Nghiên cứu khả năng phục hồi rừng trên đất sau canh tác nương rẫy tại huyện chợ đồn tỉnh bắc kạn - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––––––––––

TRƯƠNG QUỐC HƯNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHỤC HỒI RỪNG TRÊN ĐẤT
SAU CANH TÁC NƯƠNG RẪY TẠI HUYỆN CHỢ ĐỒN,
TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60. 62. 02. 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. LÊ SỸ TRUNG
2. ThS. NGUYỄN THỊ THU HOÀN

Thái Nguyên, 2012


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của bản thân tôi, công trình
được nghiên cứu trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2012. Các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực, khách quan
và chưa được công bố.
Thái Nguyên, ngày tháng 9 năm 2012
Người cam đoan



MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... i
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................... 2
2.1. Mục tiêu về lý luận..................................................................................... 2
2.2. Mục tiêu thực tiễn ...................................................................................... 2
3. Ý nghĩa của đề tài.......................................................................................... 2
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU.................................................... 3
1.1. Một số khái niệm liên quan được sử dụng trong đề tài.............................. 3
1.2. Các nghiên cứu liên quan trên thế giới và Việt Nam................................. 5
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới.......................................................... 5
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ........................................................ 10
1.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu................................................................ 20
1.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu ................................................ 21
1.3.2. Điều kiện kinh tế xã hội ........................................................................ 25
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU............................................................................................... 30
2.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 30
2.2. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................. 30
2.3. Nội dung nghiên cứu................................................................................ 30
2.3.1. Hiện trạng rừng và đất rừng tại khu vực nghiên cứu ............................ 30
2.3.2. Xác định các đặc điểm phản ảnh khả năng phục hồi rừng trên đất sau
canh tác nương rẫy .......................................................................................... 30
2.3.3. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng trên đất sau canh
tác nương rẫy................................................................................................... 30
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 30
2.4.1. Phương pháp kế thừa các số liệu thứ cấp.............................................. 30
2.4.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm.............................................................. 31



v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- ÔTC: Ô tiêu chuẩn
- ÔDB: Ô dạng bản
- D1.3: Đường kính thân cây ở vị trí cách mặt đất 1,3 m
- Hvn: Chiều cao vút ngọn
- PTLS: Phương thức lâm sinh
- DTR: Diện tích rừng``
- VĐTQHR: Viện điều tra quy hoạch rừng
- UBND: Ủy ban nhân dân
- TTV: Thảm thực vật
- TPCG: Thành phần cơ giới
- FAO: Food and Agriculture Organization of the United
Nations - Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên
Hiệp Quốc.


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Phương Viên và xã Rã Bản
năm 2010............................................................................................... 26
Bảng 3.1. Hiện trạng rừng và đất rừng của huyện Chợ Đồn .......................... 37
Bảng 3.2. Tổ thành và mật độ cây gỗ trạng thái IIa........................................ 42
Bảng 3.3. Chỉ số đa dạng sinh học loài cây ở xã Phương Viên...................... 43
Bảng 3.4. Chỉ số đa dạng loài cây ở xã Rã Bản.............................................. 44

Hình 3.4. Đồ thị phân bố số cây theo cấp chiều cao....................................... 48
Hình 3.5. Đồ thị phân bố loài cây theo cấp chiều cao .................................... 49
Hình 3.6. Đồ thị phân bố loài cây theo tầng phiến ......................................... 50
Hình 3.7. Biểu đồ phân bố số cây theo cấp chiều cao .................................... 58
Hình 3.8. Biểu đồ biểu thị quá trình phân giải tầng thảm mục ....................... 60


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vai trò của rừng trong việc điều tiết nguồn nước, đảm bảo cung cấp
nước mùa khô và hạn chế lũ lụt vào mùa mưa đã được thừa nhận. Ở Việt Nam
việc điều tiết nguồn nước tại các lưu vực sông suối, hồ chứa để đảm bảo tính
ổn định bền vững của môi trường sống và sự hoạt động của các công trình đã
đưa chức năng phòng hộ của rừng lên tầm quan trọng mới. Vì nhu cầu bảo vệ
nước và đất, đảm bảo an toàn sinh thái ở vùng đầu nguồn, việc phục hồi và
phát triển rừng là rất cần thiết, đặc biệt ở những nơi đất trống, trảng cỏ, nương
rẫy, cây bụi tại những vùng đầu nguồn.
Trong những năm qua, nước ta đã triển khai nhiều chương trình nhằm
tăng độ che phủ của rừng (tính đến năm 2010, độ che phủ của rừng là 39,5%
tăng 11% so với năm 1995) [34]. Đây là những lỗ lực lớn của ngành lâm
nghiệp, khẳng định tính đúng đắn của các giải pháp tác động, khẳng định vai
trò quan trọng của rừng đối với sự phát triển bền vững đất nước. Mặc dù đã đạt
được những kết quả đáng kể, tuy nhiên hiệu quả của các chương trình, dự án
phục hồi và phát triển rừng thứ sinh nghèo ở nước ta còn thấp. Nguyên nhân
chủ yếu của tình trạng trên là còn thiếu những giải pháp đồng bộ cho hoạt động
phục hồi và phát triển rừng. Chúng ta vẫn chưa xác định được tiêu chuẩn phân
loại đối tượng cần tác động cho từng điều kiện cụ thể; chưa xây dựng được hệ
thống biện pháp kỹ thuật hoàn chỉnh, những giải pháp có hiệu quả cho hoạt

3. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cung cấp thêm những
thông tin về khả năng phục rừng sau canh tác nương rẫy tại huyện Chợ Đồn,
tỉnh Bắc Kạn, đồng thời làm cơ sở đề xuất những giải pháp kỹ thuật lâm sinh
áp dụng cho rừng phục hồi nhằm đem lại hiệu quả trong phát triển rừng.


3

Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm liên quan được sử dụng trong đề tài
* Phục hồi rừng
Phục hồi rừng là một trong những nội dung quan trọng nhất hiện nay của
ngành lâm nghiệp Việt Nam cũng như của các nước nhiệt đới khi mà độ che
phủ của rừng giảm xuống dưới mức an toàn sinh thái và không bảo đảm được
sự phát triển bền vững của đất nước. Theo nghĩa thông thường thì đây là công
việc tái lập lại rừng trên những diện tích đã bị mất rừng. Nhưng về phương
diện sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh
thái, một hệ sinh vật quần thể mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu.
Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng
sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán [13]
Tuỳ theo mức độ tác động của con người mà người ta phân chia 3 giải
pháp phục hồi rừng đó là: phục hồi tự nhiên, phục hồi bán tự nhiên (xúc tiến
tái sinh) và phục hồi nhân tạo (trồng rừng) [11]. Khoanh nuôi phục hồi rừng
là một thuật ngữ được các nhà khoa học đưa ra gần đây để chỉ giải pháp phục
hồi rừng bằng con đường tự nhiên. Trong đó khoanh nuôi có tác động là giải
pháp phục hồi rừng bán tự nhiên và khoanh nuôi không có tác động là giải
pháp phục hồi tự nhiên.
Rừng thứ sinh thường được dùng khi diễn tả một quần xã thực vật hình

việc đề xuất các biện pháp tái sinh rừng có hiệu quả. Xét về bản chất sinh học,
tái sinh rừng diễn ra dưới 3 hình thức: tái sinh hạt, tái sinh chồi và tái sinh thân
ngầm. Mỗi hình thức tái sinh trên có quy luật riêng và trải qua nhiều giai đoạn
khác nhau [9].
Như vậy, tái sinh rừng là một khái niệm chỉ khả năng và quá trình thiết
lập lớp cây con dưới tán rừng. Đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây
con đều có nguồn gốc từ hạt và trồi có sẵn, kể cả trong trường hợp tái sinh
nhân tạo thì cây con cũng phải mọc từ nguồn hạt do con người gieo trước đó.
nó được phân biệt với các khái niệm khác (như trồng rừng) là sự thiết lập lớp


5

cây con bằng việc trồng cây giống đã được chuẩn bị trong vườn ươm. Vì đặc
trưng đó nên tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của các hệ
sinh thái rừng.
* Canh tác nương rẫy
Canh tác nương rẫy được hiểu theo nhiều cách khác nhau: nông nghiệp
du canh, canh tác du canh, nhưng thường được hiểu là chặt cây- đốt nươnglàm rẫy, thuật ngữ này mang nặng dấu ấn về phá hoại môi trường.
Định nghĩa được dùng nhiều nhất “ Canh tác nương rẫy được coi là
những hệ thống canh tác nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh
tác trong một thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hóa” (Conklin, 1957) [6].
Ở Việt Nam, canh tác nương rẫy là một tập quán lâu đời của người dân,
kỹ thuật canh tác đơn giản phù hợp với khả năng của người dân bản địa và
đáp ứng được nhu cầu tại chỗ cho người dân. Canh tác nương rẫy là nguyên
nhân chính gây suy giảm tài nguyên rừng. Theo FAO ước tính, nguyên nhân
mất rừng do canh tác nương rẫy hàng năm xấp xỉ 50%.
* Canh tác sau nương rẫy
Canh tác sau nương rẫy là canh tác trên diện tích đất nương rẫy trước
đây được bỏ hóa và đang trong quá trình phục hồi

nhiệt đới [33].
Theo Aubréville (1938), nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới
Châu Phi, ông cho rằng “Cây con của loài cây ưu thế trong rừng mưa có thể
cực hiếm”. Tổ thành loài cây mẹ ở tầng trên và tổ thành loài cây tái sinh ở
tầng dưới thường khác nhau rất nhiều. Trong khi đó nghiên cứu của Davi, Ri
Sa (1993), Bead (1964) và RôLê (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ nhận định
sự xuất hiện hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành
loài cây có thể giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài [29]. Sự khác
nhau của hai tác giả này có thể lý giải: nơi tác giả quan sát, khi đó rừng chưa
đạt tới giai đoạn ổn định, tổ thành loài cây chưa ổn định về thành phần loài và
ngược lại.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả của tái sinh rừng


7

được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc
điểm phân bố. Sự tương đồng hay khác biệt giữa lớp cây con và tầng cây gỗ
được nhiều nhà khoa học quan tâm như Mibbre-ad (1930), Richards (1952),
Baur G.N (1964) và Rollet (1969) [30].
Theo Van Stennit (1956) thì đặc điểm tái sinh là “tái sinh phân tán, liên
tục”, vì rừng mưa nhiệt đới có tổ thành loài cây phức tạp, khác tuổi nên thời
kỳ tái sinh của quần thể diễn ra quanh năm[33].
1.2.1.2. Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh, phục hồi rừng
Các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh được phân tích và chia thành hai nhóm:
∗ Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh và phục hồi rừng không
có sự can thiệp của con người (Baur G. N, 1962; Anden. S (1981)[28]
Theo Aubréville [27], trong các nhóm yếu tố sinh thái phát sinh quần
thể thực vật, nhóm yếu tố khí hậu - thủy văn là nhóm yếu tố chủ đạo, quyết
định hình thái và cấu trúc của các kiểu thảm thực vật. Nhóm khí hậu - thủy

Sun và cộng sự (1995), Kooyman (1996) cũng đã đưa ra nhiều hướng tiếp cận
nhằm phục hồi hệ sinh thái rừng đã bị tác động ở vùng nhiệt đới. Kết quả ban
đầu của những nghiên cứu này đã tạo nên những khu rừng có cấu trúc và làm
tăng mức độ đa dạng về loài. Tuy nhiên, hạn chế của chúng là không thể áp
dụng trên quy mô rộng, bởi các yêu cầu về nhân công và các nguồn lực khác
trong quá trình thực hiện (Dẫn theo Phạm Văn Điển, 2006).
1.2.1.3. Nghiên cứu về điều tra, đánh giá tái sinh tự nhiên
Có nhiều phương pháp khác nhau để xác định mật độ cây tái sinh như:
ô dạng bản theo hệ thống với diện tích ô đo đếm điều tra tái sinh từ 1 đến 4
m2. Do diện tích ô nhỏ nên việc đo đếm gặp nhiều thuận lợi nhưng số lượng ô
phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu rừng mới phản ánh trung thực tình
hình tái sinh rừng.
Richards P.W (1952) đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô
dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Để giảm sai số trong
khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1955) đã đề nghị một phương pháp
"điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo


9

giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau. Richards
P.W (1952) và Barnard (1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về tái sinh tự
nhiên đã nhận xét: Trong các ô kích thước nhỏ có phân bố dạng cụm, một số
ít phân bố Poison [31]
Ở Châu Phi trên cơ sở các dữ liệu thu thập Taylor (1954), Barnard
(1955) xác định cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ
sung bằng trồng rừng nhân tạo, ngược lại một số tác giả nghiên cứu tái sinh tự
nhiên rừng nhiệt đới châu Á như Bara (1954), Budowski (1956), có nhận
định, dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị
kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh

1.2.1.5. Những tồn tại trong nghiên cứu
Nghiên cứu ở các nước trên thế giới cho thấy, vì còn thiếu những nghiên
cứu cụ thể về tái sinh cho từng trạng thái thực vật khác nhau, ở vị trí địa lý
khác nhau mà những biện pháp kỹ thuật lâm sinh thường không được áp dụng
hoặc được áp dụng một cách hình thức và không đạt được hiệu quả như mong
muốn. Bên cạnh đó, các yếu tố về kinh tế - xã hội nhạy cảm nhất với các giải
pháp phục hồi rừng thường liên quan đến chính sách về quyền sở hữu và sử
dụng rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng, thuế tài nguyên, sự tham gia của cộng đồng
trong quản lý rừng, vì vậy, trong một số trường hợp, người ta đã coi trọng
những giải pháp kinh tế - xã hội hơn là các nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên
của thực vật...
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tái sinh rừng đã đươc quan tâm nghiên cứu từ những thập
kỷ 60 của thế kỷ trước. Kết quả nghiên cứu có thể tóm tắt như sau:
1.2.2.1. Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh, phục hồi rừng
Các kết quả nghiên cứu được Nguyễn Vạn Thường (1991) tổng kết về
tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng ở miền Bắc Việt Nam; hiện
tượng tái sinh dưới tán rừng của một số loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục,
không mang tính chu kỳ, sự phân bố số cây tái sinh không đều tuổi, số cây mạ
có chiều cao < 20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở cấp kích thước khác


11

nhau. Những loại cây gỗ mềm, ưa sáng mọc nhanh có khuynh hướng phát
triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh. Những loại cây gỗ cứng,
sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn [22].
Nguyễn Văn Trương (1983) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lớp cây tái
sinh với tầng cây gỗ và quy luật đào thải tự nhiên dưới tán rừng. Ông nhận xét:
cần phải thay đổi cách khai thác rừng cho hợp lý vừa cung cấp được gỗ, vừa

1.2.2.2. Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh, phục hồi rừng
Theo Thái Văn Trừng (1978) đã xây dựng quan niệm “Sinh thái phát
sinh quần thể ” trong thảm thực vật rừng nhiệt đới và vận dụng để xây dựng
biểu phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam. Theo tác giả một công trình
nghiên cứu về thảm thực vật mà không đề cập đến hoàn cảnh thì đó là một
công trình hình thức, không có lợi ích thực tiễn. Trong các nhân tố sinh thái
thì ánh sáng là nhân tố quan trọng khống chế và điều khiển quá trình TSTN cả
ở rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh [25]
Nếu các điều kiện khác của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm
dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những
biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và
theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân
quả giữa sinh vật và môi trường.
Một số tác giả trong nước đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa địa hình
và khả năng tái sinh tự nhiên của thực vật: Ngô Quang Đê, Lê Văn Toán,
Phạm Xuân Hoàn (1994) nghiên cứu mật độ cá thể và số lượng loài cây phục
hồi sau nương rẫy bỏ hóa tại Con Cuông - Nghệ An; Lâm Phúc Cố (1996)
nghiên cứu ở Púng Luông - Yên Bái; Phùng Tửu Bôi - Trần Xuân Thiệp
(1997) nghiên cứu ở vùng Bắc Trung Bộ.
Mặt khác, theo Thái Văn Trừng [25] một kiểu thảm thực vật có xuất
hiện hay không trước hết phụ thuộc vào khu hệ thực vật ở đó và điều kiện khí
hậu thổ nhưỡng thích hợp. Việc tái sinh phục hồi lại rừng trên đất chưa có
rừng ngoài việc bị chi phối bởi khu hệ thực vật thì nó còn chịu ảnh hưởng bởi
khoảng cách từ nơi đó đến các khu rừng lân cận. Thực vật có khả năng tự phát


13

tán để gieo giống hoặc gieo giống nhờ gió, nhờ nước, nhờ động vật. Tuy vậy,
phạm vi phát tán để gieo giống của bất kỳ cách thức nào cũng không phải là

xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ
xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế
thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi” [16].
Nghiên cứu sự biến động về mật độ và tổ thành loài tái sinh trong các
trạng thái thực bì ở tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thế Hưng (2003), nhận xét
trong lớp cây tái sinh tự nhiên ở rừng non phục hồi thành phần loài cây ưa
sáng cực đoan giảm nhường chỗ cho nhiều loài cây ưa sáng sống định cư và
có đời sống dài chiếm tỉ lệ lớn, thậm chí trong tổ thành cây tái sinh đã xuất
hiện một số loài chịu bóng sống dưới tán rừng như Bứa, Ngát. Sự có mặt với
tần số khá cao của một số loài ưa sáng định cư và một số loài chịu bóng là
dấu hiệu chuyển biến tích cực của diễn thế rừng. Tác giả kết luận khả năng tái
sinh tự nhiên của các trạng thái thực vật có liên quan nhiều đến độ che phủ,
mức độ thoái hoá của thảm thực vật, phương thức tác động của con người và
tổ thành loài trong quần xã. Quảng Ninh rừng thứ sinh có mức độ tái sinh
trung bình với các loài khá phong phú. Những dạng thảm mới phục hồi hoặc
ở mức độ thái hoá chưa cao có khả năng tái sinh tự nhiên rất tốt bằng các hình
thức tái sinh phong phú. Tuy nhiên, cây có triển vọng thuộc nhóm loài ưa
sáng còn chiếm tỉ lệ cao trong các quần xã này.
Tìm hiểu đặc điểm quá trình tái sinh, diễn thế tự nhiên của thảm thực
vật cây gỗ trên đất bỏ hoá sau canh tác nương rẫy ở Bắc Kạn. Tác giả Phạm
Ngọc Thường (2003) cho rằng: Tổ thành cây gỗ phụ thuộc vào mức độ thoái
hoá đất. Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao có dạng một đỉnh, từ giai
đoạn II (3-6 năm), đến giai đoạn V (12-15 năm) được mô tả bởi phân bố
Weibull. Phân bố số cây theo mặt phẳng ngang dưới 7 năm là phân bố cụm,
từ 7-15 năm là phân bố ngẫu nhiên và có xu hướng tiến dần đến phân bố đều.
Mật độ tái sinh giảm dần theo thời gian phục hồi. Từ kết quả trên tác giả cho
biết nếu sau nương rẫy thảm thực vật tái sinh không bị phá hoại thì rừng thứ
sinh được phục hồi thông qua con đường tái sinh tự nhiên là thuận lợi. Tuy




16

tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng. Với những kết
quả đó, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho các đối tượng
rừng lá rộng, miền Bắc nước ta.
Lê Đồng Tấn (1993-1999), nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên một
số quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La theo phương pháp kết hợp điều
tra ô tiêu chuẩn 400m2 cho các đối tượng là thảm thực vật phục hồi sau nương
rẫy và theo dõi ô định vị 2000m2. Tác giả kết luận: mật độ cây tái sinh giảm
dần từ chân đồi lên đỉnh đồi. Tổ hợp loài cây ưu thế trên ba vị trí địa hình và 3
cấp độ dốc là giống nhau. Sự khác nhau chính là hệ số tổ thành các loài trong
tổ hợp đó [19].
Đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc,
Trần Xuân Thiệp (1995) [21] nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi về lượng,
chất lượng của tái sinh tự nhiên và rừng phục hồi. Qua đó, tác giả kết luận:
Rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn
nhất so với các vùng khác. Khả năng phục hồi hình thành các rừng vườn,
trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng. Rừng Tây Bắc phần lớn
diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện
nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và
nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ...
Đỗ Thị Ngọc Lệ (2009), thử nghiệm một số phương pháp điều tra tái
sinh rừng tự nhiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các phương pháp điều tra tái
sinh khác nhau sẽ thu được những số liệu biểu thị tái sinh khác nhau về tổ
thành, mật độ, nguồn gốc, chất lượng và hình thái phân bố cây tái sinh. Căn
cứ vào sai số giữa các chỉ tiêu biểu thị tái sinh ở các phương pháp điều tra với
phương pháp điều tra toàn diện trên 6 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000m2, tác
giả đã lựa chọn được hai phương pháp phù hợp là phương pháp điều tra 5 ô
dạng bản với diện tích mỗi ô là 25m2 (5x5m) và phương pháp điều tra theo

nghiên cứu điển hình khác của Trung tâm Khoa học sản xuất lâm nghiệp Tây
Bắc (1992), Trần Đình Đại (1990), Trần Đình Lý (1995), Viện ĐTQHR
(1998), Phạm Ngọc Thường (2001-2003), v.v... [12][23][24]



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status