TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
CỘNGHÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHOA SAU ĐẠI HỌC
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2015
THAM LUẬN
CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO, ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ THEO QUY ĐỊNH CỦA
LUẬT ĐẦU TƯ 2014 NGÀY CÀNG RÕ RÀNG, MINH BẠCH HƠN SO VỚI
LUẬT ĐẦU TƯ 2005
Lớp: Cao học 21A Tối
Học Viên
Giảng Viên: Cô Thu Phương
- Nguyễn Khắc Kiên
- Phan Thị Làn
- Vương Thị Liên
- Lê Văn Long
- Nguyễn Thị Luyện
- Nguyễn Khánh Ly
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Trong những năm qua Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật
liên quan đến đầu tư như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến
khích đầu tư trong nước, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư năm 2005… nhằm tạo
nên một khung pháp lý quan trọng điều chỉnh các hoạt động đầu tư phù hợp với
đường lối, quan điểm của Đảng và thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội, phù hợp
với yêu cầu hội nhập; tạo môi trường thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
thuộc mọi thành phần kinh tế
Tuy nhiên trên thực tế những quy định hiện hành của Luật đầu tư vẫn
chưa thực hiện đúng nhiệm vụ và vai trò của mình khi các thủ tục pháp lý vẫn có
sự chồng chéo, phiền phức, mất nhiều thời gian, qua nhiều cơ quan đơn vị gây
tốn kém. Mặc dù rất nhiều chính sách kinh tế được thể hiện trong các văn bản
pháp luật ban hành trong những năm gần đây, nhưng chính sách thu hút đầu tư
vẫn còn thiếu bền vững. Các quy định hiện hành cũng chưa ưu tiên phát triển
đồng bộ các thị trường như thị trường bất động sản, thị trường công nghệ, thị
trường lao động, thị trường vốn. Thiếu chính sách, biện pháp khuyến khích phát
triển đối với sản xuất, thị trường trong nước, như thiếu chính sách phát triển các
ngành công nghiệp hỗ trợ. Điều này đã phần nào làm cho môi trường đầu tư của
Việt Nam thêm kém cạnh tranh với các nước trong khu vực. Thiếu khung pháp
lý phát triển các dịch vụ hỗ trợ làm gia tăng giá trị cho hàng hoá sản xuất tại
Việt Nam như các loại tư vấn, hỗ trợ pháp lý... đáp ứng yêu cầu và nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường khu vực và thế
giới.
Nước ta đã ký kết nhiều hiệp định song phương và đa phương liên quan
đến hoạt động đầu tư như những cam kết trong khuôn khổ AFTA, Hiệp định
khung về khu vực đầu tư ASEAN, Hiệp định thương mại song phương với Hoa
Kỳ, Hiệp định tự do, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản, Hiệp định
WTO và đang tích cực đàm phán gia nhập Hiệp điịnh TPP. Việc ký kết và thực
hiện các cam kết quốc tế trên một mặt đòi hỏi Việt Nam phải mở cửa thị trường,
hoạt động thu hút đầu tư có hiệu quả. Chúng ta cần đối xử một cách bình đẳng
giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Khi pháp luật thay đổi
phương thức thực hiện nghĩa vụ thì quyền nghĩa vụ tương ứng của nhà đầu tư
cũng bị thay đổi, khi đó lợi ích nhà đầu tư sẽ bị xâm phạm. Do đó cần có những
quy định rõ ràng và khả thi để chính sách đảm bảo đầu tư thúc đẩy sự nghiệp thu
hút đầu tư của nhà nước ta, đảm bảo sự công bằng cho các nhà đầu tư.
I.
Trên phương diện đảm bảo đầu tư:
-
Chúng tôi đưa ra một số dẫn chứng sau:
Theo Luật điều 11 Luật đầu tư 2005 quy định:
1. Trường hợp pháp luật, chính sách mới được ban hành có các quyền lợi
và ưu đãi cao hơn so với quyền lợi, ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng
trước đó thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi theo quy định
mới kể từ ngày pháp luật, chính sách mới đó có hiệu lực.
2. Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành làm ảnh hưởng bất lợi
đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước khi quy định của
pháp luật, chính sách đó có hiệu lực thì nhà đầu tư được bảo đảm hưởng
các ưu đãi như quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được giải quyết
bằng một, một số hoặc các biện pháp sau đây:
a) Tiếp tục hưởng các quyền lợi, ưu đãi;
b) Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế;
c) Được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án;
d) Được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.
3. Căn cứ vào quy định của pháp luật và cam kết trong điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ
thể về việc bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư do việc thay đổi pháp luật, chính
trong thu hút đầu tư. Cuộc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên thế
giới và khu vực đang diễn ra ngày càng gay gắt, các nước trong khu vực đang
cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư theo hướng tự do hóa đầu tư, thương mại,
làm cho hệ thống luật pháp về đầu tư nước ngoài thông thoáng thì hệ thống pháp
luật nước ta tạo ra nhiều rào cản, thủ tục hanh chính rườm rà, tốn kém không cần
thiết làm giảm dần tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực. Thực tế cho
thấy rằng Luật đầu tư vẫn chưa thể hiện chính sách ưu đãi, khuyến khích có tính
cạnh tranh và vẫn chưa có sự tương đương so với các nước trong khu vực nhằm
huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài
của mọi thành phần kinh tế.
Chúng tôi đưa ra một số dẫn chứng sau:
Trong LĐT 2005 thì ưu đãi đầu tư được quy định tại điều 33, 34,35,36,37.
Trong đó chỉ ưu đãi đầu tư đối với các lĩnh vực như:
-
Điều 33. Ưu đãi về thuế
6
1. Nhà đầu tư có dự án thuộc đối tượng quy định tại Điều 32 của Luật này
được hưởng thuế suất ưu đãi, thời hạn hưởng thuế suất ưu đãi, thời gian
miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
2. Nhà đầu tư được hưởng ưu đãi về thuế cho phần thu nhập được chia từ
hoạt động góp vốn, mua cổ phần vào tổ chức kinh tế theo quy định của
pháp luật về thuế sau khi tổ chức kinh tế đó đã nộp đủ thuế thu nhập doanh
nghiệp.
3. Nhà đầu tư được miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, vật tư, phương
tiện vận tải và hàng hóa khác để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam theo
quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
4. Thu nhập từ hoạt động chuyển giao công nghệ đối với các dự án thuộc
được miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất theo quy
định của pháp luật về đất đai và pháp luật về thuế.
-
Điều 37. Ưu đãi đối với nhà đầu tư đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế
7
Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ và các
nguyên tắc quy định tại Luật này, Chính phủ quy định những ưu đãi cho
các nhà đầu tư đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ
cao, khu kinh tế.
Trong Luật Đầu tư 2014 đã bổ sung các dự án được hưởng ưu đãi đầu tư rõ
ràng hơn, mới hơn so với Luật ĐT 2005 được thể hiện ở:
-
Áp dụng mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất
thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư,
miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (Theo khoản 1 điều 15)
Chính sách ưu đãi thuế so với thuế suất thông thường là phù hợp và tạo nên
sự bình đẳng, công bằng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì trên thực
tế, có một số doanh nghiệp nhà nước (thuộc loại phá gia chi tử) có trong tay
số vốn lớn (tiền chùa, chứ không phải tiền túi cá nhân ông Giám đốc) mà
còn tiếp tục đục khoét ăn vào vốn, phát sinh lỗ dài dài, không hề tạo ra hiệu
quả đầu tư nào. Do vậy, ta cần trả công đãi ngộ xứng đáng cho nhà đầu tư
dám bỏ tiền của ra, góp phần xây dựng đất nước và thông qua hoạt động
đầu tư: góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, cải thiện hình
ảnh VN, đào tạo nhân tài cho VN, góp phần phát triển đất nước.
Tại điều 16 của LĐT 2014 cũng quy định rõ ràng hơn LĐT 2005 về ngành
nghề đc hưởng ưu đãi đầu tư. (Theo điều 37 luật 2005 chỉ nói chung đối
với các nhà đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao;
khu kinh tế, còn LĐT 2014 chỉ rõ từng ngành, nghề được hưởng ưu đãi đầu
tư như;
a) Hoạt động công nghệ cao, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao;
hoạt động nghiên cứu và phát triển;
b) Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái
tạo; sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng từ 30% trở lên, sản phẩm tiết
kiệm năng lượng;
c) Sản xuất sản phẩm điện tử, sản phẩm cơ khí trọng điểm, máy nông
nghiệp, ô tô, phụ tùng ô tô; đóng tàu;
d) Sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may, da giày và
các sản phẩm quy định tại điểm c khoản này;
đ) Sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, phần mềm, nội dung số;
e) Nuôi trồng, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; trồng và bảo vệ rừng;
làm muối; khai thác hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá; sản xuất giống cây
trồng, giống vật nuôi, sản phẩm công nghệ sinh học;
g) Thu gom, xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng chất thải;
h) Đầu tư phát triển và vận hành, quản lý công trình kết cấu hạ tầng; phát
triển vận tải hành khách công cộng tại các đô thị;
i) Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp;
k) Khám bệnh, chữa bệnh; sản xuất thuốc, nguyên liệu làm thuốc, thuốc
chủ yếu, thuốc thiết yếu, thuốc phòng, chống bệnh xã hội, vắc xin, sinh
phẩm y tế, thuốc từ dược liệu, thuốc đông y; nghiên cứu khoa học về công
nghệ bào chế, công nghệ sinh học để sản xuất các loại thuốc mới;
l) Đầu tư cơ sở luyện tập, thi đấu thể dục, thể thao cho người khuyết tật
hoặc chuyên nghiệp; bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
m) Đầu tư trung tâm lão khoa, tâm thần, điều trị bệnh nhân nhiễm chất độc