skkn một số BIỆN PHÁP CHỈ đạo cơ bản TRONG CÔNG tác CHUẨN bị CHO TRẺ 5 TUỔI vào lớp một ở TRƯỜNG mầm NON - Pdf 35

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO CƠ BẢN TRONG CÔNG TÁC
CHUẨN BỊ CHO TRẺ 5 TUỔI VÀO LỚP MỘT Ở TRƯỜNG MẦM NON
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Mục tiêu của
giáo dục Mầm non là hình thành cơ sở ban đầu về nhân cách con người phát triển toàn
diện. Trong đó, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một là một nội dung quan trọng góp phần
thực hiện mục tiêu giáo dục Mầm non và phát triển trí tuệ, giáo dục nhân cách con
người toàn diện cho trẻ, chuẩn bị cho trẻ học tập ở trường tiểu học. Vì vậy, trẻ cần
phải có sự rèn luyện về các thao tác trí tuệ, có sự hiểu biết về bản thân, gia đình, môi
trường xung quanh, các biểu tượng về thời gian, không gian đồng thời có kỷ năng
thực hiện hoạt động trí óc như biết so sánh, phân tích, tổng hợp…..
Bên cạnh đó, mục đích của lớp 1 Tiểu học là làm thế nào để các em có kỹ năng
giao tiếp với cô giáo, bạn bè, yêu cầu kỷ luật, làm quen việc học, không đặt nặng vấn
đề kiến thức. Vì thế, chuẩn bị cho các em vào lớp 1 không phải là chuyện học chữ mà
chúng ta cần chuẩn bị tâm thế cho các em.
Mấy năm gần đây có hiện tượng một số trẻ trước khi vào lớp 1 đã “đọc thông
viết thạo”. Có một số trường Tiểu học lấy đó làm tiêu chuẩn để ưu tiên tuyển trẻ vào
lớp 1. Với thực trạng trên nhiều bài báo của các nhà giáo, phụ huynh lên tiếng. Theo
họ chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 cần quan tâm phát triển toàn diện: về thể lực, các tố
chất, năng lực nhận thức, khả năng sáng tạo, ngôn ngữ, tình cảm, hành vi đạo đức,…
Hiện tượng một số phụ huynh mới đầu năm học lớp 5 tuổi đã nôn nóng tìm
nhóm cho con học chữ hoặc chiều xin đón con về sớm để đưa đến cô giáo lớp 1 dạy
chữ hoặc có phụ huynh đến học kỳ 2 đã cho trẻ nghỉ học để đến học với giáo viên tiểu
học mà bất chấp nguyên tắc đòi hỏi sự phù hợp giữa nội dung, phương pháp dạy học
với sự phát triển tâm sinh lý ở lứa tuổi này, ép trẻ học quá sớm vô tình chúng ta làm
1


mất đi sự tập trung chú ý và hứng thú học tập của trẻ sau này, đồng thời làm giảm tỉ lệ
trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo. Mặc khác, không ít những phụ huynh lại phó mặc con

2. Mục đích:
Tìm hiểu tình hình thực tế của việc chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào lớp một ở trường
mầm non nơi tôi công tác để đưa ra một số biện pháp cơ bản nhằm góp phần giúp cán
bộ quản lý nhà trường có được các biện pháp hiệu quả trong công tác chỉ đạo chuẩn
bị cho trẻ 5 tuổi vào lớp 1 và giúp cho các cấp quản lý biết được thực trạng để có các
giải pháp thực hiện tốt hơn trong công tác giáo dục mầm non nói chung và chuẩn bị
cho trẻ 5 tuổi vào lớp 1 nói riêng.
3. Nhiệm vụ:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn công tác chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi
vào lớp 1.
Tìm hiểu thực trạng về công tác chuẩn bị cho trẻ 5 vào lớp 1 ở trường mầm non
nơi tôi công tác.
Phân tích kết quả nghiên cứu và rút ra một số biện pháp cơ bản góp phần nâng
cao chất lượng trong công tác chỉ đạo chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào lớp 1 ở trường mầm
non.
4. Đối tượng nghiên cứu:
Trẻ em 5 tuổi ở trường mầm non nơi tôi công tác;
Chương trình chăm sóc giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi;
Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi của Bộ giáo dục và đào tạo;
Giáo viên dạy lớp 5 tuổi trong trường mầm non nơi tôi công tác;
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học của nhà trường;
Nội dung, hình thức và phương pháp chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào lớp 1 ở trường
mầm non.
3


5. Giả thiết nghiên cứu:
Nếu đưa ra được một số biện pháp chỉ đạo trong công tác chuẩn bị cho trẻ 5
tuổi vào lớp 1 có hệ thống, khoa học, hiệu quả, phù hợp để tác động vào quá trình
dạy và học thì không chỉ giúp cho trẻ 5 tuổi ở trường mầm non nơi tôi công tác có

của xã hội về Ngành giáo dục nói chung và bậc học mầm non nói riêng;
- Giúp các nhà quản lý giáo dục biết được thực trạng của việc chuẩn bị cho trẻ
5 tuổi vào lớp 1 hiện nay để có những giải pháp khắc phục phù hợp, kịp thời.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở khoa học
1.1. Cơ sở lý luận
Sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và chăm lo cho sự nghiệp
giáo dục và đào tạo nước nhà. Người coi: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” trong quá
trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Người luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn nhân dân ta
phải chăm lo đến sự nghiệp giáo dục. Người căn dặn “Đảng cần phải chăm lo giáo
dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ trở thành người thừa kế xây dựng chủ
nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đó là tinh thần, là tình cảm sâu sắc của Chủ
Tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta.
Người coi “con người” là vốn quý nhất, là yếu tố quyết định của sự nghiệp cách
mạng. Trước đây, Khổng Tử đã từng khuyên nhà cầm quyền phải chăm lo đời sống
vật chất cho dân, phải giáo hóa dân để thực hiện đường lối “đức trị”, thì tư tưởng của
Người, Người cũng thường xuyên nhắc nhở rằng: “Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì
lợi ích trăm năm trồng người”. Hồ Chí Minh đã mượn câu nói trên để chỉ ra tầm quan
trọng của sự nghiệp giáo dục. Trong tư tưởng của Người, tất cả vì “con người”. Đối
với giáo dục thế hệ trẻ, Người viết: Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay
5


không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc
năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.
Trong bài thơ “Nửa đêm” của Bác có đoạn viết:
“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền
Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên”

Quan hệ giữa trẻ với cô giáo ở trường mầm non được thay thế bằng quan hệ “Thầy –
trò”, quan hệ giữa trẻ với trẻ ở trường mầm non là quan hệ bạn bè cùng chơi chuyển
sang quan hệ bạn bè cùng học. Hơn thế nữa, ở trường mầm non trẻ 5 tuổi là lớp “Đàn
anh” khi vào lớp 1 các em trở thành “em út” của trường tiểu học.
Để chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 được thuận lợi, chương trình giáo dục mầm
non cho trẻ năm tuổi chỉ thực hiện việc dạy trẻ nhận biết các chữ cái tiếng Việt và con
số từ 1-10. Các trường mầm non ngoài việc giáo dục trẻ năm tuổi những kỹ năng sống
cần thiết phù hợp với lứa tuổi chỉ được phép thông qua các hoạt động vui chơi nhẹ
nhàng giúp trẻ học đếm, phát triển ngôn ngữ. Điều 24, điều lệ trường mầm non cũng
đã qui định rõ các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Căn cứ để đánh giá chất lượng của trẻ 5 tuổi là Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi do
Bộ giáo dục và đào tạo ban hành gồm 4 lĩnh vực, có 28 chuẩn với 120 chỉ số để đánh
giá sự phát triển của trẻ em 5 tuổi.
1.2. Cơ sở thực tiễn:
Chiều ngày 25 tháng 3 năm 2013, Bộ GD&ĐT đã trao đổi với báo chí về vấn
đề cho trẻ học trước khi vào lớp 1. Theo Vụ trưởng Giáo dục tiểu học Phạm Ngọc
Định, Bộ đã có chương trình giáo dục trẻ mầm non rất phù hợp với lứa tuổi. Trẻ từ 1
đến 5 tuổi cần được vui chơi là chính, việc học chỉ là làm quen với chữ cái và chữ số
mà thôi. Khi vào lớp 1, theo chương trình của Bộ, tuần đầu tiên trẻ sẽ được làm quen
7


với môi trường mới, lớp, giáo viên, bạn bè, mục đích để trẻ thích đến lớp. Đây là giai
đoạn chuẩn bị cho các cháu chuyển từ mẫu giáo sang tiểu học…
Ông Phạm Ngọc Định phân tích: “Trước tiên, tôi xin khẳng định, việc cho trẻ
học chữ trước khi vào lớp 1 là phản khoa học. Có 3 lý do cơ bản. Thứ nhất là làm mất
đi tâm lý hào hứng, háo hức của các em và cả của phụ huynh trước khi bước vào môi
trường học tập mới. Thứ hai, nếu người dạy không chu đáo, hoặc hạn chế về trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ thì sẽ hướng dẫn trẻ cầm bút sai, tư thế ngồi, cách viết chữ
không đạt chuẩn mực. Thực tế cho thấy, nếu các em mắc phải những tật này thì sẽ rất

thầy giáo làm cho học sinh đã ngoan rồi mà ngoan hơn. Nhà sư phạm phải khác một
ông “thợ dạy” ở chỗ ông thợ dạy cứ tiếp tục cái đà cũ còn nhà sư phạm phải tạo được
sự thay đổi, biến chuyển cơ bản giúp cho học sinh hình thành ý thức không phải cứ
hơn người khác bằng bất cứ giá nào là tốt, mà phải hơn chính mình hôm qua mới là
tốt.
Nếu chỉ giáo dục và phụ huynh thay đổi cách suy nghĩ cũng sẽ không tạo biến
chuyển căn bản được mà ý thức xã hội phải thay đổi: Việc đánh giá “hơn kém” phải
theo một tiêu chí khác. Không phải so sánh đơn vị mình hơn đơn vị kia mà so sánh
đơn vị mình có hơn chính đơn vị mình hôm qua hay không và có tiếp tục mãi được
như thế hay không?
Nhưng trên thực tế việc dạy trước chương trình lớp 1 vẫn diễn ra tràn lan. Một
trong những lý do dẫn đến việc này là do ở trường tiểu học giáo viên cũng đã quen
việc trẻ phải biết đọc, biết viết trước khi vào lớp 1, những đứa trẻ không được học
trước trở nên lạc lõng, mang tâm lý thua kém bạn bè từ ngày đầu đến trường.
Vấn đề này nên nhìn nhận từ hai phía: một phần do nhu cầu xã hội, cụ thể là
các bậc cha mẹ. Với tâm lý lo lắng thái quá, muốn chuẩn bị kỹ càng cho con trước khi
đi học nên một số người đã cho con đi học sớm. Và sau đó nhiều người khác cũng lo
sợ con mình bị tụt hậu. Tôi nghĩ trong số này chắc chắn có nhiều người không biết rõ
quy định của Bộ giáo dục và đào tạo về điều kiện đối với trẻ trước khi vào lớp 1,
9


không biết trong trường tiểu học giáo viên sẽ dạy thế nào... Không biết và lo sợ nên
phải đi theo số đông. Nhìn từ phía khác, các cơ sở giáo dục cũng có xảy ra tình trạng
giáo viên chủ quan nghĩ trẻ đã biết chữ, biết số nên dạy không đúng quy định phân
phối chương trình.
Trong khi Hoạt động chủ đạo để phát triển tâm lý, nhận thức ở mỗi lứa tuổi
khác nhau. Lứa tuổi mầm non thì chơi là chính. Còn ở tiểu học thì hoạt động chủ đạo
là học. Để chuẩn bị tốt hoạt động học của trẻ, theo quy định của Bộ giáo dục và đào
tạo, các trường đều phải dành ra một tuần trước ngày khai giảng để hướng dẫn các em

không” với bốn nội dung, các cuộc vận động lớn của Ngành, tích cực “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thực hiện tốt phong trào “xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực”, cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương về đạo
đức, tự học và sáng tạo”, đặc biệt thực hiện chủ đề năm học “Tăng cường ứng dụng
công nghệ thông tin và đổi mới quản lý giáo dục nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện”, trường chúng tôi đã quan tâm đến công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý và giáo viên, tích cực tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đổi
mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá đối với giáo viên và học sinh.
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học nhằm nâng cao hiệu
quả giờ dạy. Thực hiện nghiêm túc chương trình, kế hoạch giảng dạy, các phong trào
văn nghệ, thể dục thể thao nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Đội ngũ cán bộ, giáo viên hiện nay có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn khá
cao nhưng do đào tạo chắp vá, cộng thêm điều kiện cơ sở vật chất trường lớp nghèo
nàn, thiếu tài liệu tham khảo, ít được đi tham quan, kiến tập học hỏi, trao đổi kinh
nghiệm bên ngoài nhà trường, ít được bồi dưỡng chuyên môn, cập nhật kiến thức
mới nên năng lực chuyên môn còn hạn chế. Thường mỗi năm, trong dịp hè, giáo
viên chỉ được bồi dưỡng 1 lần về nội dung chuyên đề như: Giáo dục an toàn giao
thông; vệ sinh thực phẩm; làm quen chữ cái; hướng dẫn thực hiện chương trình giáo

11


dục mầm non mới... Chất lượng và hiệu quả của các lớp tập huấn này chưa cao vì
lớp học ngắn ngày, đông học viên, ít thời gian thực hành, kiến tập, tham quan.
Năng lực của nhiều giáo viên vẫn hạn chế và bộc lộ khá rõ ở việc tổ chức các
hoạt động giáo dục cho trẻ. Trong dạy học và tổ chức hoạt động cho trẻ, giáo viên
vẫn còn ôm đồm, đưa nhiều nội dung vào trong một hoạt động, chưa chú ý đến đặc
điểm lứa tuổi của trẻ, nhiều giáo viên chưa biết sử dụng phương pháp giáo dục phù
hợp (phương pháp trực quan, sử dụng hành động nhiều chứ không phải dùng lời là
chủ yếu), việc giao tiếp giữa cô và trẻ còn hạn chế, nên khi tổ chức cho trẻ hoạt

chất, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi cho trẻ nên các học động dạy và học ở
các lớp 5 tuổi ngày càng được nâng cao chất lượng về mọi mặt.
Trẻ 5 tuổi, ngôn ngữ phát triển mạnh, mở rộng khả năng định hướng trong môi
trường xung quanh của trẻ. Nhờ đó mà trẻ có được phương tiện cơ bản để giao tiếp
với mọi người xung quanh.
Trẻ đã gọi được tên đồ vật, hát được bài hát ngắn và kể được những câu chuyện
đơn giản là nhờ trí nhớ, ngôn ngữ đặc biệt phát triển ở lứa tuổi này.
Trẻ biết tập trung chú ý vào lời nói của người lớn nếu âm thanh ngôn ngữ kết
hợp với cử chỉ, điệu bộ, trẻ bắt đầu biết phân biệt và khái quát hóa những dấu hiệu
đặc trưng.
Được sự ưu tiên về phân công giáo viên đứng lớp 5 tuổi nên đội ngũ giáo viên
dạy lớp 5 tuổi trẻ, khỏe, nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ. Có trình độ đại học sư phạm
mầm non 100%; Trong đó: Biên chế Nhà nước là 5/6 đồng chí.
Ban giám hiệu là những người có năng lực, nắm vững chuyên môn, có trình độ
Đại học 100%.
Một số phụ huynh là những người luôn quan tâm đến việc học tập của các cháu.
Tích cực tham gia vào các hoạt động, các chủ trương của nhà trường đề ra.

13


Trường công lập được công nhận là trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia, xã
đạt phổ cập giáo dục mầm non trẻ cho năm tuổi.
Trường tổ chức cho trẻ ăn bán trú trên 86,8 %. Riêng trẻ 5 tuổi, trẻ được ăn bán
trú tại trường 100% tạo điều kiện tốt để nhà trường chăm sóc – giáo dục trẻ. Nhà
trường đã rất cố gắng trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ cả về tinh thần lẫn thể chất,
tạo điều kiện tốt nhất để phục hồi suy dinh dưỡng cho trẻ.
* Khó khăn:
Trường chúng tôi thuộc trường nằm trong vùng nông thôn nghèo, kinh phí đầu
tư của địa phương hạn chế. Phụ huynh các cháu chủ yếu là thuần nông nên kinh tế gia

Đời sống của nhân dân được nâng lên đáng kể năm 2012 có 23% hộ nghèo,
năm 2013 phấn đấu số hộ nghèo giảm xuống còn 18 %.
- 30 % số trẻ trong trường thuộc diện con hộ nghèo.
- 20 % số phụ huynh chưa quan tâm đến việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 ở
trường mầm non.
- 50 % số phụ huynh lo lắng cho con học chữ, học số, học làm tính trước khi trẻ
vào lớp 1.
- 40 % số phụ huynh luôn ép trẻ tập viết, tập đọc hàng đêm kể cả thứ 7 và chủ
nhật để chuẩn bị cho trẻ trước khi vào lớp 1.
- 100% trẻ được ăn tại trường, trong đó có 86,8% trẻ ăn bán trú tại trường.
Kết quả điều tra 100 trẻ 5 tuổi tại trường chúng tôi:
- 60% trẻ có kỷ năng nghe, hiểu và giao tiếp thông trường.
- 60% trẻ có kỷ năng nghe và làm theo chỉ dẫn của người lớn.
- 70 % trẻ có khả năng phát âm tiếng việt: to, rõ ràng.
15


- 50 % trẻ biết hướng chữ đọc, viết.
- 60% trẻ biết cầm sách đúng tư thế và thích thú với sách truyện tranh.
- 20 % trẻ biết mối quan mối quan hệ giữa lời nói và chữ viết.
- 40 % trẻ nhận biết được một số chữ cái, từ đơn giản.
- 30 % trẻ phân biệt được sự giống và khác nhau của các chữ cái qua thị giác.
- 30 % trẻ biết tô màu các chữ cái, các hình đơn giản.
- 20% trẻ biết ngồi đúng tư thế khi tô – vẽ và xem sách.
- 80 % trẻ biết cất đồ chơi vào nơi qui định sau khi chơi.
- 50 % trẻ có thói quen văn minh.
- 30 % trẻ còn nói lắp, nói ngọng, nói trống không.
- 14% trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, 12,5% trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi.
- 10 % trẻ đạt theo chuẩn theo bộ chuẩn phát triển trẻ mầm non 5 tuổi của Bộ
qui định.

nhiều khó khăn dẫn đến việc tiếp thu cập nhật các thông tin nuôi dạy con theo khoa
học còn hạn chế.
Nguyên nhân chủ quan:
Giáo viên trẻ, nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề.
Giáo viên có trình độ Đại học song trình độ chuyên môn áp dụng vào thực tế
chưa đáp ứng với nhu cầu của trẻ.
Lãnh đạo địa phương tuy đã quan tâm song do nguồn kinh phí của địa phương
hạn hẹp nên chưa mạnh dạn đầu tư cho giáo dục mầm non.

17


Giáo viên còn lúng túng trước nhận thức chưa đúng của xã hội; một số giáo
viên chưa nhận thức đúng về công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.
Một số giáo viên còn “chạy” theo, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của phụ huynh để
dạy trẻ đọc thông, viết thạo trước khi vào lớp 1. Trong khi đó lại chưa mạnh dạn đổi
mới phương pháp, hình thức tổ chức chăm sóc – giáo dục các cháu.
Đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị dạy và học chưa đáp ứng với mức độ tối thiểu
theo thông tư 02 của Bộ giáo dục qui định.
Giáo viên không có thời gian tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, kỷ năng sống cũng như kỷ năng, năng lực tổ chức các hoạt động giáo
dục trẻ.
Nhằm khắc phục những nguyên nhân, hạn chế để nâng cao chất lượng giáo dục,
chuẩn bị tốt cho trẻ 5 tuổi vào lớp một, chúng tôi đã đưa ra những biện pháp khắc
phục cơ bản sau:
2. Các biện pháp cơ bản:
2.1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức:
* Đối với lãnh đạo địa phương, các bậc phụ huynh, các cơ quan đoàn thể
có liên quan
Tham mưu, tuyên truyền với Lãnh đạo địa phương, quần chúng nhân dân về

- Hướng dẫn phụ huynh xây dựng cho trẻ một góc học tập gọn gàng, đẹp mắt,
phù hợp với điều kiện sẵn có của gia đình nhằm giúp trẻ thích thú đối với việc ngồi
vào bàn học. Giúp trẻ chọn lựa sách, đọc sách cho trẻ nghe và trẻ có thể “đọc vẹt”
sách. Những việc đọc như thế có một ý nghĩa quan trọng và rất cần thiết cho việc học
đọc sau này. Ngoài ra cần chọn đồ chơi phù hợp với lứa tuổi trẻ đặc biệt là đồ chơi
chữ cái, chữ số.

19


- Phụ huynh cần tạo cho trẻ thói quen tự lập bằng cách khuyến khích trẻ thực
hiện trọn vẹn một vài công việc nhà đơn giản, tự tạo một thời gian biểu học tập – vui
chơi và nghiêm túc thực hiện thời gian biểu ấy.
- Có thể dẫn trẻ đến thăm trường Tiểu học và chỉ cho trẻ biết các phòng, lớp
học, sân chơi…
Gia đình là trường học đầu tiên của trẻ, gia đình là môi trường thuận lợi nhất để
đứa trẻ được xã hội hóa. Không một gia đình nào lại không mong con cháu mình
khôn lớn, học tập tiến bộ để trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội. Trong
thực tế, nhiều gia đình do không nắm được một cách vững vàng đặc điểm tâm sinh lý
trẻ, do quá nôn nóng hoặc một lý do nào đó đã vội nhồi nhét vào đầu trẻ bao nhiêu
thứ, nào học đọc, học viết, học ngoại ngữ….vượt quá sức tải của tâm lý trẻ. Kết quả là
trẻ không học được bao nhiêu, những điều trẻ học thiếu bài bản, thiếu hệ thống sẽ làm
cản trở việc học sau này của trẻ.
Mặt khác, chúng tôi yêu cầu giáo viên là người có hiểu biết khoa học về giáo
dục mầm non cần phải kết hợp với gia đình trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ nói
chung và trong công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp một nói riêng. Trong sự kết hợp này,
chúng tôi, giáo viên mầm non phải giữ vai trò chủ đạo, dựa trên những yêu cầu chuẩn
bị cho trẻ vào lớp một, chúng tôi đã xây dựng phương hướng kết hợp và trao đổi với
gia đình về mục tiêu, nội dung, phương pháp, biện pháp, hình thức chuẩn bị cho trẻ
vào lớp một. Chúng tôi vạch rõ mục tiêu, nhiệm vụ của gia đình trong công tác chuẩn

sóc giáo dục trẻ, chúng ta phải giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên
trong trường. Bởi nhận thức của giáo viên ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động
của nhà trường nói chung và công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 nói riêng. Do vậy
hàng năm chúng tôi đã có kế hoạch:
+ Triển khai thực hiện và bố trí cho giáo viên học tập nghiêm cứu nghiêm túc
các Nghị quyết của huyện, tỉnh, trung ương, đường lối chính sách của Đảng và pháp
luật của nhà nước.
21


+ Xây dựng kỷ cương, phương hướng nhiệm vụ năm học phù hợp và tổ chức
thực hiện.
+ Tổ chức chuyên đề chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, bộ chuẩn phát
triển trẻ 5 tuổi.
+ Hàng năm căn cứ vào điều 35; điều 39; điều 40 của điều lệ trường mầm non
và Bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non làm thước đo nhân cách, phẩm chất
chính trị, đạo đức lối sống; kiến thức và năng lực của giáo viên.
+ Nêu gương những giáo viên tiêu biểu trong nhà trường về công tác chăm sóc
giáo dục trẻ; thực hiện các cuộc vận động và các phong trào thi đua trong năm học.
+ Bồi dưỡng kiến thức về công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1; phổ cập giáo dục
mầm non cho trẻ 5 tuổi; kiểm định chất lượng giáo dục trong trường mầm non.
+ Phát động phong trào “giỏi việc trường, đảm việc nhà”.
Sau khi có kế hoạch chúng tôi đã tiến hành tổ chức:
* Bồi dưỡng nhận thức về tư tưởng chính trị
Tăng cường bồi dưỡng chính trị, phẩm chất đạo đức nếp sống trên cơ sở đó xây
dựng tập thể sư phạm đoàn kết, cộng đồng trách nhiệm. Muốn đạt được điều này thì
phải làm cho mỗi giáo viên luôn có ý thức phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng
Sản. Mỗi một đảng viên phải thật sự gương mẫu về mọi mặt là hạt nhân của phong
trào quần chúng. Vì vậy phải làm cho giáo viên hiểu được quan điểm đường lối giáo
dục của Đảng, nhiệm vụ của ngành học mầm non bằng cách: Tạo điều kiện cho tất cả

- Chuẩn bị về mặt phát triển thể lực:
Bác Hồ của chúng ta có nói “Một tâm hồn minh mẫn trong một cơ thể cường
tráng”. Thật vậy, một điều kiện quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập
của học sinh là thể lực. Thể lực phát triển tốt tạo điều kiện thuận lợi cho những tư
chất, những yếu tố sinh học với tư cách là tiền đề vật chất của sự phát triển nhân cách.
Chuẩn bị về mặt thể lực không đơn thuần là sự chuẩn bị về lượng phát triển chiều cao
23


và trọng lượng cơ thể mà còn phải chuẩn bị về chất, năng lực làm việc bền bỉ, dẻo dai,
có khả năng chống lại sự mệt mỏi của thần kinh, cơ bắp, độ khéo léo của bàn tay, tính
nhanh nhạy của các giác quan…để có được những phẩm chất đó, giáo viên cần tạo
một chế độ sinh hoạt, ăn uống, nghỉ ngơi, luyện tập… cho trẻ một cách khoa học và
hợp lý cả về thời gian cũng như phù hợp với đặc điểm phát triển riêng của từng trẻ.
Bởi trong thực tế cuộc sống có nhiều trẻ có cơ thể phát triển cân đối, hài hòa về chiều
cao và cân nặng, song khả năng hoạt động hạn chế, kém linh hoạt, dễ mỏi mệt, khả
năng quan sát yếu…Ngược lại, có những trẻ có chỉ số cân nặng, chiều cao dưới mức
trung bình nhưng do tập luyện, các em có khả năng hoạt động bền bỉ, linh hoạt hơn,
các giác quan nhạy bén hơn…
Như vậy, chuẩn bị về mặt thể lực chúng ta không chỉ quan tâm đến sự phát
triển về số lượng mà cần quan tâm đến sự phát triển về chất. Chúng tôi đã chỉ đạo
toàn trường thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt và rèn luyện thể chất cho trẻ một
các hợp lý như:
Đối với nhà bếp: Các cô nuôi dưỡng phải lên thực đơn phù hợp, đảm bảo chế
độ dinh dưỡng trong ăn uống của trẻ, thay đổi thực đơn hàng tuần, chế biến phải phù
hợp, hấp dẫn tạo điều kiện cho trẻ ăn hết suất, ăn ngon miệng…
Đối với giáo viên: Phải thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt của trẻ, vệ sinh
sạch sẽ, hợp lý như: Vệ sinh cá nhân cô, vệ sinh cá nhân trẻ, vệ sinh nhóm lớp, vệ
sinh đồ chơi…và phải thực hiện chương trình rèn luyện thể chất cho trẻ một cách phù
hợp đảm bảo sự an toàn và hứng thú cho trẻ. Kết hợp tuyên truyền với các bậc phụ

được ở trong đầu mỗi khi nhắc đến. Ví dụ: Khi ta nói Ôtô trẻ sẽ hình dung được ở
trong đầu rằng đó là cái gì, dùng để làm gì….qua đó rèn kỷ năng hoạt động trí óc cho
trẻ, chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status