PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm vừa qua vùng ven biển Việt Nam đặc biệt là Nam Định, Thái
Bình, Thanh Hóa… chịu sự tác động dôn dập của các cơn bão to. Sức tàn phá
của những cơn bão không những gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, xã hội, con
người mà còn gây nỗi bang hoàng không chỉ những hộ dân ven biển mà nhân
dân trong cả nước. Tuy nhiên tại nhiều vùng (như Giao Thủy) mặc dù hệ thống
đê điều chỉ có thể chịu được những cơn bão gió cấp 6, cấp 7. Trong khi sức gió
của những cơn bão giật trên cấp 12 thì hệ thống đê Trung ương không bị vỡ, hệ
thống đê biển chỉ sạt lở và vỡ một số đoạn. Điều kì diệu này xảy ra là do những
cánh rừng ngập mặn tươi tốt đã tạo thành “bức tường xanh” ngăn chặn bàn tay
hung dữ của biển cả. Sự tồn tại im lặng bao nhiêu năm của rừng ngập mặn đến
bây giờ mới được mọi người quan tâm.
Ngoài ra trong những năm vừa qua, ngoài tác động của gió bão thì nhều
vùng nuôi trồng thủy sản bị thất thu trên diện rộng. Môi trường ao nuôi bị ô
nhiễm, tôm chết hàng loạt. Nuôi trồng hải sản không còn là “xóa đói giảm
nghèo” cho người dân mà đã biến người dân có nguy cơ trở thành con nợ. Cùng
với điều kiện nuôi như vậy thì nhiều đầm nuôi sinh thái (nuôi tôm kết hợp với
trồng rừng ngập mặn) thì nuôi trồng hải vẫn mang lại hệu quả kinh tế ổn định và
có xu hướng ngày càng tăng. Đây là bài học lớn cho các hộ nuôi hải sản. Mặt
khác theo dữ liệu thống kê từ Indonesia ước tính 20% trại nuôi tôm ở những địa
điểm vốn là rừng ngập mặn tại Vịnh Thái Lan bị phế bỏ chỉ sau từ 2 đến 4 năm,
và việc nuôi tôm ở đó cũng đang chuyển dịch sang cây trồng khác nhưng không
hiệu quả, các trang trại dịch quá về phía nam, để lại những vùng đất hoang phế
không được sử dụng. Một tình hình tương tự tiềm tàng ở Việt Nam, mà mới đây
là ở Tiền Hải (Thái Bình). Đây là một vấn đề nan giải đối với kế hoạch phát
triển thủy sản của Nhà Nước
Với những sự thiệt hại ở nhiều vùng ven biển có điều kiện khác nhau như
vậy mà đông đảo mọi người mới nhìn nhận lại tầm quan trọng của Rừng ngập
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Là hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, môi trường của HST- RNM mà chủ yếu
là hiệu quả về mặt kinh tế tại địa bàn xã Giao An- Giao Thuỷ- Nam Định
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi thời gian
- Số liệu thứ cấp thu thập qua 3 năm từ 2007- 2009
- Số liệu sơ cấp thu thập qua điều tra phỏng vấn người dân trong xã năm
2010
1.4.2 Phạm vi không gian
Đề tài nhằm tập trung nghiên cứu trên địa bàn xã Giao An huyện Giao
Thuỷ tỉnh Nam Định.
1.4.3 Phạm vi nội dung
Nghiên cứu sự ra đời và phát triển của HST- RNM và hiệu quả của nó đối
với kinh tế- xã hội- môi trường của vùng
PHẦN II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về HST- RNM
2.1.1.1 Khái niệm về HST- RNM
Hệ sinh thái (HST) là khái niệm chỉ về một phức hợp bao gồm thực vật,
động vật và vi sinh vật với nhân tố môi trường hợp lí của một vùng xác định mà
ở đó có sự tương tác giữa các sinh vật với nhau và giữa sinh vật với môi trường
sống thông qua các dòng năng lượng và các chu trình vật chất.
Hệ sinh thái- rừng ngập mặn (HST- RNM) là một hệ sinh thái mà trong đó
có mối quan hệ tương tác giữa các cây ngập mặn, quần xã sinh vật, loài lưỡng
cư… với môi trường ngập mặn
2.1.1.2 Đặc điểm của HST- RNM
Nằm giữa đất liền và biển, rừng ngập mặn là một hiện tượng tự nhiên, là
nguồn tài nguyên quý báu vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới và á nhiệt đới.
vật ăn mùn bã làm mồi cho các loìa cá lớn và một số động vật ăn thịt khác. Do
đó thành phần hệ động vật trong rừng ngập mặn phong phú và đa dạng.
Điều đáng quan tâm là nguồn giống tôm, cua, cá trong vùng rừng ngập mặn
rất phong phú. So sánh thành phần loài các loài các và tôm trong một số vùng có
rừng ngập mặn vào các mùa vụ trong năm đều thấy số lượng ấu trùng của chúng
cao hơn hẳn so với các vùng đất, cát ở ngoài biển.
HST- RNM đã duy trì nguồn dinh dưỡng giàu có đảm bảo cho sự phát triển
các loài sinh vật ngay trong rừng ngập mặn. Vì thế mà tại đó những dải ven biển
hình thnàh những ngư trường lớn trong đất liền.
* Hai là HST- RNM là môi trường sinh sống, cư chú của nhiều loài động
thực vật và bảo vệ nguồn gen quý hiếm
HST- RNM còn là nơi cư chú quan trọng của vô số những loài bò sát, động
vật có vú và chim, nhiều loài trong số đó bị đe doạ hoặc gần ngưỡng bị đe doạ
trên toàn cầu, và luôn đứng trước nguy cơ mất nơi ẩn náu. Những loài bò sát
trong rừng ngập mặn thuộc diện cần bảo tồn bao gồm: kỳ đà, cá sấu cửa sông…
Những vùng sình lầy dọc bờ biển này rất quan trọng đối với nhiều loài
chim đặc biệt là chim nước di trú. Những khu rừng ngập mặn vẫn còn mang nét
nguyên thuỷ chưa bị khai phá nhiều đã thành nơi và đã thu hút nhiều loài chim
mà đã từ lâu không còn xuất hiện.
Nếu HST- RNM còn duy trì và giữ được cân bằng thì sẽ trở thành nơi bảo
tồn nguồn gen quý hiếm góp phần làm tăng đa dạng sinh học cho hệ sinh thái
đầy sức sống này.
* Ba là hệ sinh thái này giúp điều hoà khí hậu, mở rộng diện tích bãi bồi,
hạn chế xói lở
Rừng ngập mặn có tác động đến điều hoà khí hậu trong vùng. Các quần xã
rừng ngập mặn là một tác nhân làm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối
đa và biên độ nhiệt. Nếu mất rừng ngập mặn sẽ ảnh hưởng đến lượng mưa của
tiểu khu vực.
khai thác cũng vì thế tăng cao. Không cần tập trung nhiều lao động, vốn như
đánh bắt ngoài khơi, khai thác hải sản trong rừng ngập mặn mở rộng cơ hội
kiếm sống cho tất cả mọi người: phụ nữ, trẻ em, người trung tuổi, người ít vốn
lẫn người nhiều vốn. Ngoài ra người dân còn có thể kiếm củi gỗ, khai thác
nguồn mật hoa, dược liệu, cũng nhưcác giá trị sử dụng khác từ những cây ngập
mặn trong rừng. Một giá trị kinh tế quan trọng mà rừng ngập mặn đem lại là tạo
môi trường thuận lợi cho phát triển nuôi trồng hải sản giúp nhiều hộ dân thoát
nghèo, tăng thu nhập một cách nhanh chóng. Địa phương nào có kế hoạch đầu
tư thì có thể phát triển du lịch sinh thái góp phần tăng thêm thu nhập cho các hộ.
2.1.1.4 Một số chủ trương chính sách của Đảng, Chính Phủ về rừng ngập mặn
Việt Nam đã ban hành nhiều luật liên quan đến quyền sở hữu đất đai, tài
nguyên rừng và việc bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên, trong đó có tài
nguyên rừng. Các luật chủ yếu là:
Luật đất đai ban hành năm 1988, sửa đổi bổ sung năm 1993, 1998, 2003
Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, sửa đổi năm 2004 đề cập tới
quyền sở hữu rừng của công đồng
Luật bảo vệ môi trường năm 1993
Dưới luật có các nghị định, quyết định quan trọng chủ yếu của Chính phủ
như:
Quyết định số 01/CP ban hành năm 1995 về việc giao khoán đất nông,
lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước.
Nghị định só 163/1999/NĐ-CP của Chính phủ về giao đất và cho thuê đất
lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
vào mục tiêu lâm nghiệp.
Quyết định số 611/QĐ- TTg của Thủ tướng chính phủ về mục tiêu, nhiệm
vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng.
Quyết định số 08/2001/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ về qui chế quản
lí các loại rừng là: rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản
b/ Khái niệm và phân loại hiệu quả kinh tế
Quan điểm chung cho rằng hiệu quả kinh tế là 1 phạm trù kinh tế phản
ánh mặt chất của các hoạt động sản xuất. Mục tiêu của sản xuất là đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thàn của toàn xã hội, khi nguồn lực sản
xuất xã hội ngày càng trở nên khan hiếm. Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là 1
đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Mục tiêu lâu dài của người sản
xuất kinh doanh là không ngừng tìm mọi biện pháp để tối đa hoá lợi nhuận.
Muốn đạt được mục tiêu trên các nhà sản xuất đặc biệt quan tâm tới hiệu quả
kinh tế. Vấn đề hiệu quả kinh tế không chỉ là mối quan tâm riêng của các nhà
sản xuất, mà là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Khi bàn về hiệu quả kinh tế
có nhiều quan điểm khác nhau nhưng có 1 số quan điểm chủ yếu sau:
*) Quan điểm 1: HQKT là chỉ tiêu tông hợp nhất về chất lượng ủa sản xuất
kinh doanh. Nội dung của nó so sánh kết quả sản xuất đạt được với chi phí bỏ ra.
Phương pháp này có ưu điểm là phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các
nguồn lực, xem xét được 1 đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết
quả, hoặc 1 đơn vị kết quả cần tiêu tốn bao nhiêu đơn vị nguồn lực, giúp so sánh
được hiệu quả sản xuất ở các quy mô khác nhau.
*) Quan điểm 2: HQKT trên quan điểm thị trường
Hầu hết các nguồn lực sản xuất đều thuộc dạng khan hiếm, trong khi đó
nhu cầu của con người không ngừng tăng nhanh về cả số lượng và chất lượng.
Do vậy vấn đề đặt ra là phải tiết kiệm nguồn lực, từng bước nâng cao hiệu quả
sử dụng các nguồn lực nói chung, trước hết mỗi quá trình sản xuất phải lựa chọn
đầu vào tối ưu. Nâng cao HQKT có nghĩa là nâng cao trình độ sử dụng nguồn
lực, nó quan hệ chặt chẽ với việc tổ chức sử dụng năng lực sản xuất hiện có.
Một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả khi mức sản xuất nằm trên đường cong
năng lực sản xuất. Điểm có hiệu quả nhất là điểm cho phép sản xuất tối đa các
hàng hoá theo yêu cầu của thị trường và sử dụng đầy đủ, hợp lí năng lực sản
xuất của doanh nghiệp.
* Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân thành 3 loại: hiệu quả
kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường. Chúng có mối quan hệ tác động
qua lại lẫn nhau:
+ Hiệu quả kinh tế được thể hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa
lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra. Một phương án hay, một giải
pháp kĩ thuật quản lí có hiệu quả kinh tế cao là một phương án đạt được tương
quan tương đối giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư. Khi xác định HQKT phải
xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối và
đại lượng tuyệt đối. HQKT ở đây được biểu hiện bằng tổng giá trị sản phẩm,
tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, mối quan hệ đầu vào - đầu ra.
+ Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh về mặt xã hội như: tạo công
ăn việc làm, tạo thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội trong cộng đồng, cải
thiện đời sống ở nông thôn, xoá đói giảm nghèo v.v…
+ Hiệu quả môi trường: đánh giá sự tác động của phương án sản xuất đến
tài nguyên và môi trường sinh thái. Xem xét việc sử dụng taì nguyên và các
ngoại ứng của hoạt động sản xuất trong mối quan hệ vừa đảm bảo nhu cầu trước
mắt mà không làm phương haị đến khả năng bảo đảm nhu cầu cho thế hệ tương
lai. Hiệu quả môi trường được đánh giá bằng các chỉ tiêu định tính như: sự đa
dạng về sinh học, sự cân bằng sinh thái, độ xói mòn của đất, lũ lụt, độ che phủ
mặt đất…
Trong các loại hiệu quả được xem xét thì hiệu quả kinh tế là trọng tâm và
quyết định nhất. HQKT được nhìn nhận đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ
nhất khi có sự kết hợp hài hoà với hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
* Nếu căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất và hướng tác động vào sản
xuất thì có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành các loại:
+ Hiệu quả sử dụng đất đai
+ Hiệu quả sử dụng vốn
+ Hiệu quả sử dụng lao động
bao nhiêu đơn vị sản phẩm, hoặc tăng thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm
+ Hiệu quả phân bổ: Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu
tố giá sản phẩm và giá đầu vào được đưa vào tính toán, để phản ánh giá trị sản
phẩm thu thêm trên 1 đơn vị chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất
của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kĩ thuật có tính đến các yếu tố về giá đầu vào
và giá đầu ra. Việc xác định hiệu quả phân bổ giống như xác định các điều kiện
về lý thuyết biên để tối đa hoá lợi nhuận, có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm
phải bằng giá trị biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất.
+ Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả
kĩ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả yếu tố hiện vật và yếu tô giá
trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng nguồn lực. Chỉ khi nào việc sử dụng
nguồn lực đạt cả hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới
đạy hiệu quả kinh tế. Sự khác nhau về hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp có
thể do sự khác nhau giữa hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân bổ.
Như vậy, qua phân tích và các cách phân loại như trên, chúng ta thấy rằng
tuy có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất ở
bản chất của nó. Người sản xuất muốn thu được lợi nhuận thì phải bỏ ra những
chi phí nhất định như nhân lực, nguyên vật liệu, vốn…, so sánh kết quả đạt được
và chi phí bỏ ra để đạt kết quả sẽ có kiệu quả kinh tế, chênh lệch càng cao thì
hiệu quả kinh tế càng lớn. ( Vũ Thị Hằng, 2006).
2.1.3.2 Bản chất của HQKT
HQKT được xem xét trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội, hiệu quả môi
trường và phát triển bền vững, với hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân bổ. Trong
mối quan hệ với hiệu quả xã hội thì HQKT chu yếu là phản ánh về mặt hiệu quả
sản xuất còn hiệu quả xã hội phản ánh tương quan so sánh giữa kết quả đạt được
về mặt xã hội với chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả đó. Những hiệu quả đạt
được về mặt xã hội bao gồm các vấn đề như: Tạo việc làm cho người lao động,
cải thiện đời sống, giải thích thỏa đáng các lợi ích trong xã hội cải thiện điều
đánh giá HQKT của các tiến bộ kinh tế ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp nói
chung là mức tăng them các kết quả sản xuất và mức tiết kiệm về chi phí lao
động xã hội.
2.1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến HQKT HST- RNM
Với cách tính HQKT là H= Q/C dễ dàng nhận ra có hai nhóm yếu tố làm
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đó là: nhóm yếu tố cấu thành ảnh hưởng đến tử
số (Q) và nhóm yếu tố cấu thành ảnh hưởng đến mẫu số (C).
- Nhóm yếu tố cấu thành ảnh hưởng đến tử số (Q)
Nhóm này thể hiện giá trị sản phẩm của 1 quá trình sản xuất, nó phụ thuộc
vào giá bán và sản lượng hàng hóa sản xuất ra.
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến giá bán như: Thị phần của sản phẩm, chất
lượng sản phẩm, thời điểm bán sản phẩm, kênh tiêu thụ sản phẩm, quy cách,
tính chất của sản phẩm, chiến lược của nhà sản xuất, thị hiếu của người tiêu
dung, chính sách phát triển của đất nước cũng như các đối thủ cạnh tranh…
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm: Hình thức và rủi ro
trong vận chuyển, điều kiện tự nhiên (đặc biệt là đối với sản phẩm ngành thủy
sản), thị trường tiêu thụ và hình thức bảo quản…
- Nhóm yếu tố cấu thành ảnh hưởng đến mẫu số (C)
Trong quá trình sản xuất, đây là tập hợp tất cả các chi phí nguồn lực đầu
vào và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lực đó. Các chi phí cơ bản phục vụ sản
xuất thường có: nguyên vật liệu, sức lao động, nhà xưởng và công nghệ… tuy
nhiên chi phí cho mỗi nguồn lực lại chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác
nhau, cụ thể là:
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khấu hao tài sản cố định như: Đặc điểm vùng
sinh thái, tính hiện đại của công nghệ, giá thành lắp ráp, thời gian sử dụng, nhà
cung cấp…
+ Chi phí lao động phục vụ sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như:
Sức lao động, trình độ lao động, thị trường lao động, chiến lược đào tạo lao
hội- môi trường có ý nghĩa rất quan trọng. Muốn nâng cao HQKT thì một trong
những vấn đề cốt lõi là phải tiết kiệm nguồn lực.
Nâng cao HQKT là tất yếu của sự phát triển xã hội, tuy nhiên ở các địa vị
khác nhau thì có những quan tâm khác nhau. Đối với người sản xuất thì nâng
cao hiệu quả chính là giúp họ tăng lợi nhuận, đối với người tiêu dung thì tăng
hiệu quả chính là họ được sử dụng sản phẩm hang hóa với giá thành ngày càng
hạ và chất lượng ngày càng được tốt hơn. Nâng cao hiệu quả sẽ làm cả xã hội có
thuận lợi hơn, lợi ích của cả người sản xuất và người tiêu dùng ngày càng được
tăng lên.
Tóm lại, nâng cao HQKT nói chung và HQKT của HST- RNM có ý nghĩa
rất quan trọng. Đây là vấn đề trọng tâm của toàn xã hội, nâng cao hiệu quả giúp
cho cả xã hội có lợi hơn. Người sản xuất và người tiêu dùng có lợi nên họ dều
quan tâm chú ý
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.2.1 Tình hình phát triển của HST- RNM trên thế giới và Việt Nam
2.2.1.1 Tình hình phát triển của HST- RNM trên thế giới
Rừng ngập mặn có thể mọc tốt ở những vùng có khí hậu nóng và ẩm,
không sống được ở vùng lạnh.
Trên thế giới có khoảng 16.667.000 ha rừng ngập mặn với hơn 100 loài
cây, trong đó ở châu Á nhiệt đới và châu Úc là 7.487.000 ha (Hồng, Sản, 1995).
Hai nước có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất thế giới là Indonesia và Brazil,
kích thước cây cũng rất lớn. Ở Ecudor (Nam Mĩ) có cây cao đến 64m. Ở các
nước Đông Nam Á như Malaysia, Philippin, Thái Lan, Việt Nam rừng ngập mặn
phát triển vì nơi đây có nhiều điều kiệnn thuận lợi như nhiệt độ cao, ít biến
động, lượng mưa dồi dào, bãi lầy rộng, giàu chất mùn và phù sa.
Hiện nay dân số tăng quá nhanh nhất là ở những nước đang phát triển rừng
ngập mặn bị khai thác quá mức để sử dụng trong sinh hoạt hoặc dùng vào các
mục đích kinh tế khác. Do vậy mà diện tích rừng trên thế giới đang bị thu hẹp
2.2.2.1 Đánh giá chung về giá trị kinh tế của HST – RNM
Do những vai trò quan trọng mà HST- RNM đem lại mà việc đánh giá giá
trị kinh tế trực tiếp và gián tiếp sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về
tầm quan trọng của HST- RNM. Theo Phan Nguyên Hồng, Hoàng Thị Sản
(1984- 1993) các loài cây ngập mặn ở Việt Nam đã được thống kê và sắp xếp
theo các giá trị trực tiếp sau:
1 loài cây cho đường để sản xuất nước giải khát và cồn
30 loài cây cho than, gỗ, củi
14 loài cây cho Tamin
24 loài cây cho phân xanh, cải tạo hoặc giữ đất
21 loài cây làm cây dược liệu
9 loài cây làm chủ thả cánh kiến đỏ
21 loài cây cho mật nuôi ong
Hiện nay những giá trị trực tiếp của rừng ngập mặn đối với nền kinh tế cua
Việt Nam chủ yếu là: than, củi sau đó mới đến gỗ. Tại miền Bắc Việt Nam, rừng
ngập mặn sinh trưởng xấu hơn ở miền Nam rõ rệt, cây ngập mặn ở trong rừng
thường không cao quá 10m, nên giá trị trức tiếp của rừng ngập mặn chư yếu chỉ
là củi với năng suất không cao.
Trong những năm 1936- 1940 trên diện tích là 150000 ha rừng ngập mặn ở
bán đảo Cà Mau đã có 8 khu kinh doanh ổn định với tổng diện tích là 149982
ha, cung cấp hàng năm 1035000 stere củi, 72903 tấn than và 10040 m3 gỗ
(Maurand, 1943).
Từ năm 1985 trở về trước, ở miền Nam đã sản xuất Tamin từ vỏ cây đước
và cây đâng, ở miền Bắc để cung cấp cho ngành thuộc da. Từ năm 1985 trở lại
đây, công việc sản xuất Tamin từ vỏ cây ngập mặn hầu như không còn hoạt
động nữa.
Rừng ngập mặn cung cấp cho con người những ngư trường lớn trong đất
liền ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng. Một mối quan hệ tương
giúp các hộ trong cộng đồng ven biển hiểu rõ quyền lợi của họ dù là trực tiếp
khai thác hay lợi ích gián tiếp dưới dạng phúc lợi xã hội đều gắn liền với việc
phát triển bền vững nguồn lợi và họ sẽ thấy rõ trách nhiệm của mình hơn trong
các hoạt động này.
2.2.2.2 Vai trò cuả HST- RNM đối với hiệu quả KT- XH- MT ở Việt Nam.
Các vùng ven biển rừng ngập mặn thường là nơi xa đô thị, thị trấn, đất thấp,
lầy lội, nhiều muỗi, đường xá giao thông trắc trở, dân cư phân bố thưa,trình độ
dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém. Tất cả các tính chất trên đã ảnh hưởng đến
nhận thức và sự hiểu biết nông cạn về giá trị tài nguyên và môi trường. con
người dựa vào sức lao động của mình khai thác tự nhiên một cách tùy tiện vì lợi
ích trước mắt. Không những thế tại các vùng này hình thức phát triển theo chiều
rộng – tăng sản lượng nhờ khai thác ngày càng nhiều tài nguyên đã đưa các tài
nguyên này đến giới hạn khai thác khác.
Điển hình như trước đây hàng loạt rừng ngập mặn bị phá đi làm đầm muối
nhưng sau một vài năm thu nhập từ muối rất thấp chỉ từ 80.000-100.000đ. Và
người dân đã bổ hàng loạt đồng muối đi. Những đồng đó bị măn hóa quá trở
thành đồng hoang khó có thể đưa vào chuyển đổi sang hướng khai thác khác.
Khi có phong trào phá rừng nuôi tôm thì rừng ngập mặn càng bị thu hẹp.
việc khai hoang nuôi tôm mỗi năm cướp đi hàng ngàn ha rừng ngập mặn ở Cà
Mau. Tôm sống được vài vụ thì cả một vùng sinh thái bị tàn phá. Mâu thuẫn gay
gắt giữa nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt và nhu cầu khai thác ngày càng
tăng.
Các vùng ven biển trong đó có rừng ngập mặn đã đóng góp 1% trong tổng
thu nhập quốc dân. Điều này khiến chúng ta nhìn nhận vai trò của các hộ dân.
Nhưng nếu trước đây nguồn lợi tử HST – RNM không đem lại nguồn thu nhập
chính cho các hộ thì tử năm 1997 sau hàng loạt dự án trồng rừng ngập mặn do
Hội chữ thập đỏ Đan Mạch, Nhật Bản, Quỹ nhi đồng Anh… tài trợ thì vai trò
của nó trong thu nhập của hộ ngày càng được khẳng định.
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Giao An là một xã đồng bằng ven biển thuộc huyện Giao Thuỷ tỉnh Nam
Định cách trung tâm huyện 12km về phía Tây và có vị trí tiếp giáp sau:
- Phía Bắc giáp xã Giao Thanh
- Phía Tây giáp xã Giao Lạc
- Phía Đông giáp xã Giao Thiện
- Phía Nam giáp Vườn quốc gia Xuân Thuỷ
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Giao An nằm trong khu vực cửa sông Ba Lạt và được phù sa sông Hồng bồi
đắp quanh năm. Địa hình nơi đây gồm 2 phần: đồng bằng ven biển và bãi triều.
Đồng bằng ven biển được cấu tạo bởi trầm tích sông biển. Đồng bằng bên ngoài
nhìn bằng phẳng đơn điệu nhưng lại có những điểm phức tạp có lịch sử phát
triển khác nhau nên bao gồm 3 loại đất: đất trung, đất cao, đất thấp do sự bồi đắp
không đều. Bãi triều được hình thành từ đê Trung ương, bao gồm: Cồn Ngạn,
thềm biển, lạch sông, lạch triều.
3.1.1.3 Đặc điểm thời tiết, khí hậu thuỷ văn
Vùng ven biển xã Giao An nằm trong miền nhiệt đới gió mùa, khí hậu phân
thành 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng từ thánh 4 đến tháng 10 trùng với mùa mưa. Mùa
lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau trùng với mùa khô.
- Về chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 24 độ C, nhiệt độ cao nhất trong
mùa hè 40,3 độ C, nhiệt độ thấp nhất trong mùa đông 6,8- 8 độ C, độ ẩm trung
bình 84%.
- Lượng mưa trung bình năm 1700- 1800mm; số ngày mưa trong năm là
133 ngày
khai thác đất chưa sử dụng đem vào làm đất nông nghiệp, cụ thể là đưa vào sử
dụng trồng cây lâu năm, lúa. Đất trồng cây hàng năm có diện tích rất lớn 443 ha
chiếm 72,7% và không thay đổi nhiều trong năm 2009, tốc độ tăng bình quân
chung là 2,1%.
Đất trồng cây hàng năm bao gồm 2 loại đất chính là đất trồng lúa và đất
trồng cây hàng năm khác, trong đó diện tích đất lúa chiếm 100% năm 2007.
Trước đây Giao An còn rất nhiều đất chưa sử dụng đến năm 2008 đã đưa vào cơ
cấu trồng lúa. Đây là điều rất quan trọng khi mà diện tích đất nông nghiệp đang
ngày càng giảm dần. Trong năm 2008 ngoài 7,2 ha tăng lên trong diện tích trồng
lúa còn 10,1 ha đất chưa sử dụng vào trồng cây hàng năm. Những diện tích
ngoài lúa mới đưa thêm này chủ yếu sang trồng cây cảnh và cây hoa hòe đều là
những cây có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên diện tích trồng lúa vẫn chiếm 97,8%
tương ứng 450,3 ha năm 2008, diện tích trồng cây hàng năm khác (như 1 số diện
tích nhỏ trồng rau vụ đông: bí xanh, súp lơ, cà chua) từ không có nay đã chiếm
2,2% và qua năm 2009 không có sự biến động Đất có mặt nước nuôi trồng thủy
sản chiếm tỉ lệ tương đối lớn rất phù hợp với các vùng ven biển. Qua 2 năm
2007- 2008 không đổi vẫn giữ nguyên là 115 ha chiếm trên 18%. Đến năm 2009
thì 6,7 ha đất mặt nước chưa sử dụng được đưa vào nuôi trồng thủy sản. Và đây
là loại đất có tốc độ tăng cao nhất qua các năm trung bình 2,8% và cao nhất năm
2009 tăng 5,8%. Đây là kết quả tất yếu của công cuộc chuyển đổi cơ cấu đất đai
sang mục đích sử dụng khác có giá trị kinh tế cao hơn.
Trong tổng diện tích tự nhiên thì đất chuyên dùng và đất ở tăng nhẹ ở năm
2008 và ổn định ở năm 2009.
Đất chưa sử dụng trước đây phần lớn là đồng cỏ và mặt nước, nếu như năm
2007 còn chiếm tương đối lớn 4,6% tương ứng 37 ha. Nhưng đến năm 2008 nhờ
chuyển dịch cơ cấu sang trồng lúa và trồng cây hàng năm đã giảm mạnh 57,1%
xuống 16 ha. Đến năm 2009 thì lại giảm đi chỉ còn 9 ha chiếm 1,2%, bình quân
mỗi năm giảm 49,9%. Đây là sự chuyển hướng tích cực nhất trong khi diện tích