LỜI CẢM ƠN
*****
Qua quá trình trải nghiệm thực tế, đề tài khoa học : “Thực trạng
và việc phát triển năng lực cảm thụ thơ cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi qua
phương pháp đọc thơ diễn cảm của trường mầm non Mạo Khê” của tôi
đã được hoàn thành
Trong quá trình làm đề tài tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
nhiệt tình của cô giáo : Cung Hồng Vân và các thầy cô giáo trong khoa
mầm non.
Để đạt được kết quả này, tôi xin cảm ơn cô giáo Cung Hồng Vân
và các thầy cô trong khoa đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài này.
Nhưng vì thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài này của tôi không tránh
khỏi sai sót, tôi mong nhận được sự góp ý của các thầy cô trong khoa để
đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
T« ThÞ Hoµi
1
PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lý do chọn đề tài :
1, Cơ sở lý luận :
Với tư cách là một quá trình giáo dục, giáo dục được xem như một
quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người. Ơ đây giáo dục
được hiểu theo hai nghĩa :
Hiểu theo nghĩa rộng : Nghĩa xã hội học - Giáo dục là một quá trình
toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có
kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục
và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh
nghiệm xã hội của loài người
Vì lẽ đó mà trong lịch sử nhân loại và trong truyền thống giáo dục của
dân tộc ta có đánh giá rất cao vai trò, vị trí của giáo dục, coi giáo dục là
Tất nhiên con người còn là đối tượng của nhiều ngành khoa học khác
(sinh học, triết học, xã hội học ) ở đây xác định rằng con người là đối
tượng của giáo dục là điều có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với khoa
học giáo dục. Theo ý nghĩa đó trẻ em tuổi mầm non ( 0 đến 6 tuổi )
cũng là đối tượng của giáo dục
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân, nó có chức năng quan trọng và chuẩn bị cho trẻ vào học ở trường
phổ thông
Việc chuẩn bị cho trẻ đi học ở trường phổ thông bao gồm hai nhiệm vụ
cơ bản: Giáo dục toàn diện cho trẻ cả mặt Đức - Trí - Lao - Thể _ Mỹ
và chuẩn bị cho trẻ một số điều kiện đặc biệt cho trẻ lính hội các môn
học mà trẻ sẽ phải học ở trường phổ thông
Trẻ tròn 6 tuổi có sự thay đổi lớn về mặt tâm lý. Đây là một bước
ngoặt quan trọng trong cuộc đời đứa trẻ, là sự chuyển xang một lối sống
mới và những điều kiện hoạt động mới, là chuyển xang một địa vị mới
với người lớn và các bạn cùng trng lứa
Ở tuổi mấu giáo lớn hoạt động chủ dậo của trẻ vẫn là vui chơi, trẻ chưa
thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào của xã hội do đó trẻ học mà chơi,
chơi mà học. Trẻ mầm non nhất là trẻ mẫu giáo lớn ngoài việc vui chơi
trẻ còn được học tập theo 7 môn học : Văn học, toán, chữ cái, thể dục,
taoh hình, âm nhạc, môi trường xung quanh
Trong các bộ môn học đó thì bộ môn văn học có tác dụng rất lớn trong
việc giáo dục trẻ. qua các tác phẩm văn học sẽ giúp trẻ mở rộng nhận
thức về thế giới xung quanh, bồi dưỡng cho trẻ những tình cảm lanh
mạnh, những ước mơ cao đẹp giúp trẻ cảm nhận được vẻ đẹp tự nhiên
trong quan hệ xã hội.
2, Cơ sở thực tiễn :
Qua những lần chuyên đề và thường xuyên thăm lớp dự giờ, tôi nhận
T« ThÞ Hoµi
3
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp đàm thoại
+ Phương pháp giảng giải
+ Phương pháp đọc thơ diễn cảm
+ Phương pháp dạy trẻ đọc thơ
+ Phương pháp sử dụng đồ dụng dạy học
3, Nhóm phương pháp bổ trợ :
T« ThÞ Hoµi
4
a, Phương pháp toán học :
- Là thu thập các số liệu có liên quan tới đề tài, phương pháp này được
thực hiện một cách khách quan, không thông báo trước để tìm ra những
khó khăn và thuận lợi trong quá trình giảng dạy và chăm sóc giáo dục
trẻ trên cơ sở các số liệu đã điều tra tổng hợp và tính tỉ lệ %
b, Phương pháp chuyên gia :
- Có kế hoạch dự định gặp gỡ, trao đổi với chuyên viên mầm non
cũng như phụ trách mảng chuyên môn ở địa phương, phụ trách chuyên
môn ở trường để thu thập ý kiến về những vấn đề của lý luận và thực
tiễn
c, Phương pháp tình cảm :
- Giáo viên gần gũi, trò chuyện với trẻ ở mọi lúc, mọi nơi để quan sát
và xem xét mức độ cảm thụ thơ của trẻ
d, Phương pháp tổng kết :
- Tổng kết lại sau khi đã sử dụng các phương pháp trên
- Ghi lại số liệu kết quả đã đạt được
VI/ Phạm vi nghiên cứu :
- Phát triển khả năng cảm thụ thơ cho trẻ qua phương pháp đọc thơ
diễn cảm
- Trẻ 5 tuổi trường mầm non thị trấn Mạo Khê - Đông Triều - Quảng
Ninh
cho ta biết đó là vật gì
Cảm giác tồn tại một cách thuần khiết chỉ ở trẻ sơ sinh, đặcbiệt là ở
những tuần lễ đầu tiên sau khi mới lọt lòng
- Trong hoạt động nhận cảm ở người lớn bình thường, cảm giác chỉ
thoảng qua giây lát rồi chuyển xang một quá trình khác cao hơn, đó là
quá trình tri giác
+ Tri giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn những thuộc
tính bên ngoài của sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan đang
trực tiếp tác động vào giác quan của chúng ta
+ Tri giác không phải là tổng số các cảm giác riêng lẻ mà là tổ hợp
của nhứng cảm giác do sự vật và hiện tượng bên ngoài gây ra ở con
người. Tri giác chỉ xuất hiện khi con người thiết lập được mối liên hệ
giữa cảm giác để tạo nên trong naoc một hình tượng về sự vật đang tác
động vào ta. Điều đó thực hiện được là nhờ vốn kinh nghiệm của bản
thân với sự tham gia của ngôn ngữ. Do đó tri giác giúp ta nhận thức
hiện tại tuy chỉ ở bên ngoài của sự vật và hiện tượng nhưng đầy đủ hơn.
Chẳng hạn khi ta tri giác quả cam ( Nhận ra quả cam ) tức là ta phản
ánh được những thuộc tính bên ngoài của quả cam, cho ta những cảm
giác về mùi vị, màu sắc, hình thù nếu có. Nhưng đó vẫn chưa phải là
đã tri giác được quả cam, mà điều quan trọng hơn là khi ta biết phối hợp
các cảm giác riêng lẻ nói trên thành một tổ hợp của cảm giác tạo ra hình
ảnh trọn vẹn về quả cam trong đầu, lúc đó mới gọi là tri giác ( hay nhận
ra quả cam )
Tóm lại : Cảm giác và tri giác hay nói tổng quát hơn là hoạt động
nhận cảm giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người, nhờ
đó hoạt động của chúng ta mới được định hướng vào thế giới bên ngoài.
Hoạt động nhận cảm là cơ sở để nảy sinh các quá trình tâm lý phức tạp
hơn như trí nhớ, tưởng tượng, tư duy, tình cảm
II/ Tư duy :
Tư duy là nhận thức cảm tính tuy rất cần thiết đối với cuộc sống con
Với trẻ mẫu giáo lớn, xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới
và những yếu tố ban đầu của kiểu tư duy lôgic
Tư duy trực quan hình tượngmới xuất hiện đó là tư duy trực quan sơ đồ,
kiểu tư duy này tạo cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệ
tồn tại một cách khách quan không bị phụ thuộc vào hành động hay ý
muốn chủ quan của bản thân
Đặc điểm của tư duy sơ đồ :
- Nó ẫn giữ tính chất hình tượng, xong các hình tượng đã bị mất đi
những chi tiết rườm rà mà chỉ còn giữ lại những yếu tố chủ yếu
giúp trẻ phản ánh một cách khái quát về những sự vật chứ không
phải từng sự vật riêng lẻ
- Tư duy trực quan sơ đồ giúp trẻ có hiệu lực để lĩnh hội tri thức ở
trình độ khái quát cao, từ đó trẻ hiểu được bản chất của sự vật hiện
tượng
III/ Chú ý :
Chú ý là trạng thái tâm lí giúp cho quá trình tâm lí định hướng xung
T« ThÞ Hoµi
8
quanh, nhờ đó ta phản ánh chúng được rõ ràng, đầy đủ, chính xác.
Trạng thái chú ý bao giờ cũng đi kèm với những quá trình tâm lý, như
chú ý nghe, chú ý suy nghĩ
Với trẻ mẫu giáo khi xuất hiện một đối tượng mới, lập tức chú ý của
trẻ di chuyển xang đối tượng mới, bởi vậy trẻ chưa có khả năng làm
những công việc khác nhau cùng một lúc
Suốt thời là mẫu giáo do hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp, trí tuệ
của trẻ cúng dần phát triển nên sự chú ý ngày càng tập trung bền vững
hơn, thời gian tập trung kéo dài hơn
Ơ trẻ mẫu giáo lớn chú ý có chủ định phát triển. Việc điều khiển chú ý
có chủ định đòi hỏi trẻ phải biết phục tùng nhiệm vụ được giao, chú ý
có chủ định gắn liền với những hành động có mục đích và trẻ mẫu giáo
đem lòng yêu mến, hay căm ghét những nhân vật trong đó “ nhân cách
hoá” một thi pháp được dùng nhiều trong sáng tác nghệ thuật là một sự
kết hợp hài hoà giữa trí tưởng tượng với tình cảm con người .
Tưởng tượng có gắn bó chặt chẽ vơie trẻ em, tưởng tượng trẻ em lúc
đầu còn rất hạn chế, một mặt có tính chất tái tạo, thụ động, mặt khác có
tính chất không chủ định, đến lứa tuổi mẫu giáo sự tưởng tượng của các
em không chỉ dừng ở tính chất tái tạo mà còn có tính chất sáng tạo
V/ Xúc cảm - tình cảm :
Tình cảm của trẻ phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là tính đồng cảm và
tính dễ xúc động đối với con người và cảnh vật xung quanh, do đó trẻ
dễ hoà nhập với tâm trạng của các nhân vật trong tác phẩm, trẻ thường
biểu hiện những xúc cảm, tình cảm của mình một cách hồn nhiên nên
trẻ thường hay có những hành động, cử chỉ bột phát khi tiếp xúc với các
tác phẩm
B/ Cơ sở ngôn ngữ :
I/ Đặc điểm ngữ âm của trẻ 5 tuổi :
Trẻ mầm non là lứa tuổi có sự phát triển cực nhanh về ngôn ngữ theo
hướng hoàn thiện dần về mặt ngữ âm, từ vựng và nắm các cấu trúc câu.
Tuy vậy, các từ mang ý nghĩa trừu tượng trẻ chưa thể hiểu được
Trẻ ở độ tuổi 3 - 6 tuổi là thời kỳ nghe và phân biệt các loại âm thanh
ngày càng tinh vi. Trẻ bắt chước ngữ điệu câu nói 1 cách dễ dàng, tự
nhiên, tiếp thu, học từ mới nhanh. Trẻ nghe hiểu và trả lời được nhiều
loại câu hỏi. Ơ thời kỳ này trẻ cũng hoàn thiện dần về mặt phát âm. Các
phụ âm đầu, âm chính, âm cuối, âm đệm, thanh điệu dần dần được định
vị. Tuy nhiên ở lứa tuổi này vẫn còn một số cháu phát âm chưa đúng
một vài âm như : Phụ âm đầu hoặc phụ âm cuối của từ, trẻ nói âm nọ
thành âm kia, mỗi trẻ thường hay nói sai một âm riêng. Điều này cũng
thể hiện những đặc điểm riêng ở từng trẻ trong quá trình phát âm. Đến
5 tuổi trẻ có thể phát âm mềm dẻo các loại âm của tiếng mẹ đẻ và phát
âm đúng các âm. Từ một số trường hợp trẻ nói ngọng do : Khuyết tật
III/ Khả năng diễn đạt :
Trong quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 1 - 6 tuổi
cùng với việc nghe, hiểu, luyện tập, phát âm, nắm bắt, tích luỹ, mở rộng
vốn từ, trẻ dần dần nắm bắt các quy tắc ngữ pháp, biết kết hợp các từ
thành câu để thể hiện sự hiểu biết ngày càng phong phú của trẻ với thế
giới xung quanh, ở mỗi giai đoạn, ngôn ngữ của trẻ có những đặc điểm
ngữ pháp riêng
Với trẻ mẫu giáo lớn, trẻ không còn sử dụng câu một từ mà chỉ sử
dụng các loại câu :
- Câu cụm từ
- Câu đơn đầy đủ hai thành phần chủ - vị
- Câu đơn mở rộng các thành phần
- Câu phức hợp :
T« ThÞ Hoµi
11
+ Câu phức hợp đẳng lập
+ câu phức hợp chính phụ
Xét về loại hình câu thì số lượng không tăng, nhưng về cấu trúc của
từng loại câu mà trẻ mẫu giáo 5 tuổi sử dụng đều có sự phát triển
Các thành phần trong câu nói của trẻ từ 4 - 6 tuổi đều được phát triển
từ một từ đến cụm từ rồi đến kết cấu C - V hoặc là câu đơn mở rộng
Sự phát triển các câu nói có cấu trúc tầng bậc này thể hiện bước phát
triển mới ở trẻ từ 4 - 6 tuổi trong nhận thức và trong khả năng biểu hiện
bằng ngôn ngữ của trẻ cũng phong phú hơn
Các câu phức đẳng lập của trẻ ngày càng mở rộng, trẻ có khả năng kể
lại các sự vật đã xảy ra bằng hàng loạt các câu câu đơn nối tiếp
Đến 6 tuổi, các câu phức hợp chính phụ của trẻ cũng đầy đủ các từ
nối, ý của câu nói được diễn đạt rõ ràng, mạch lạc hơn
Tóm lại : đến cuối tuổi mẫu giáo lớn, trẻ có thể sử dụng ngữ pháp
tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo, biết dùng trạng ngữ, trạng từ rất đúng
như bạn bè ngoài xã hội ( làm anh, hai chú bướm, đón bạn, gấu qua
cầu )
Văn học góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ, trẻ
cảm nhận những vể đẹp trong mối quan hệ giữa người với người, vẻ đẹp
trong các hành động cao thượng của các nhân vật trong tác phẩm.
Những tác phẩm viết về đề tài thiên nhiên tạo cho trẻ sự rung động với
vẻ đẹp của thiên nhiên
Tiếp xúc với các tác phẩm thơ trẻ còn được làm quen với ngôn ngữ
giàu đẹp của dân tộc. đây là điều kiện để các em phát triển vốn từ, rèn
luyện cách nói diễn cảm, cách nói giàu hình ảnh quen thuộc của ông cha
như :
Cách so sánh : “ Trăng hồng như quả chín ”
Cách nói nhân hoá : “ Hoa yêu mọi người
Nên hoa kết trái ”.
- Hoa kết trái -
văn học có ý nghĩa rất lớn với việc giáo dục trẻ thơ là những giáo viên
chăm sóc, giáo dục trẻ chúng ta cần biết lựa chọn và sử dụng một cách
thích hợp các tác phẩm văn họcđể phát huy hết tác dụng của phương
tiện này. Tuy nhiên do trẻ chưa biết chữ, nên trẻ tiếp nhận các tác phẩm
văn học nói chung và thể loại thơ nói riêng qua trung gian là giáo viên
( ở trường ) và người lớn ( ở nhà ). Thơ lại là một văn bản nghệ thuệt
ngôn từ, một công trình nghệ thuật nên việc cảm thụ thơđối với trẻ gặp
rất nhiều khó khăn
Để giúp trẻ cảm thụ được các tác phẩm thơ, trước hết cần lưu ý các
điểm sau đây :
Sự cảm thụ tác phẩm thơ ở trẻ là một quá trình thống nhất, trọn vẹn
dựa trên mối liên hệ không ngừng giữa yếu tố nhận thức và cảm xúc, sự
cảm thụ các tác phẩm thơ của trẻ phụ thuộc vào độ tuổi, kinh nghiệm và
cá tính của trẻ. Trong cảm thụ các tác phẩm thơ, trẻ không chỉ cảm thụ
nội dung mà còn cảm thụ cả về nghệ thuật của nó, đặc biệt là yếu tố
+ 2 lớp mẫu giáo bé
+ 2 lớp mẫu giáo nhỡ
+ 2 lớp mẫu giáo lớn
và 11 lớp được nằm rải rác ở các khu lẻ ( ở đây đều là các lớp ghép, độ
tuổi đi học không đồng đều )
3, Đội ngũ giáo viên :
Đội ngũ giáo viên trong trường đạt trình độ chuẩn 100%, trong những
năm gần đây số lượng giáo viên đi học để nâng cao trình độ chuyên
môn ngày càng tăng, trong đó :
+ Trình độ chuyên môn : 08 giáo viên đạt trình độ đại học
16 giáo viên đạt trình độ cao đẳng
25 giáo viên có bằng trung cấp
+ Trình độ chính trị : 20 giáo viên là đảng viên
29 giáo viên là đoàn viên
II/ Tìm hiểu thực trạng :
1, Tìm hiểu về khả năng cảm thụ thơ của trẻ 5 tuổi A trường mầm
non thị trấn Mạo Khê :
Số lượng trẻ : 20 trẻ trai và 17 trẻ gái
Hứng thú của trẻ : Qua quan sát các cháu ở các hoạt động như hoạt
động chung ( tiết làm quen với tác phẩm thơ ) làm quen thơ mới ở hoạt
động chiều, tôi thu hút được kết quả như sau :
% trẻ hứng thú đọc thơ
T« ThÞ Hoµi
15
% trẻ chưa hứng thú đọc thơ
2, Tìm hiểu giáo viên :
2.1, Quan sát :
Qua quan sát ở mọi lúc, mọi nơi, ngôn ngữ của cô Vi Thị Thuỷ ( Giáo
viên chủ nhiệm lớp 5 tuổi A ) chưa chính xác, còn nói ngọng, khả năng
giao tiếp của cô chưa tốt, diễn đạt chưa mạch lạc, không vấp nhưng
16
nhiều nguyên nhân khác nhau
+ Nguyên nhân 1 : Do giáo viên
Trình độ chuyên môn còn thấp : Trung cấp
Trong quá trình đọc thơ cho trẻ nghe còn ngọng, còn vấp
Trong quá trình truyền đạt: Chưa lưu loát, còn ngọng, còn vấp
+ Nguyên nhân 2 : Do gia đình
Khi các cháu về nhà gia đình chưa khuyến khích các cháu đọc thơ, hoặc
trẻ có đọc nhưng gia đình vẫn chưa chú ý việc cháu có cảm thụ được
đến đâu
+ Nguyên nhân 3 : Do trình độ nhận thức của trẻ còn thấp nên khả
năng cảm thụ thơ của trẻ còn chưa cao
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP
1, Nâng cao nhận thức của giáo viên để họ thấy được ý nghĩa của việc
cảm thụ thơ qua phương pháp đọc thơ diễn cảm để từ đó giúp trể có
hứng thú với các tiết văn học hơn
2, Trang bị thêm đồ dùng cho các tiết văn học, tranh minh hoạ, mô hình
3, Tạo điều kiện nâng cao chuyên môn cho giáo viên
4, Khi đọc thơ cho trẻ nghe giáo viên phải :
- Đọc thuộc, chính xác
- Ngắt nghỉ đúng nhịp điệu
- đọc diễn cảm
- Không đọc vấp, ngọng
5, Trong quá trình hướng dẫn trẻ cảm thụ thơ, giáo viên cần phải phân
loại đối tượng trẻ
- Thích đọc thơ, biết cảm thụ thơ
- Từ đó tìm ra phương pháp để trẻ thích đọc thơ, biết cảm thụ thơ
T« ThÞ Hoµi
17
PHẦN 3 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Phần 3 Kết luận và kiến nghị
T« ThÞ Hoµi
20
T« ThÞ Hoµi
21