Tìm hiểu công tác quản lý môi trường tại thị trấn tân uyên huyện tân uyên tỉnh lai châu - Pdf 35

Mục lục

1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn chuyên đề:
“Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân
loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xoá đói
1


giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội trên
phạm vi toàn thế giới”. Đó là lời mở đầu của chỉ thị số 36- CT/TW ngày
25/6/1998 của Bộ Chính trị trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII về
tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Quán triệt tinh thần và nội dung của chỉ thị trên, các ngành, các cấp
trong cả nước đã và đang đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường, chống ô
nhiễm và suy thoái môi trường. Để giữ được sự phát triển cân bằng kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường, hay nói một cách khác, phát triển kinh tế - xã hội
tạo tiềm lực để BVMT, còn BVMT tạo ra tiềm năng tự nhiên và xã hội mới
cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội trong tương lai. Chính vì vậy, việc
BVMT nói chung và công tác quản lý môi trường nói riêng góp phần vô cùng
quan trọng và rất cần thiết trong thời kỳ hiện nay. Tuỳ thuộc vào điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển mà lựa chọn phương
pháp quản lý môi trường cho phù hợp với điều kiện của từng quốc gia, từng địa
phương. Nên cùng với cả nước, ban lãnh đạo tỉnh Lai Châu trong những năm
gần đây đã có những chủ trương chính sách, biện pháp giải quyết các vấn đề về
môi trường như: đấy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi
trường; ứng dụng khoa học công nghệ tiến tiến trong sản xuất sạch hơn...
Nhận thấy từ việc BVMT nói chung và công tác BVMT nói riêng trong
từng khu vực là rất cần thiết trong thời kỳ hiện nay vậy được sự phân công của
ban chủ nhiệm khoa Môi trường, Trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường,
dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.s, Hoàng Thị Huê, tôi tiến hành thực hiện

- Thông tin, số liệu đưa ra phải đảm bảo chính xác, đầy đủ, chi tiết.

3


2. NỘI DUNG
2.1. Lý luận chung

2.1.1. Những khái niệm về môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ
mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.
* Khái niệm: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân
tạo bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát
triển của con người và sinh vật
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
+ Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như các yếu tố vật
lý, hoá học và sinh học, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người.
+ Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người tạo
nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và
cộng đồng loài người.
+ Môi trường nhân tạo: Là tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con
người tạo nên và chịu sự chi phối của con người.
Môi trường theo nghĩa rộng là tổng các nhân tố như không khí, nước,
đất, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, xã hội…Có ảnh hưởng tới chất lượng
cuộc sống con người và các tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sinh sống và
sản xuất của con người. Môi trường theo nghĩa hẹp là các nhân tố như: Không
khí, đất, nước, ánh sáng…liên quan tới chất lượng cuộc sống con người ,
không xét tới tài nguyên (Trương Thành Nam, 2006)[4]

- Xây dựng các công cụ hữu hiệu về quản lý môi trường quốc gia, các
vùng lãnh thổ riêng biệt.
Các nguyên tắc chủ yếu trong công tác quản lý môi trường:
- Hướng tới phát triển bền vững.
- Kết hợp các mục tiêu quốc tế, quốc gia, vùng lãnh thổ và cộng đồng
dân cư trong việc quản lý môi trường.
5


- Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần
được thực hiện nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp.
- Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc
xử lý phục hồi môi trường nếu để xảy ra ô nhiễm.
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền.
2.1.3. Các cơ sở để xây dựng nên hệ thống quản lý môi trường
Cơ sở triết học của quản lý môi trường
- Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới gắn tự nhiên, con
người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn: “Tự nhiên - Con người - Xã
hội”. Sự thống nhất của hệ thống trên được thể hiện trong các chu trình sinh
địa hóa của 5 thành phần cơ bản: Sinh vật sản xuất; sinh vật tiêu thụ; sinh vật
phân hủy; con người và các chất vô cơ; hữu cơ cần thiết cho sự sống của sinh
vật và con người.
- Tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên - Con người - Xã hội” gắn
liền với quá trình tiến hóa của sinh quyển và lịch sử phát triển của xã hội loài
người. Yếu tố con người là mắt xích quan trọng trong mối quan hệ Tự nhiên Con người - Xã hội, yếu tố Xã hội quyết định sự bảo tồn của sự sống trên trái
đất, Nguồn tài nguyên có giá trị khác nhau đối với con người và xã hội loài
người trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Xã hội ngày càng phát triển thì
việc gắn bó với tự nhiên là điều tất yếu. Cơ sở thống nhất của hệ thống Tự
nhiên - Con người - Xã hội được quy định bởi cấu trúc chặt chẽ liên hoàn của
sinh quyển và bởi cơ chế hoạt động theo nguyên tắc tự tổ chức, tự bảo vệ, tự

trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải
vật chất dều diễn ra với sức ép của sự trao đổi hàng hóa theo giá trị. Loại hàng
hóa có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh hơn. Trong khi
loại hàng hóa kém chất lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng. Vì vậy chúng ta
có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng
hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho công tác bảo vệ môi trường.
Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm các loại thuế, phí và lệ phí, cota ô
nhiễm, quy chế đóng góp có bồi hoàn, trợ cấp kinh tế, nhãn sinh thái, hệ thống
các tiêu chuẩn ISO. Một số ví dụ về phân tích kinh tế trong quản lý tài nguyên
và môi trường như lựa chọn sản lượng tối ưu cho hoạt động sản xuất có sinh ra
7


ô nhiễm, hoặc xác định mức khai thác hợp lý tài nguyên tái tạo ( Nguyễn Ngọc
Nông và cs, 2006)[6].
Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường
Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường là các văn bản về Luật quốc tế
và Luật quốc gia về lĩnh vực môi trường.
Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc
tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa các tổ chức quốc tế trong
việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và
môi trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia.
Các văn bản luật chính thức được hình thành từ thế kỷ XIX và đầu thế
kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ và châu Phi. Từ hội nghị quốc tế
về “Môi trường và con người” tổ chức vào năm 1972 tại Thụy Điển và sau hội
nghị thượng đỉnh Rio 92 có rất nhiều văn bản luật quốc tế được soạn thảo và
ký kết.
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộ
luật, trong đó có Luật bảo vệ môi trường được quốc hội nước Việt Nam thông

trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương.
 Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền
của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu
quả trong nền kinh tế thị trường.
 Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà
nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố
chất ô nhiễm trong môi trường. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm
các đánh giá môi trường, minitoring môi trường, xử lý chất thải, tái chế và
tái sử dụng chất thải. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện
thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào.

9


2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.2.1. BIẾN ĐỘNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ – XÃ HỘI
2.2.1.1.Điều kiện tự nhiên
 Vị trí địa lý

Thị trấn Tân Uyên là trung tâm huyện lỵ, được xác định là vùng kinh tế có nhiều
tiềm năng của huyện, có mạng lưới giao thông huyết mạch nối liền với nhiều xã
lân cận, thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.
- Phía Bắc giáp xã Phúc Khoa - huyện Tân Uyên - tỉnh Lai Châu.
- Phía Nam giáp xã Trung Đồng và xã Thân Thuộc - huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu.
- Phía Đông giáp xã Tả Van - huyện Sa Pa - tỉnh Lào Cai.
- Phía Tây giáp xã Mường Khoa - huyện Tân Uyên - tỉnh Lai Châu.
 Địa hình

Thị Trấn có địa hình chia cắt phức tạp, cao ở phía Đông Bắc và thấp

+ Tốc độ gió lớn nhất: 22/m/s.
 Thủy văn

Thị Trấn Tân Uyên có hệ thống mạng lưới các con suối khá dày đặc, có
các con suối lớn là: suối Nậm Pầu, suối Nà Cóc, suối Nậm Chăng To, suối
Chăng Luông, suối Nậm Giàng, suối Tát Xôm, suối Nậm Chẳng, suối Nậm
Be, suối Chạm Cả....
Hệ thống suối này là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho hoạt động sản
xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Do lượng mưa hàng năm phân bố không đồng đều nên mùa mưa quá dư thừa
nước gây ra lũ lụt, về mùa khô thì thiếu nước, dòng thủy cạn kiệt gây cháy
rừng và ảnh hưởng tới sản xuất của nhân dân, vụ Đông Xuân không gieo cấy
hết diện tích do hạn hán, vụ hè thu dịch bệnh phát triển, năng suất thấp.
 Tài nguyên đất

Tổng diện tích tự nhiên toàn thị trấn là 7.020,34 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp

: 5.360,99 ha.

-Đất phi nông nghiệp : 271,91 ha.
- Đất chưa sử dụng

: 1.364,97 ha.

- Đất đô thị

: 7.020,34 ha.
11


là 2.917,50 ha, độ che phủ đạt 58,19%, với tỉ lệ che phủ rừng là 41,56%.
Trong đó, rừng sản xuất là 143,10 ha, rừng phòng hộ là 2.774,40 ha. Với :

12


- Rừng tự nhiên có diện tích 2.774,40 ha chiếm 39,52% tổng diện tích tự
nhiên
- Rừng trồng có diện tích 143,10 ha chiếm 2,04% tổng diện tích tự nhiên.
Trên địa bàn thị trấn đã tiến hành khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên,
trồng rừng mới nhưng hiện nay vẫn còn một phần lớn diện tích đất chưa sử
dụng cần được đưa vào trồng rừng giai đoạn tới để nâng cao độ che phủ rừng
hơn nữa.
 Tài nguyên nhân văn

Trên địa bàn thị trấn Tân Uyên có 11 dân tộc sinh sống nhưng chủ yếu là
dân tộc Kinh, Mông, Thái, Khơ Mú… Các dân tộc trong thị trấn đã có quá
trình cộng cư lâu dài giao lưu cả về kinh tế văn hóa và hôn nhân… Nhưng vẫn
bảo tồn những nét đặc trưng riêng về văn hóa. Nhân dân các dân tộc trong
toàn thị trấn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, yên tâm sản xuất
phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống, từng bước xóa đói giảm
nghèo. Những giá trị văn hóa truyền thống, các lễ hội nhân dân, những giá trị
văn hóa phi vật thể quý giá, là nguồn tài nguyên nhân văn cần được gìn giữ,
phát huy và tạo nên sự đa dạng về bản sắc văn hóa dân tộc.
2.2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế
Cùng với sự phát triển chung của toàn huyện trong thời kỳ đổi mới, trong
những năm vừa qua nền kinh tế của thị trấn có những bước phát triển cao theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đời sống của nhân được cải thiện. Bên
cạnh đó vẫn còn gặp nhiều khó khăn do địa bàn mới được chia tách giao thông

- Cây thảo quả tổng diện tích 50 ha/50 ha đạt 100% KH, sản lượng 10 tấn.
* Các hoạt động hỗ trợ sản xuất nông nghiệp.
- Uỷ ban nhân dân thị trấn đã ký hợp đồng với Chi nhánh vật tư Nông
nghiệp Tân Uyên cung ứng cho nhân dân 2 bản Chạm cả, Huổi Luồng vay 17
tấn phân NPK trả chậm để sản xuất.
- Vận động nhân dân thực hiện cây trồng vụ đông: 12 ha (ngô, rau, khoai tây).
- Thực hiện mô hình 15 ha "Sản xuất lúa hàng hoá, chất lượng" giống
hương thơm số 1 tại 4 điểm (Chạm Cả, 5, 24, 26) do Trung tâm Khuyến nông
tỉnh đầu tư, năng suất bình quân 47 tạ/ha; giống lúa xác nhận của Công ty
14


giống Thái Bình thực hiện 2,1 ha tại tổ dân phố 3, năng suất bình quân 50
tạ/ha.
* Cây chè: Tổng diện tích chè: 580 ha chè kinh doanh, sản lượng chè búp
tươi đến thời điểm báo cáo 6.786/KH 7.008 tấn đạt 97% KH, ước thực hiện cả
năm 7.192 tấn đạt 103% KH, tăng 30,4% so với năm 2010 (trong đó: chè
Công ty 565 ha, sản lượng 6.700 tấn, ước cả năm 7.100 tấn).
 Chăn nuôi
- Tổng đàn gia súc: thực hiện 7.818 con/10.815 con đạt 72,3% KH
(tăng 17,62% so với năm 2010).
Trong đó: Đàn trâu: 1.620 con; đàn bò: 192 con; đàn lợn: 5.572 con; đàn
dê, ngựa: 434 con.
- Tổng đàn gia cầm: thực hiện 39.842 con/30.000 con đạt 133% KH (tăng
27,3% so với năm 2010).
* Công tác phòng, chống dịch bệnh:
- Đầu năm 2011, rét đậm, rét hại kéo dài, toàn thị trấn có 55 con trâu bị
chết rét và 49 con bị chết do bệnh lở mồm long móng.
- Triển khai tiêm phòng đợt I và đợt II cho đàn gia súc trên toàn thị trấn
đạt 95% liều vắc xin Tụ huyết trùng. Đang triển khai tiêm phòng đợt III/2011

ở bản, tổ dân phố với số tiền 202.764.000đ.
 Giao thông vận tải
Diện tích đất giao thông trên địa bàn thị trấn hiện nay là 13,75 ha, bao
gồm các tuyến đường quốc lộ 32, đường liên thôn bản và giao thông nội đồng.
Các tuyến đường quốc lộ 32 với chiều dài 7,5 km, mặt cắt ngang đường
trung bình 20m. Kết cấu bề mặt là đường nhựa chất lượng tốt. Ngoài ra, cũng
có các tuyến đường liên bản liên khu dân cư.
Nhìn chung, hệ thống giao thông của thị trấn chưa đáp ứng được nhu cầu
đi lại, giao lưu phát triển kinh tế của thị trấn trong tương lai cần nâng cấp các
tuyến đường liên khu hiện đang là đường cấp phối và đường đất, mở mới một
số tuyến đường quan trọng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
của nhân dân trong thị trấn như đường Vành đai, đường tránh thị trấn.

16


 Bưu chính viễn thông
Nhân dân thị trấn Tân Uyên đã được sử dụng điện lưới quốc gia. Thị trấn
đã có một bưu điện của thị trấn với diện tích 0,01 ha. Bưu điện thị trấn là nhà
cấp B2, chất lượng tốt. Nhìn chung, các công trình năng lượng, bưu chính viễn
thông trên địa bàn thị trấn đã đáp ứng tốt nhu cầu của nhân dân thị trấn.
Hiện nay, thị trấn đã được phủ sóng điện thoại rộng khắp và có lưới điện
quốc gia đến từng khu bản.
2.2.1.3. Văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế
 Dân số

Tình hình biến động dân số từ năm 2006 đến năm 2011 của thị trấn Tân
Uyên thể hiện qua số liệu sau:
Bảng 4.1: Tình hình biến động dân số qua các năm
TT Chỉ tiêu

5.076

5.116

5.207

8.043

8.385

9.090

khẩu
1.1

Nữ

Người

2.679

2.693

2.715

4.396

4.371

4.630


4,25

8,41

Hộ

1.416

1.513

1.523

2.045

2.167

2.306

lao Lao động

2.589

2.584

2.604

3.941

4.025

Tổng số hộ

4

Tổng

số

động
5

Biến động dân Người
số

6

Quy mô số hộ

Người/hộ

(Nguồn: Tài liệu về dân số và nhà ở của UBND thị trấn Tân Uyên)

17


Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện sự tăng dân số qua các năm
Số liệu ở bảng 4.1 cho thấy: biến động dân số từ năm 2006 đến năm
2011 của thị trấn Tân Uyên là không ổn định. Năm 2006, dân số của toàn thị
trấn là 5.076 người đến năm 2009 tổng dân số là 8.043 người. Biến động dân
số năm 2009 lớn là do trong năm, thị trấn tiếp nhận 8 bản của xã Thân Thuộc

động như hỗ trợ, đầu tư xây dưng các mô hình kinh tế, phối hợp với các ngành
liên quan để xúc tiến việc làm cho người lao động góp phần giảm tỷ lệ lao
động thất nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo. Trong những năm tới, cùng với sự phát
triển kinh tế - xã hội, còn đặc biệt chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực,
đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, nhằm nâng cao đời
sống của nhân dân và ổn định chính trị , xã hội trên địa bàn thị trấn.
 Y tế
- Thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh cho nhân dân, tổng số lượt
khám chữa bệnh 5.988 lượt/5.051 lượt đạt 118%, ước thực hiện đến
31/12/2011 được 6.514 lượt đạt 129% kế hoạch.
- Khám bệnh cho người nghèo thực hiện 4.490 lượt; ước thực hiện 31/12
được 4.910 lượt; kê đơn cấp phát thuốc được 4.109 lượt; ước thực hiện 4.459
lượt. Khám bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi được 1.062 lượt; ước thực hiện 1.168
lượt. Kê đơn cấp thuốc 1.008 lượt; ước thực hiện 1.094 lượt. Đối tượng khác
113 lượt; ước thực hiện 127 lượt.
- Số trẻ dưới 1 tuổi tiêm đầy đủ 7 loại vắc xin 238/243 trẻ đạt 98% kế
hoạch ; Trẻ từ 1-> dưới 2 tuổi tiêm viêm não nhật bản mũi 1 + 2: 221; Trẻ từ
2-> dưới 3 tuổi tiêm viêm não mũi 3: 253.
- Chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản: Thực hiện tốt công tác quản
lý, khám cho phụ nữ có thai và điều trị các bệnh phụ nữ.
19


- Tổng số trẻ dưới 2 tuổi được quản lý: 484, được cân là 445; tỷ lệ suy
dinh dưỡng: 16,2%. Tổng số trẻ dưới 5 tuổi được quản lý: 1.139, được cân:
1.044; tỷ lệ suy dinh dưỡng: 16%.
- Tổng số lam máu gửi xét nghiệm 454/kế hoạch 500 đạt 91% kế hoạch,
dự kiến đến 31/12 đạt 477 đạt 95,4% kế hoạch.
- Số trẻ từ 6 - 60 tháng tuổi được uống Vitamin A: 1.020 trẻ; trẻ từ 24 60 tháng được uống thuốc tẩy giun: 626 trẻ.
- Chương trình phòng chống HIV/AIDS: Tổng số bơm kim tiêm cấp

- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền kỉ niệm hai năm thành lập huyện
Tân Uyên, đặc biệt chào mừng đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, kỷ niệm
ngày thành lập Đảng 3/2, mừng xuân Tân Mão, chào mừng cuộc bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016, trang
trí công sở và vận động nhân dân treo cờ tổ quốc.
- Tổ chức chiếu phim tuyên truyền đồng bào Mông không di dịch cư tự
do tại 2 bản Nà Nọi Mông, Nà Nọi Thái, tổng số hộ xem 103 hộ.
* Văn hoá, văn nghệ:.
Phối hợp cùng phòng Văn hoá thông tin huyện tổ chức đêm giao lưu văn
nghệ chào mừng ngày thành lập huyện 01/01/2011; tổ chức hội xoè chiêng tại
bản Chạm Cả và Huổi Luồng.
* Thể dục, thể thao
- Phối hợp với Hội Cựu chiến binh tổ chức giải bóng chuyền nam, gồm 7
đội tham gia. Tổ chức giao lưu bóng đá nam giữa bản Nà Nọi Mông và bản Nà
Nọi Thái; Tổ chức giải bóng chuyền nam, nữ chào mừng thành công Đại hội
Đảng các cấp và hướng tới kỷ niệm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam 30/4
và Quốc tế lao động 1/5 gồm 15 đội tham gia. Phối hợp với Hội phụ nữ tổ
chức giao hữu bóng chuyền nữ kỷ niệm ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, gồm 4 đội
tham gia và tổ chức 2 câu lạc bộ giao lưu văn nghệ vào tối 8/3. Tổ chức giải
cầu lông, cờ tướng dành cho Người cao tuổi với tổng số 18 vận động viên
tham gia. Chọn vận động viên tham gia giải bóng đá giao hữu giữa đội tuyển
thị trấn gặp đội tuyển Điện lực Tân Uyên.
- Thành lập 02 đội bóng chuyền nam, nữ thi đấu tại huyện chào mừng 02
năm thành lập huyện. Cử 9 vận động viên tham gia giải cờ tướng và thành
lập đoàn vận động viên thi đấu cầu lông tại huyện gồm 7 vận động viên. Thành
21


lập đội tuyển điền kinh thi đấu giải việt dã thanh niên lần thứ III tại huyện Tân
Uyên năm 2011 với tổng số 11 vận động viên tham gia, kết quả đạt giải nhất toàn


- Địa phương hỗ trợ 01 gia đình bị hoả hoạn tại khu 6, số tiền 500.000đ.
- Hội Chữ thập đỏ huyện tặng quà tết cho hộ nghèo, người có công, trẻ
em khuyết tật, số tiền 1.500.000đ, tặng riêng cho 4 gia đình chất độc da cam,
số tiền 4.000.000đ. Hội Chữ thập đỏ tỉnh Lai Châu hỗ trợ cho hộ nghèo, người
khuyết tật, người có công 19 xuất, số tiền 5.700.000đ.
- Tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng cho 14 đối tượng
đạt 100% kế hoạch. Trong đó: cai tập trung tại cộng đồng 05 đối tượng; cai tại
gia đình 09 đối tượng.
* Công tác xóa đói giảm nghèo
- Lập danh sách đề nghị UBND huyện công nhận hộ nghèo theo chuẩn
mới 535 hộ/2.582 khẩu; công nhận hộ cận nghèo 267 hộ/1.258 khẩu.
- Đề nghị cấp bổ sung 28 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo; đề nghị phòng lao
động thương binh và xã hội huyện chi trả hỗ trợ tiền điện quý I, II cho hộ
nghèo, tổng số 535 hộ/2.582 khẩu, số tiền 64.200.000đ; quý III: 533 hộ, 2.576
khẩu, số tiền 47.300.000đ; đề nghị hỗ trợ dầu thắp sáng cho người dân tộc
thiểu số 237 hộ, số tiền 1402 khẩu.
- Cấp tiền hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo năm 2010: 22 hộ, số tiền
184.800.000đ; cấp tiền hỗ trợ nhà vệ sinh 51 hộ, số tiền 51.000.000đ.
- Cấp gạo cho các hộ gia đình thuộc hộ nghèo: 387 hộ = 12 tấn; cấp thẻ
bảo hiểm cho hộ nghèo 1.490 thẻ.
- Rà soát, lập danh sách đề nghị phòng lao động thương binh xã hội
huyện hỗ trợ gạo giáp hạt cho hộ nghèo, tổng số 255 hộ/1.193 khẩu.

23


2.2.2. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
2.2.2.1. Hiện trạng môi trường nước
a. Nước mặt

Để khắc phục tình trạng này, năm 2013 ngoài việc củng cố, duy trì hoạt
động các công trình cấp NSH hợp vệ sinh, thị trấn tập trung thực hiện tốt các
dự án để đạt mục tiêu 77% dân số nông thôn được sử dụng NSH hợp vệ sinh,
trong đó 36% sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế; có 50% số hộ
nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn TC08. Về cấp nước và vệ
sinh cho các cơ sở công cộng: tăng thêm 3 trường học, nâng tỷ lệ trường học
được cấp nước và vệ sinh lên 90%; số trạm y tế xã được cấp nước và có nhà
tiêu hợp vệ sinh tăng thêm 4 trạm, nâng tỷ lệ trạm y tế được cấp nước và nhà
tiêu hợp vệ sinh bằng 92%; số chuồng trại được xử lý chất thải bảo đảm vệ
sinh lên 42% số hộ chăn nuôi. Tổng nguồn vốn cho Chương trình
NS&VSMTNT năm 2013 là 6.631 triệu đồng, trong đó, vốn Trung ương là
4.210 triệu đồng, vốn ngân sách thị trấn là 2.421 triệu đồng.
Trên cơ sở kế hoạch thực hiện, Trung tâm NSH&VSMTNT tiếp tục
phối hợp với các cấp, các ngành tập trung tăng cường cải thiện các dịch vụ cấp
nước sạch, vệ sinh; đẩy mạnh truyền thông, tuyên truyền nâng cao nhận thức,
thay đổi hành vi của cộng đồng về bảo vệ môi trường, vệ sinh công cộng và vệ
sinh cá nhân. Đáng chú ý, ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình cấp nước
cho các vùng sâu, vùng xa, vùng thường xuyên hạn hán, khó khăn về nguồn
nước; vùng nguồn nước bị ô nhiễm. Đồng thời, đa dạng hóa các loại hình công
nghệ cấp nước và vệ sinh thích hợp, cũng như công tác quản lý, khai thác và
sử dụng công trình sau đầu tư đã được nhiều địa phương áp dụng và sử dụng
hiệu quả, bền vững. Trong đó ưu tiên các giải pháp công nghệ phục vụ cho các
đối tượng nghèo, đồng bào thiểu số, những vùng dân cư tập trung, tận dụng
các công trình cấp nước hiện có để nâng cấp và mở rộng,tăng cường huy động
các nguồn lực đầu tư; kiểm tra, đánh giá lại toàn bộ các dự án cấp nước; nâng
cao chất lượng nguồn nước cung ứng; có biện pháp bảo vệ nguồn nước mặt;
tăng số lượng người dân sử dụng nước hợp vệ sinh, nước sạch...
Về chất lượng nguồn nước mặt không có dấu hiệu ô nhiễm. Nước đủ dùng
cho sinh hoạt tưới tiêu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status