ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
NGUYỄN TUẤN THỰC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ
BIỆN PHÁP SÁT TRÙNG VÀ KÍCH THÍCH TRỨNG
TRONG THỜI GIAN BẢO QUẢN ĐẾN KẾT QUẢ ẤP NỞ
CỦA TRỨNG GÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2011
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
NGUYỄN TUẤN THỰC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ
BIỆN PHÁP SÁT TRÙNG VÀ KÍCH THÍCH TRỨNG
TRONG THỜI GIAN BẢO QUẢN ĐẾN KẾT QUẢ ẤP NỞ
CỦA TRỨNG GÀ
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60.62.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
đại học, Khoa Chăn nuôi Thú y.
Tôi xin gửi lời cảm chân thành đến các thầy giáo, cô giáo và các thành viên
tham gia nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ về “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số
biện pháp sát trùng và kích thích trứng trong thời gian bảo quản đến kết quả ấp nở
của trứng gà”.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới một số tập thể, cá nhân, gia đình và bạn
bè đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng gửi tới tất cả các Thầy cô trong Hội đồng, các
bạn, anh em đồng nghiệp sự biết ơn sâu sắc và lời chức tốt đẹp nhất./.
Thái Nguyên, ngày.....tháng.....năm 2011
Tác giả
Nguyễn Tuấn Thực
iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan. .............................................................................................................. i
Lời cảm ơn ..................................................................................................................ii
Mục lục .................................................................................................................... iii
Danh mục các bảng .................................................................................................... v
Danh mục các chữ viết tắt ......................................................................................... vi
Phần thứ nhất. ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................... 1
Phần thứ hai. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài ................................................................................. 3
2.1.1. Quá trình bảo quản trứng ấp ....................................................................... 3
3.2.3.3. Tỷ lệ trứng thối nổ trong quá trình ấp ............................................... 27
3.2.3.4. Tỷ lệ trứng sát tắc .............................................................................. 27
3.2.3.5. Kết quả ấp nở ..................................................................................... 28
3.2.3.6. Sự sụt giảm khối lượng trứng qua các giai đoạn ấp .......................... 28
3.2.3.7. Thời gian ấp và năng lực nở .............................................................. 28
3.2.3.8. Khối lượng gà sau khi nở................................................................... 28
3.2.3.9. Tỷ lệ gà loại I ..................................................................................... 29
3.3. Phương pháp xử lý số liệu .............................................................................. 29
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...................................................... 30
4.1. Tỷ lệ phôi của trứng thí nghiệm...................................................................... 30
4.2. Ảnh hưởng của việc sát trùng và kích thích đến tỷ lệ chết phôi của trứng
thí nghiệm ........................................................................................................ 31
4.3. Ảnh hưởng của sát trùng và kích thích trứng đến tỷ lệ thối nổ trong quá
trình ấp ............................................................................................................. 34
4.4. Ảnh hưởng của sát trùng và kích thích trứng đến kết quả ấp nở .................... 35
4.5. Ảnh hưởng của việc sát trùng và kích thích trứng đến tỷ lệ trứng sát tắc ............. 36
4.6. Ảnh hưởng của việc sát trùng và kích thích trứng đến tỷ lệ giảm khối
lượng trứng trong thời gian ấp ........................................................................ 38
4.7. Ảnh hưởng của việc sát trùng và kích thích trứng đến khối lượng gà con ........... 41
4.8. Ảnh hưởng của việc sát trùng và kích thích trứng đến thời gian ấp nở .......... 43
4.9. Ảnh hưởng của việc sát trùng và kích thích trứng đến tỷ lệ gà loại I ............. 45
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ ................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................................... 48
PHỤ LỤC ...................................................................................................................................... 51
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Tỷ lệ có phôi của trứng thí nghiệm (%)....................................................................30
Lớn hơn
CHLB:
Cộng Hòa Liên Bang
1
Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong công tác ấp trứng gia cầm nhân tạo để nhân giống, không phải lúc nào
trứng sau khi thu nhặt từ ổ đẻ cũng có thể đưa vào ấp ngay, do số lượng trứng của
một ngày đẻ ít cần phải gom lại đủ số lượng mới tiến hành ấp hoặc do kế hoạch
chăn nuôi và đầu ra của quá trình ấp không hợp lý cần phải lui lại một thời gian.
Trong thời gian đó có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của trứng làm ảnh
hưởng đến kết quả ấp nở và chất lượng đàn con sau khi nở ra như nhiệt độ, độ ẩm,
vi sinh vật…Vì vậy, công việc bảo quản trứng là rất quan trọng. Nếu trứng không
được bảo quản tốt thì sẽ nhanh bị hư hỏng do vỏ trứng ở trạng thái xốp và có nhiều
lỗ khí nên khả năng bốc hơi nước là rất cao, vi sinh vật gây hại dễ dàng xâm nhập
vào trong trứng. Đồng thời sự tác động của nhiệt độ môi trường dẫn đến chất lượng
trứng bị giảm, giảm sự phát triển của phôi, gây chết phôi trong quá trình ấp. Sự bay
hơi nước làm lòng trắng trở nên đặc dần, chỉ số lòng trắng giảm, tỷ lệ lòng đỏ tăng
lên do sự thẩm thấu nước từ lòng trắng sang lòng đỏ, màng lòng đỏ giảm dần tính
đàn hồi, chỉ số lòng đỏ giảm xuống, đơn vị Haugh cũng giảm xuống theo thời
gian bảo quản, ảnh hưởng tới chất lượng trứng và khả năng phát triển của phôi,
ảnh hưởng đến kết quả ấp nở. Còn sự xâm nhập của vi sinh vật gây hại cùng với
nhiệt độ của môi trường không thích hợp sẽ làm biến đổi các thành phần hóa học
bên trong của trứng gây thối trứng, ảnh hưởng đến chất lượng trứng và kết quả
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Quá trình bảo quản trứng ấp
2.1.1.1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của trứng trong thời gian bảo quản
Trứng gia cầm đẻ ra nếu đưa ngay vào ấp thì rất tốt. Nhưng thông thường,
không thể đủ số lượng để làm ngay như vậy, cho nên trứng phải được bảo quản
(gom lại) vài ba ngày mới cho vào ấp. Để đảm bảo trứng ấp có đủ tiêu chuẩn, trong
thời gian bảo quản có hai yếu tố chính phải ngăn ngừa càng nhiều càng tốt là: Sự phát
triển của phôi và bốc hơi nước từ trứng. Bằng cách như vậy sẽ đảm bảo được chất
lượng bên trong của trứng như đơn vị Haugh (HU), chỉ số lòng đỏ. Chất lượng của
trứng trong quá trình bảo quản phụ thuộc vào các yếu tố sau:
* Nhiệt độ
Sau khi trứng đẻ ra, nhiệt độ giảm dần từ 41 0C (t0 gia cầm mái) tới nhiệt độ
chuồng nuôi, khi nhiệt độ lớn hơn 27 0C thì phôi vẫn tiếp tục phát triển. Phôi có
khả năng sống cao nhất trong giai đoạn bảo quản, nếu sau 5 - 6 giờ đẻ ra trứng
được hạ nhiệt độ xuống dưới 27 0C. Khi trứng ấp phải bảo quản vài ngày hoặc thậm
chí 2 - 3 tuần, nó cần nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ môi trường bên ngoài.
Điều quan trọng cần biết là: khi bảo quản trứng ở nhiệt độ thấp nếu ngay lập tức
ta chuyển trứng từ kho lạnh ra ngoài phòng có nhiệt độ cao hơn sẽ xảy ra hiện tượng
trứng có “mồ hôi”, điều này sẽ bất lợi vì tạo điều kiện ẩm ướt cho vi khuẩn bám vào
bề mặt vỏ trứng xuyên qua lỗ khí đi vào trong. Vì vậy, trước khi chuyển trứng đi
(hay mang đi ấp) nửa ngày, cần tăng nhiệt độ ở kho bảo quản, hoặc tăng dần nhiệt độ
cho trứng bảo quản.
Thời gian bảo quản ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng trứng và kết quả ấp nở,
tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của nó còn phụ thuộc vào điều kiện môi trường bảo
quản. Nhiệt độ là yếu tố tác động chính và nó có mối quan hệ với thời gian bảo
quản. Nghiên cứu về vấn đề này, Jack và cs (1974) [7] cho biết trứng bảo quản ở
4
5
khuẩn. Nhưng trong môi trường ẩm ướt khí Cl2 có tác dụng diệt trùng cao hơn vì
tạo thành axit hypoclorit (HClO) và axit clohidric (HCl), các chất này có tác dụng
ôxy hoá mạnh, phân hủy các chất hữu cơ của vi khuẩn.
* Prophyl (do công ty Merial sản xuất):
Là một loại thuốc sát trùng và khử mùi đa dụng. Thuốc ở dạng lỏng, màu hơi
xanh, mùi hắc nhẹ, dễ chịu. Prophyl là một chất phenol tổng hợp (công thức hoá học 4
- Chloro 3 - methyl phenol 2 - benzy; 4 chlorophenol) có tác dụng: diệt khuẩn; không
bị ảnh hưởng của chất bẩn; phổ hoạt rộng; tiêu huỷ mầm bệnh nhanh và có tác dụng
kéo dài.
* Virkon (do hãng Bayer - CHLB Đức sản xuất):
Là một hoá dược và là một hợp chất bao gồm: Proxygen, Sulfatant, Organic
axit, Irorganicbufen.
Virkon có tác dụng rộng, diệt được hầu hết các loại virus, vi khuẩn và nấm thường
xuyên gây bệnh cho gia súc, gia cầm.
* Formol:
Thuốc có tác dụng hầu hết với các loại vi khuẩn gram (+), gram (-), virus, nấm
(trừ ký sinh trùng). Khi xông khí formol nếu là dạng lỏng phải kết hợp với thuốc tím.
Khử trùng trứng phải được tiến hành trong buồng kín, sạch đảm bảo các
yêu cầu: Buồng xông phải kín và nhẵn bóng, không bị nứt, hở. Trong thời gian
xông khí phải đảm bảo quạt đảo khí hoạt động tốt để cho khí xông tiếp xúc với
toàn bộ bề mặt vỏ trứng.
Khi xông khử trùng trứng bằng thuốc tím và formol ta có thể dùng với liều
lượng sau: 10 g thuốc tím + 20 ml formol/ 1m3 thể tích buồng xông.
Thời gian xông khí phải kéo dài từ 20 - 25 phút, sau đó mở của buồng xông cho
khí lưu thông, nếu cần có thể dùng amoniac 40 % để trung hoà (40 ml/ m3)
* Han Iodine 10 % (do công ty cổ phần dược và vật tư thú y Hanvet sản xuất):
ngừng phát triển, tỷ lệ chết phôi tăng, thận sưng to, một số con nở ra mù mắt. Thiếu
vitamin D3, chất lượng trứng giảm, trứng bị dị hình nhiều, vỏ mỏng, khả năng sử
7
dụng canxi, photpho của phôi kém gây tỷ lệ chết cao trong giai đoạn cuối của thời kỳ
ấp. Thiếu vitamin E, tỷ lệ trứng không phôi cao, phôi phát triển chậm, hệ tuần hoàn
bị phá hủy, phôi chết có vòng màu tập trung nhiều vào ngày ấp 3 và 4.
Như vậy, ảnh hưởng của dinh dưỡng vitamin đối với gà sinh sản là rất lớn,
nếu thiếu chúng thì sự phát triển phôi kém, tỷ lệ phôi chết cao, tỷ lệ nở thấp, chất
lượng gà con nở ra yếu. Vì vậy, cần bổ sung đủ vitamin vào thức ăn cho gà sinh sản.
Ngoài ra trong quá trình bảo quản trứng ấp, quá trình trao đổi chất của
trứng vẫn tiếp tục xảy ra. Vì vậy, có thể bổ sung các vitamin trong quá trình
bảo quản trứng ấp.
2.1.2. Vệ sinh sát trùng đối với công tác ấp trứng gia cầm
Với điều kiện khí hậu nóng ẩm của nước ta là điều kiện thuận lợi cho các loại
virus, vi khuẩn, nấm phát triển. Hơn thế nữa hầu hết các trại ấp trứng gia cầm ở
nước ta vẫn chưa được xây dựng với quy mô và tiêu chuẩn khép kín như: Chưa có
hệ thống hút ẩm, tạo áp lực âm cho phòng máy nở... cho nên sự tác động của môi
trường sinh thái bên ngoài còn nhiều bất lợi về mặt dịch tễ.
Trong thực tế, trứng ngay từ sau khi đẻ ra khỏi cơ thể mẹ đã phải tiếp xúc với
các loại bụi bẩn, phân, không khí có mang các loại vi sinh vật gây bệnh. Vỏ cứng của
quả trứng là nơi đầu tiên trực tiếp bị ảnh hưởng của nhân tố trên. Bình thường trứng
có khả năng chống lại các vi sinh vật gây bệnh rất tốt. Các lớp màng ngăn cản vi sinh
vật là: Màng vỏ trứng, vỏ trứng, màng lòng trắng và cuối cùng là lòng trắng. Trong
lòng trắng chứa nhiều men lirozim. Khi trứng bị ẩm ướt, đệm lót bẩn, trứng đẻ ra
trên nền chuồng, trứng dính phân lên bề mặt... Điều này có nguy cơ nhiễm bệnh rất
cao, hơn nữa ở bên trong thì có thành phần của các tế bào trứng có dinh dưỡng rất
cao là một môi trường tốt cho vi sinh vật gây bệnh phát triển, gây hại cho phôi.
+ Màng ối chứa mất nước và chống sóc.
+ Màng đệm có chức năng hô hấp và hấp thụ canxi.
+ Túi lòng đỏ cung cấp chất dinh dưỡng và định vị phôi.
+ Màng niệu là túi chứa chất thải (axit uric).
Thời gian ấp trứng gà là từ khi đưa trứng vào đến khi nở ra gà con là 21 ngày
ấp. Sự phát triển của phôi như sau:
9
- Ở ngày ấp thứ nhất: Ba lá phôi được hình thành. Đầu tiên là lá phôi trong và
lá phôi ngoài, giữa lá phôi trong và lá phôi ngoài tạo thành lá phôi giữa, 3 lá phôi
sau này hình thành nên các cơ quan cơ bản của gia cầm như:
+ Lá phôi ngoài hình thành nên da, lông vũ, não, mỏ, mô thần kinh.
+ Lá phôi trong hình thành nên ruột, các tuyến tiêu hoá, các cơ quan hô hấp và
các tuyến nội tiết.
+ Lá phôi giữa hình thành nên cơ quan sinh sản và các cơ quan còn lại.
- Ở ngày ấp thứ 2: Phôi tiếp tục phát triển tạo thành hệ thống mạch máu bên
ngoài bào thai. Bắt đầu xuất hiện màng tim bao quanh lòng đỏ (noãn hoàn) lúc này
chất dinh dưỡng của lòng đỏ cung cấp cho phôi.
- Ngày ấp thứ 3: Bắt đầu hình thành đầu, cổ, ngực của phôi, nếp đuôi và nếp
cánh lớn lên hợp với thân sau của phôi, hết ngày thứ 3 gan và phổi được hình thành.
- Ngày ấp thứ 4: Phôi có dạng như bào thai của động vật bậc cao, độ dài
của phôi 8 mm. Qua đèn soi ta có thể nhìn thấy hệ thống mao quản, có thể
đánh giá sự phát triển của phôi qua kích thước và số lượng mạch máu. Màng
ối có chứa một ít nước và bao phủ lấy phôi, lúc này lòng đỏ đã có sự hoà tan
không còn nguyên dạng hình tròn nữa.
- Ngày ấp thứ 5: Phần não bộ phát triển mạnh, từ mấu não hình thành nên
5 bộ phận của não, diều và cơ quan sinh dục được hình thành, trong gan đã có
quá trình tạo máu, màng ối chứa nhiều nước ối đồng thời bao bọc kín lấy phôi,
dinh dưỡng chính, móng và mỏ đã cứng.
- Ngày ấp thứ 17 - 19: Lúc này lòng đỏ đã dần dần lộn vào trong xoang bụng
của bào thai, bào thai đã chiếm gần hết trứng, phôi nằm dọc theo quả trứng, đầu
hướng về phía buồng trứng. Đầu của bào thai dấu dưới cánh phải, chân ép vào bụng,
màng ối ép sát vào phôi do đã hết dịch màng ối. Chất lỏng của màng niệu cũng giảm
đến mức tối đa do sự bốc hơi nước và một phần truyền vào mạch máu.
- Ngày ấp thứ 20: Trứng được chuyển sang máy nở, phôi đã thay đổi hô hấp,
từ hô hấp qua hệ thống mạch máu, màng niệu chuyển sang hô hấp bằng phổi. Đầu
ngày thứ 20 túi lòng đỏ lộn vào trong xoang bụng hoàn toàn, thận bắt đầu hoạt động.
11
Phôi thai đã mổ vỏ trong (chọc thủng lớp màng ngăn với buồng khí), máu được phôi
thai hấp thụ lại, gà con mổ vỏ trứng (mổ vỏ ngoài).
- Ngày ấp thứ 21: Gà con bắt đầu chui ra khỏi vỏ trứng, gà nở rộ, ngày đầu lỗ
rốn bắt đầu thu hẹp lại, tạo sẹo và kết thúc quá trình ấp.
2.1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi và tỷ lệ ấp nở
2.1.4.1. Ảnh hưởng của chế độ bảo quản trứng đến sự phát triển của phôi thai
Sau khi trứng được đẻ ra, do nhiệt độ môi trường thấp hơn nhiệt độ cơ thể gia
cầm mẹ. Nhiệt độ của trứng sẽ giảm xuống tới nhiệt độ của chuồng nuôi. Nếu nhiệt
độ môi trường thấp hơn 27 0C thì phôi tạm ngừng phát triển, khi nhiệt độ cao hơn
27 0C thì phôi lại tiếp tục phát triển. Quá trình phát triển của phôi ở giai đoạn này
diễn ra không bình thường, không theo quy luật, nó có thể ảnh hưởng đến sự phát
triển của phôi trong thời gian ấp. Vì vậy, trứng được đưa vào ấp càng sớm càng tốt.
Nhưng trong thực tế, thường phải bảo quản trứng một thời gian mới cho vào ấp vì phải
gom cho đủ số lượng. Để đảm bảo trứng ấp có đủ tiêu chuẩn, trong thời gian bảo quản
chúng ta phải ngăn chặn tối đa sự phát triển của phôi và sự bốc hơi nước từ trứng bằng
cách điều khiển nhiệt độ, độ ẩm thích hợp.
Để tạo cho phôi ở trạng thái cân bằng thì nên bảo quản trứng ở nhiệt độ 16 - 20
để có tỷ lệ ấp nở cao đã kết luận trứng gà Plymouth Rock có khối lượng trung bình ở độ
tuổi 26 - 33 tuần là 50 - 54g cho tỷ lệ nở cao nhất (72,6 %). Bùi Đức Lũng và cs (1993)
[10], nghiên cứu ảnh hưởng của khối lượng trứng gà giống Hybro đến kết quả ấp nở và sức
sống của gà con cho biết tỷ lệ gà loại 1 đạt cao nhất ở lô trứng có khối lượng trung bình 52 64 g (80 - 85 %), thấp nhất ở lô trứng có khối lượng nhỏ 45 - 49 g (60,9 %).
2.1.4.2. Ảnh hưởng của chế độ ấp tới sự phát triển của phôi và tỷ lệ ấp nở
Chế độ ấp là tập hợp một loạt các yếu tố mà máy ấp tạo ra tương tự như môi
trường của gia cầm mái khi ấp trứng và được điều chỉnh phù hợp với sự phát triển
của phôi trong từng giai đoạn ấp, bao gồm các yếu tố như:
- Nhiệt độ.
- Ẩm độ tương đối.
- Độ thông thoáng.
- Đảo trứng.
- Chế độ làm mát.
13
* Ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự phát triển của phôi
Nhiệt độ môi trường có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển của phôi, vì sự
phát triển của phôi gia cầm diễn ra ngoài cơ thể mẹ. Các nhà nghiên cứu cho rằng
nhiệt độ là yếu tố quan trọng, đảm bảo cho sự thành công của quá trình ấp. Bởi vì
nó ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của phôi. Nhiệt độ tốt nhất là giới hạn nhiệt
độ phôi có thể chịu đựng được để sinh trưởng phát triển bình thường.
Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [6] cho biết: Bình thường nhiệt độ máy
ấp giao động trong khoảng 37 0C - 38 0C. Khi nhiệt độ tăng cao (trong mức giới
hạn) thì sức lớn của phôi cũng tăng, phôi phát triển mạnh. Ngược lại trong thời gian
này nhiệt độ thấp hơn mức quy định sẽ làm cho phôi phát triển chậm lại. ở nửa sau
của quá trình ấp (sau khi màng niệu khép kín ở phía trong của đầu nhọn). Sự phát
triển của phôi phụ thuộc vào sự phát triển của phôi trong thời gian đầu. Tức là nó
phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, nếu nửa đầu của quá trình ấp phôi thai phát triển
thì càng tăng khả năng sinh nhiệt của không khí và sự mất nhiệt của trứng. Như
vậy, ẩm độ còn có tác dụng điều hoà sự toả nhiệt của trứng.
Ở cuối thời kỳ ấp, sự bay hơi nước từ trứng còn phụ thuộc vào cường độ trao
đổi chất của phôi, do sự trao đổi chất của phôi ở cuối thời kỳ ấp tăng cao nên phôi
thải nhiệt mạnh. Do đó ẩm độ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thải nhiệt của trứng ở
thời kỳ cuối của quá trình ấp. Ẩm độ cao (trong mức giới hạn) sẽ có lợi cho quá trình
thải nhiệt của trứng và sẽ tốt cho sự phát triển của phôi.
Các yếu tố như: Nhiệt độ, độ ẩm, độ thông thoáng của máy ấp và sự phát triển
của phôi đều có ảnh hưởng đến sự bốc hơi nước của trứng.
Nếu ẩm độ ở mỗi thời kỳ ấp đều cao hoặc thấp hơn mức quy định đều làm
giảm tỷ lệ nở và đều làm tăng tỷ lệ trứng sát tắc.
Theo Nguyễn Văn Trọng (1998) [19] cho biết: Nếu ẩm độ ở mỗi thời kỳ ấp
đều cao hoặc thấp hơn mức quy định sau (1 - 24 ngày ấp yêu cầu đạt 54 - 58 %, ở
ngày ấp thứ 25 yêu cầu đạt 52 %, từ ngày ấp 26 - 28 yêu cầu đạt 68 - 72 %) đều
làm giảm tỷ lệ ấp nở và ảnh hưởng đến chất lượng vịt con 1 ngày tuổi. Ẩm độ quá
cao hoặc quá thấp sẽ làm tăng tỷ lệ trứng sát tắc 4 - 8 %, tỷ lệ chết phôi kỳ I và kỳ
II tăng 2 - 5 % . Tỷ lệ nở giảm 1 - 2 %, tỷ lệ vịt loại 1 giảm 2 - 7 %.
15
Tóm lại, ẩm độ máy ấp cao kéo dài sẽ làm cho sự phát triển của phôi
chậm lại, sự trao đổi chất của phôi kém, làm cho gia cầm nở chậm và nở rải
rác không đồng loạt. Ẩm độ cao còn là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn và
nấm mốc ở vỏ trứng phát triển gây hại cho trứng. Trong 5 - 6 ngày đầu ẩm độ
cao không gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của phôi, nhưng sau 6 ngày sẽ
hạn chế sự phát triển của túi niệu nang và khép chậm ở phía đầu nhọn. Trong
nửa sau của quá trình ấp, ẩm độ quá thừa làm chậm sự sinh trưởng và phát
triển của phôi, phôi sẽ hấp phụ lòng trắng không hết làm tồn đọng lại ở phía
đầu nhỏ. Ẩm độ cao trong suốt quá trình ấp sẽ kéo dài thời gian nở, gà không
từ khi bắt đầu ấp đến ngày thứ 18. Vì trong những ngày ấp đầu tiên, nếu không đảo
trứng phôi sẽ bị ép vào vỏ, sự phát triển của phôi sẽ bị dừng lại và phôi sẽ chết. Để
tránh cho phôi không bị dính vào một bên vỏ trứng đồng thời làm cho nhiệt tiếp
xúc đều tới tất cả các phần của quả trứng, đồng đều giữa các khay trong máy ấp ta
phải đảo trứng và làm mát trứng.
Nếu không đảo trứng giữa quá trình ấp màng niệu sẽ bị dính vào túi lòng đỏ.
Do vậy phôi không thu được túi lòng đỏ vào trong xoang bụng hoặc làm rách túi
lòng đỏ ở cuối giai đoạn ấp.
Đối với trứng vịt, trứng ngan theo tác giả Nguyễn Đức Lưu và cs (2001) [13]
thì: Ngoài việc đảo trứng trong máy ấp 1 lần/ giờ thì ta còn phải tiến hành chuyển
trứng ra ngoài máy ấp để đảo bằng tay từng quả một. Khi đưa trứng vào ấp, trứng
được xếp nghiêng, khi đảo bằng tay thì ta lật ngược lại từng quả, đồng thời kết hợp
phun nước làm mát (phun dưới dạng sương mù) làm mát trong khoảng 5 - 15 phút
(tăng theo thời gian ấp).
Thực hiện việc đảo trứng và làm mát trứng ngoài máy ấp như sau:
- Từ ngày ấp thứ 11 - 15 đảo trứng bằng tay 1 lần/ ngày.
- Từ ngày ấp thứ 16 - 25 đảo trứng bằng tay 2 lần/ ngày.
Sau khi đảo trứng xong dùng nước ấm 38 0C phun dưới dạng sương mù.
17
Như vậy, yếu tố đảo trứng có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình ấp
trứng. Nó không chỉ đơn thuần giúp cho quả trứng tiếp xúc đều với với nhiệt độ mà
còn nâng cao tỷ lệ ấp nở, giảm tỷ lệ trứng sát tắc và nâng cao chất lượng con giống.
* Ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng đến tỷ lệ ấp nở
Trong quá trình ấp trứng nhân tạo thì nhiệt độ và yếu tố ẩm độ là những yếu tố
cần thiết cho sự phát triển của phôi thai. Nhưng một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng
không nhỏ tới tỷ lệ ấp nở, chất lượng con giống, đó là sự nhiễm virus, vi khuẩn,
nấm vào trứng dẫn đến tỷ lệ ấp nở thấp.