triển, mức độ tiết kiệm nội địa không đủ để tài trợ cho đầu tư cần
thiết để đảm bảo phát triển kinh tế và thật hợp lý khi tìm kiếm sử dụng những s ản
phẩm và dịch vụ từ bên ngoài.
Colaco (1985): Đã giải thích tính chất nhạy cảm của việc thanh toán
nợ đối với những nước đang phát triển thông qua sử dụng ba kịch bản:
(i)
Quy mô khoản nợ nước ngoài đạt đến một mức độ mà lớn hơn so với vốn tự
có, dẫn đến sự không cân bằng giữa nợ và vốn tự có;
(ii)
Tỷ lệ nợ với lãi suất thả nổi tăng đột ngột, vì vậy những người vay mượn
nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu
Nhóm nước phát triển
Hình 1: N ợ công, tăng trưởng và lạm phát: Những thị trường mới nổi được chọn
lọc,1946-2009.Nguồn: IMF, World Economic Outlook, World Bank, Global
Development Finance, and Reinhart and Rogoff (2009b) và những nguồn được
trích dẫn tại đó
Sau đây là mối quan hệ giữa tỷ lệ tăng trưởng GDP và các mức nợ khác
nhau của 20 nước phát triển trong khoản gthời gian 1946 - 2009. Quan sát hàng
năm được gộp thành 4 nhóm, dựa theo tỷ lệ nợ trên GDP trong suốt phạm vi quan
sát, cụ thể như: những năm khi nợ công/GDP dưới 30% (nợ thấp) , những năm mà
nợ công/GDP từ 30% đến 60% (nợ trung bình), 60 đến 90% (nợ cao),và trên 90%
(rất cao).
Có tổng số 1142 quan sát hàng năm, cụ thể là: 502 quan sát cho
Nợ/GDP dưới 30%, 385 cho Nợ/GDP từ 30 đến 60%, 145 cho Nợ/GDP từ
60 đến 90%, và 110 cho Nợ/GDP trên 90%. Đáng ngạc nhiên là mối quan hệ
giữa nợ công và tăng trưởng thì tương tự nhau một cách đáng chú ý ở cả những thị
trường mới nổi lẫn những nền kinh tế phát triển.Trong giai đoạn 1946 đến 2009,
tốc độ tăng trưởng trung vị và bình quân xấp xỉ khoảng 4 - 4,5% cho tất cả những
mức độ nợ khoảng 90% GDP. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP trung vị giảm
mạnh còn 2,9% đối với tỉ lệ nợ trên 90%, sự sụt giảm này còn lớn hơn khi xét đến
tốc độ tăng trưởng bình quân, giảm chỉ còn 1%. Như vậy, đối với những nước mới
nổi, tỷ lệ nợ có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế nhiều nhất cũng được tìm thấy
là mức 90% GDP. Do đó, có thể nói, mức nợ 90% GDP là mức nợ đe dọa chung
đến tăng trưởng kinh tế của tất cả các nhóm nước, từ đó, giúp các Chính Phủ có
thể nhận định được ngưỡng nợ trung bình tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh
Hình 2: N ợ công, tăng trưởng và lạm phát: những thị trường mới nổi được chọn
lọc,1946-2009.Nguồn: IMF, World Economic Outlook, World Bank, Global
Development Finance, and Reinhart and Rogoff (2009b) và những nguồn được
trích dẫn tại đó
Khi nợ công quá lớn cũng sẽ đặt các quốc gia vào tình trạng k hó khăn:
Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách
"thắt lưng buộc bụng" để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để
được nhận sự hỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế, thế nhưng, "thắt lưng
buộc bụng" lại dẫn tới những cuộc biểu tình phản đối của quần chúng, gây căng
thẳng, bất ổn chính trị, xã hội, bởi những người nghèo, những người yếu thế trong
xã hội là những người bị tác động mạnh nhất từ chính sách cắt giảm phúc lợi, cắt
giảm chi tiêu của chính phủ. Chẳng hạn, để được nhận gói cứu trợ nhằm giải quyết
khủng hoảng nợ, Chính phủ Hy Lạp đã phải quyết định tăng nhiều loại thuế, từ
thuế giá trị gia tăng đến thuế thu nhập, thuế bất động sản; và đánh thuế vào nhiều
sản phẩm như rượu, thuốc lá..., đồng thời chấp nhận áp dụng các biện pháp cắt
giảm chi tiêu mạnh tay. Để phản đối chính sách này của chính phủ, các cuộc tổng
đình công đã diễn ra, hàng chục ngàn người đã tham gia biểu tình trên khắp đất
nước Hy Lạp, nhất là tại thủ đô A -ten. Năm 2001, Á c-hen-ti-na đã phải đối mặt
với tình trạng rối loạn nghiêm trọng do các làn sóng biểu tình khắp nơi phản ứng
các biện pháp "thắt lưng buộc bụng", để rồi Tổng thống Á c-hen-ti-na khi đó là ông
Féc-nan-đô đơ la Rua đã phải từ chức, và 4 ngày sau đó, người kế nhiệm là A-đônphơ Rô-ri-get Saa phải tuyên bố tình trạng vỡ nợ quốc gia, với khoản nợ 90 tỉ USD
- mức nợ lớn nhất trong lịch sử đất nước này.
Trong thời điểm hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu mới thoát khỏi khủng
hoảng, bắt đầu có dấu hiệu phục hồi do kết quả của các gói kích thích kinh tế mà
chính phủ các nước đã chi ra trong những năm trước đây, thì việc cắt giảm chi tiêu,
tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế, làm chậm tốc
độ tăng trưởng, thậm chí có thể đẩy nền kinh tế vào "khủng hoảng kép". Nghiêm
về tỉ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ của Nhật cũng ở mức rất cao (theo con s ố mà Bộ
Tài chính Nhật Bản công bố ngày 12-5, tính đến cuối tháng 4-2010, dự trữ quốc
gia của Nhật là 1.046,873 tỉ USD). Do vậy, nền kinh tế Nhật Bản, mặc dù ngoài nợ
công cao còn đứng trước nhiều khó khăn khác nữa, nhưng vẫn được dự báo là khó
có thể trở thành mục tiêu tấn công của giới đầu cơ quốc tế. Như vậy, việc đánh giá
đúng nợ công và "thực chất" nợ công của một nền kinh tế, một quốc gia là vô cùng
quan trọng, đặc biệt trong những thời điểm nhạy cảm. Bởi lẽ, nếu chỉ chú trọng
vào con số tỉ lệ nợ công cao một cách thuần tuý sẽ gây nên hiệu ứng tâm lý hoang
mang, kích động, thiếu tin tưởng, làm gia tăng căng thẳng xã hội, bị giới đầu cơ lợi
dụng tấn công, dễ gây rối loạn nền kinh tế, thậm chí dẫn nền kinh tế đến bên bờ
vực phá sản. Ngược lại, nếu yên tâm với tỉ lệ nợ công còn trong giới hạn an toàn,
mà không phân tích cẩn trọng, chú ý đúng mức đến khoản nợ đó được hình thành
như thế nào, bằng cách nào, thực trạng nền kinh tế ra sao và khả năng trả nợ thế
nào..., cũng sẽ dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy thâm hụt ngân sách - "thắt
lưng buộc bụng" - tác động tiêu cực đến tăng trưởng.
KẾT LUẬN
Tóm lại từ những phân tích ở trên cho thấy giữa nợ công và sự tăng trưởng kinh tế
có 1 mối quan hệ mật thiết với nhau.Khi chính phủ vay nợ để bù đắp cho thâm hụt
ngân sách do cắt giảm các nguồn thu từ thuế trong khi mức chi tiêu công không
thay đổi sẽ tác động đến hành vi tiêu dùng của người dân, từ đó hạn chế tăng
trưởng kinh tế, dẫn đến nền kinh tế trì trệ, chậm phát triển .Ngược lại, xét về mặt
tích cực, Chính phủ các quốc gia có thể sử dụng nợ công như là một công cụ để
tài trợ vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia,
khuyến khích phát triển sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng, nợ công vẫn thật sự cần thiết cho nền kinh tế
mọi quốc gia. Bài toán về nợ công vốn phức tạp và hiệu ứng của nó vẫn luôn là