ĐỂ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI BA XÃ KIM QUAN CẨM YÊN VÀ ĐẠI ĐỒNG - Pdf 75

ĐỂ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI BA XÃ KIM QUAN CẨM YÊN VÀ ĐẠI
ĐỒNG.
3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp.
Để đề xuất các giải pháp của một vấn đề mang tính chất quản lý, theo em cơ
sở của vấn đề ta nên đi từ lý luận đến thực tiễn.
Các giải pháp quản lý môi trường trước tiên cần phải đảm bảo:
- Bảo đảm tính hệ thống: trên cơ sở thu thập tổng hợp và xử lý thông tin về trạng
thái hoạt dộng của đối tượng quản lý đưa ra những quyết định quản lý phù hợp,
thúc đẩy các phần tử cấu thành hoạt động đều đặn, cân đối, hài hòa hướng tới mục
tiêu đã định.
- Bảo đảm tính tổng hợp: cần phải dựa trên cơ sở tác động tổng hợp của hoạt động
phát triển lên đối tượng quản lý. Các hoạt động phát triển thường diễn ra với dưới
nhiều hình thái rất đa dạng ( hoạt động sản xuất và hoạt động tiêu thụ, hoạt động
thương mại, hoạt động dịch vụ, hoạt động đầu tư, sinh hoạt vật chất và tinh thần
của các cộng đồng…). Trong khi hoạt định chính sách và chiến lược môi trường,
trong việc điều ra các quyết định quản lý môi trường, cần phải tính đến các tác
động và hậu quả của chúng.
- Bảo đảm tính nhất quán: môi trường là một hệ thống liên tục, tồn tại, hoạt động và
phát triển thông qua chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin “chảy” liên
tục trong không gian và thời gian. Từ đó phài nâng cao năng lực dự đoán và xử lý
tổng hợp cũng như bản lĩnh của quản lý vĩ mô của Nhà nước.
- Bảo đảm tính dân chủ: đây là một đặc tính cơ bản của của quản lý kinh tế và quản
lý xã hội. Quản lý môi trường được thực hiện nhiểu cấp khác nhau. Do đó cần bảo
đảm mối quan hệ chặt chẽ và tối giữa tập trung và dân chủ trong quản lý môi
trường.
- Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ: quản lý các thành phần môi trường
như không khí đất, nước, sông hồ, biển sinh vật các hệ sinh thái các khu dân cư,
khu sản xuất khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên,danh lam thắng cảnh.
Nếu không kết hợp quản lý các ngành theo thì sẽ giảm hiệu lực của hiệu quả quản
lý môi trường và tại nguyên thiên nhiên tiếp tục bị khai thác sử dụng không hợp lý

thống kênh mương, các hồ ao và khu chợ diễn ra thường xuyên ảnh hưởng trực tiếp
đến môi trường sống, làm ô nhiễm nguồn nước. Nguyên nhân của hiện tượng trên
là do ý thức của người dân và năng lực điều hành của chính quyền xã đối với việc
hướng dẫn, truyên truyền các quy định về bảo vệ môi trường có nhiều bất cập và
hạn chế đối với công tác bảo vệ môi trường
Để từng bước nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong xã hội, các tổ
chức, cá nhân coi sự nghiệp bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã
hội, cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Một là, Sớm nghiên cứu xây dựng và thực hiện Quy chế bảo vệ môi trường
cấp xã nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của địa phương, trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phù hợp với pháp luật về môi trường. Thiết
lập các cơ chế đảm bảo sự tham gia của cộng đồng nghèo trong quá trình xây dựng
và thực hiện chính sách, luật pháp và các quy định về môi trường trên địa bàn của
xã.
Hai là, Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về
bảo vệ môi trường trên thông tin đại chúng để nâng cao ý thức tự giác của nhân
dân về công tác bảo vệ môi trường, nhằm tạo điều kiện cho người dân tham gia xây
dựng chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực giám sát,
thực thi pháp luật của chính quyền địa phương.
Ba là, Xây dựng và ban hành và thực thi các chính sách, công cụ kinh tế trong
lĩnh vực bảo môi trường để thu hút vốn đầu tư, xã hội hoá công tác bảo vệ môi
trường, phát triển dịch vụ môi trường thông qua các quy định cấp xã.
3.2. Các giải pháp cụ thể.
Để thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi trường trong thời gian tới, trước
mắt cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Một là: Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động phối hợp triển khai ở các địa phương
trong triển khai xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định pháp luật về
bảo vệ môi trường, đồng thời đề nghị các xã sớm ban hành Quy chế bảo vệ môi
trường ở từng địa phương nhằm thực hiện tốt tinh thần Nghị quyết 41-NQ/TW
ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị, Chiến lược BVMT quốc gia đến

loại hình hài hòa giữa đói nghèo và bảo vệ môi trường của các nước trên thế giới,
đặc biệt là các nước có điều kiện sống của cộng đồng dân cư giống với địa phương.
Tám là: Chủ động lồng ghép các chương trình, dự án, nhiệm vụ phối hợp
giữa Chính quyền xã và các tổ chức đoàn thể trong các hội nghị sơ, tổng kết,
kiểm điểm thực hiện phát triển kinh tế - xã hội với nhau trên cùng một địa bàn
trong triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường với xoá đói giảm nghèo để hạn
chế sự trùng lặp. (Chương trình đa mục tiêu, kết hợp giữa bảo vệ môi trường với
các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội khác)
3.3. Các khuyến nghị đề xuất.
3.3.1 Lâm nghiệp và Thuỷ sản
- Tái nghèo vì không có sinh kế mới.
- Nguồn nước là vấn đề, nguồn sinh thủy cạn kiệt. Các dòng sông Tích, Đáy,
Nhuệ bị ô nhiễm nặng còn do ảnh hưởng xả thải từ Hà Nội và hàng trăm làng nghề
- Nghèo đói là vấn đề nan giải khó có thể xóa được trong ngắn hạn; trách nhiệm
là ở phía chính sách còn chưa phù hợp do trách nhiệm của các nhà quản lý
- Một số hộ nghèo có mặt nước để nuôi thủy sản nhưng do bị ô nhiễm bởi các cơ
sở sản xuất kinh doanh nên không thể nuôi trồng được
- Việc đánh bắt thủy sản trên các dồng sông như sông Đà, sông Hồng ngày càng
khó khăn do lượng nước sông thường xuyên cạn
- Nghề thủy sản trên các sông Nhuệ, Đáy không còn gì do ô nhiễm quá cao
3.3.2 Tài nguyên – Môi trường và Năng lượng tái tạo
- Thiếu nguồn nước: nhiều vùng chất lượng nước kém hay thiếu nước sinh hoạt.
Khu vực kinh tế khó khăn của tỉnh, người dân không có điều kiện trả tiền nước.
- Nguồn nước bị ô nhiễm, đặc biệt ở các làng nghề.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status