Một số giải pháp kinh tế kỹ thuật phát triển sản xuất rau an toàn tại xã vạn hòa, thành phố lào cai, tỉnh lào cai - Pdf 35

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Rau xanh là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của
mỗi người. Xã hội càng phát triển thì người tiêu dùng càng quan tâm hơn tới
chất lượng và tính đa dạng, phong phú về chủng loại rau xanh. Thị trường rau
cũng có những đòi hỏi ngày càng cao. Hơn nữa, tình trạng ô nhiễm vi sinh
vật, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất độc hại…ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức
khỏe con người. Do đó, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đối với mặt hàng
nông sản đang được toàn xã hội quan tâm, đặc biệt là mặt hàng rau. Sản xuất
rau an toàn đang là vấn đề quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nhằm bảo
vệ sức khoẻ người tiêu dùng. Đây không chỉ là vấn đề tất yếu của sản xuất
nông nghiệp hiện nay mà còn góp phần nâng cao tính cạnh tranh của nông sản
hàng hoá trong điều kiện Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế
giới, mở ra thị trường tiêu thụ rộng rãi trong và ngoài nước, khuyến khích
phát triển sản xuất.
Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có nhiều lợi thế trong phát
triển sản xuất rau xanh. Những năm gần đây, mặc dù diện tích gieo trồng cây
hàng năm liên tục giảm do quá trình đô thị hoá nhưng diện tích sản xuất các
loại cây thực phẩm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng ngày càng tăng, nhất là
các loại rau, màu thực phẩm. Điều đó chứng tỏ việc chuyển dịch cơ cấu cây
trồng theo hướng tăng diện tích các loại cây thực phẩm có ý nghĩa quyết định
đến tốc độ phát triển của ngành trồng trọt nói riêng và sản xuất nông nghiệp
nói chung. Nhưng thực sự vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được quan
tâm đúng mức, đã gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người.
Trước thực trạng này, ngành nông nghiệp có nhiều biện pháp hướng
dẫn nông dân để sản xuất rau an toàn bằng việc ứng dụng phương pháp quản
lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây rau, màu kết hợp với việc làm mô hình

1





cho người sản xuất, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp kinh
tế-kỹ thuật phát triển sản xuất rau an toàn tại xã Vạn Hòa, thành phố Lào
Cai, tỉnh Lào Cai.”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp kinh tế-kỹ thuật nhằm phát triển
sản xuất rau an toàn tại xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản
xuất rau an toàn tại xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng sản xuất rau an toàn tại xã
Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Phân tích các yếu tố kinh tế-kỹ thuật ảnh hưởng tới sản xuất rau an
toàn trong hộ nông dân xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đề xuất một số giải pháp kinh tế-kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất rau
an toàn tại xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu một số giải pháp kinh tế-kỹ thuật phát triển
sản xuất rau an toàn tại xã Vạn Hòa, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi về nội dung
- Xác định các yếu tố kinh tế-kỹ thuật ảnh hưởng tới sản xuất rau an
toàn trong hộ nông dân.
- Xác định những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức đối với phát
triển sản xuất rau an toàn ở địa bàn nghiên cứu.
- Tìm ra các căn cứ khoa học cho việc đề xuất một số giải pháp kinh tếkỹ thuật phát triển sản xuất rau an toàn trong thời gian tới tại địa phương.

3

các yêu cầu sau:
- Sạch, hấp dẫn về hình thức: tươi, sạch bụi bẩn và tạp chất, thu và
đóng gói đúng độ chín (có chất lượng cao nhất), không có triệu chứng bệnh,
có bao bì vệ sinh hấp dẫn.
- Sạch, an toàn về chất lượng: khi sản phẩm rau chứa dư lượng thuốc
bảo vệ thực vật, dư lượng Nitrat, dư lượng kim loại nặng và lượng vi sinh vật
gây hại không vượt quá ngưỡng cho phép của Tổ chức Y tế thế giới.
(Trần Khắc Thi (1998), Kỹ thuật trồng rau sạch, nxb nông nghiệp, Hà Nội)
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn của Việt Nam đưa ra những
quy định về sản xuất rau an toàn như sau:

5


Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá,
hoa quả) có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hoá
chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho
phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau
đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "rau an toàn".
Các yêu cầu chất lượng của rau an toàn:


Chỉ tiêu về nội chất



Chỉ tiêu nội chất được quy định cho rau tươi bao gồm:




cho từng loại rau, từng điều kiện thực tế của từng địa phương. Để bảo
đảm các yêu cầu về "rau an toàn" cần thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các
quy định sau:

6


- Đất trồng:
Đất để sản xuất "rau an toàn" không trực tiếp chịu ảnh hưởng xấu của
các chất thải công nghiệp, giao thông khu dân cư tập trung, bệnh viện, nghĩa
trang, không nhiễm các hóa chất độc hại cho người và môi trường.
- Phân bón:
Chỉ dùng phân hữu cơ như phân xanh, phân chuồng đã được ủ hoai
mục, tuyệt đối không dùng các loại phân hữu cơ còn tươi như: phân bắc, phân
chuồng, phân rác... Sử dụng hợp lý và cân đối các loại phân (hữu cơ, vô
cơ ...). Số lượng phân bón dựa trên tiêu chuẩn cụ thể quy định trong các quy
trình của từng loại rau, đặc biệt đối với rau ăn lá phải kết thúc bón trước khi
thu hoạch sản phẩm 15-20 ngày. Có thể dùng bổ sung phân bón lá (có trong
danh mục được phép sử dụng ở Việt Nam) và phải theo đúng hướng dẫn. Hạn
chế tối đa sử dụng các chất kích thích và điều hòa sinh trưởng cây trồng.
- Nước tưới:
Chỉ dùng nước giếng khoan, nước từ các sông suối hồ lớn... không bị ô
nhiễm các chất độc hại. Tuyệt đối không dùng trực tiếp nước thải từ công
nghiệp, thành phố, bệnh viện, khu dân cư nước ao, mương tù đọng.
- Phòng trừ sâu bệnh:
Phải áp dụng phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên
nguyên tắc hạn chế thấp nhất sự thiệt hại do sâu bệnh gây ra; có hiệu quả kinh
tế cao, ít độc hại cho người và môi trường, do đó cần chú ý các biện pháp
chính sau:
+ Giống:

nguồn cung cấp Vitamin phong phú như các loại Vitamin A, B, C, D, E, K,
các loại axit hữu cơ và khoáng chất như Ca, P, Fe rất cần thiết cho sự phát
triển của cơ thể con người mà nhiều thành phẩm khác nhau không thể thay thế
được. Rau không chỉ cung cấp Vitamin và khoáng chất mà còn có tác dụng
chữa bệnh, chất xơ trong rau có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim, huyết áp và
bệnh đường ruột, Vitamin C giúp ngăn ngừa ung thư dạ dày và lợi. Vitamin D
trong rau giàu Caroten có thể hạn chế những biến cố về ung thư phổi.

8


Khi lương thực và nguồn đạm động vật đã được đảm bảo thì nhu cầu về
số lượng và chất lượng rau xanh càng tăng lên. Người ta xem rau như một
nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Phát triển rau
có ý nghĩa rất lớn về kinh tế, xã hội, tạo việc làm và tận dụng lao động, đất và
nguồn tài nguyên cho hộ gia đình.
Trồng rau không những tận dụng được đất đai mà còn tận dụng được
lao động và tư liệu sản xuất khác, cây rau có giá trị kinh tế cao, một hecta
trồng rau mang lại thu nhập gấp 2-5 lần so với trồng lúa. (Phạm Vân Đình, Đỗ
Kim Chung (1998), Giáo trình kinh tế nông nghiệp, Trường ĐH nông nghiệp
I Hà Nội). Vì vậy, trồng rau mang lại cho người lao động thu nhập cao hơn.
Ngoài ra, rau còn là nguồn xuất khẩu quan trọng, là nguồn nguyên liệu
cho chế biến. Sản xuất rau có ý nghĩa trong việc mở rộng quan hệ quốc tế,
góp phần làm tăng nguồn thu nhập ngoại tệ cho nền kinh tế quốc dân trên con
đường CNH-HĐH. Sản xuất rau tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị
kinh tế cao như bắp cải, cà chua, dưa chuột, … đóng góp một phần đáng kể
vào sản xuất chung của cả nước và mở rộng quan hệ quốc tế.
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh ở
miền Bắc nên thích nghi với việc trồng rau ôn đới, nếu khai thác tốt vụ đông
sẽ có khối lượng rau lớn để xuất khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

vật, do vậy người sản xuất khi sử dụng phải tuân thủ đúng quy định (đúng liều
lượng, loại thuốc, thời hạn sử dụng…) thì sản phẩm rau vừa cho năng suất cao
vừa đảm bảo chất lượng.
- Rau an toàn đòi hỏi về tiêu chuẩn của thị trường rất nghiêm ngặt. Do
vậy, người sản xuất rau an toàn phải đáp ứng đầy đủ các quy định, tiêu chuẩn
của quy trình sản xuất thì mới có thể tồn tại trên thị trường.
- Do quá trình sản xuất phải đảm bảo theo những tiêu chuẩn cho trước
nên sản xuất rau an toàn phải tuân thủ những quy định ngặt nghèo về kỹ thuật,
đòi hỏi mức độ đầu tư vật chất, lao động cao hơn sản xuất rau bình thường
trong khi năng suất và sản lượng thấp hơn là nguyên nhân chính dẫn tới giá
bán loại rau này trên thị trường cao hơn nhiều lần so với những sản phẩm rau

10


cùng loại sản xuất trong điều kiện bình thường, điều này dẫn đến hạn chế sức
mua của người tiêu dùng.
- Rau an toàn là sản phẩm tươi sống khó vận chuyển và khó bảo
quản, nên thường tiêu thụ tại chỗ. Rau phục vụ cho nhu cầu thiết yếu hàng
ngày, được tiêu thụ đều trong các tháng trong năm. Mặt khác, tiêu thụ rau ở
nước ta diễn ra quanh năm nên việc thị trường rau diễn ra ổn định, ít co
giãn về mặt cung cầu. Hơn nữa, mỗi người dân chỉ có thể tiêu thụ một
lượng rau nhất định, do đó sự biến động về giá rau không tác động lớn tới
khối lượng rau tiêu thụ.
- Tiêu thụ rau mang tính thời vụ rõ rệt, biểu hiện qua lượng cung và giá
rau, hai yếu tố nay biến động tỷ lệ nghịch với nhau. Sự khan hiếm rau ở đầu
vụ và cuối vụ dẫn tới giá bán tăng cao và giảm hẳn vào chính vụ do lượng
cung trên thị trường tăng lên.
(Đào Duy Tâm (2004), Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh sản xuất và tiêu
thụ rau an toàn trên địa bàn Hà Nội, luận văn thạc sĩ kinh tế, trường ĐH nông

(Ngô Thị Thuận (2005), Phát triển năng lực tập huấn trong nông nghiệp
nông thôn, nxb nông nghiệp, Hà Nội)
2.1.6 Khái niệm phát triển sản xuất rau an toàn
Phát triển sản xuất rau an toàn là mở rộng về quy mô, sản lượng, chủng
loại và chất lượng rau an toàn. Sản phẩm rau an toàn có thị trường tiêu thụ ổn
định và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Sự phát triển sản xuất rau an toàn không những đáp ứng được nhu cầu
trong nước mà còn trở thành mặt hàng xuất khẩu. Bên cạnh đó, nó còn mang
lại những lợi ích về mặt xã hội và môi trường.
2.1.7 Khái niệm kinh tế
Kinh tế là khoa học về phân tích việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm để
đạt được những mục tiêu trông đợi. Thông thường khoa học kinh tế liên quan đến:
- Việc ra quyết định những phương thức để sử dụng các nguồn lực có hạn
- Thỏa mãn nhu cầu đa dạng của con người
- Tính đến hành vi và việc ra quyết định của con người để sử dụng

12


những nguồn lực đã có
(Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1998), Giáo trình kinh tế nông nghiệp,
Trường ĐH nông nghiệp I Hà Nội)
2.1.8 Khái niệm kỹ thuật
Kỹ thuật là các thao tác, phương tiện sử dụng để đạt được hiệu quả sản
xuất tối đa mà mất ít công sức nhất.
2.1.9 Khái niệm giải pháp kinh tế-kỹ thuật phát triển sản xuất rau an
toàn
Giải pháp kinh tế-kỹ thuật phát triển sản xuất rau an toàn là cách giải
quyết những vấn đề khó khăn trong sản xuất rau an toàn nhằm nâng cao năng
suất, chất lượng, quy mô, chủng loại rau an toàn... để vừa đảm bảo các yêu cầu

cường công tác khuyến nông, marketing trong nông nghiệp để cung cấp cho
người nông dân những thông tin về cung, cầu, giá cả thị trường nhằm hạn chế
rủi ro do thiên tai và biến động thị trường gây ra.
- Đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ cho người nông dân các kiến thức
về kỹ thuật, thị trường... Áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nhằm nâng
cao năng suất cây trồng và chất lượng sản phẩm.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng và vốn đầu tư cho sản xuất rau an toàn: các
địa phương có kế hoạch đầu tư hệ thống thủy lợi, thông tin, giao thông nhằm
tạo thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rau an toàn. Huy động nguồn
vốn tự có trong các hộ gia đình; hỗ trợ kinh phí tổ chức các lớp tập huấn nâng
cao trình độ kỹ thuật, tài liệu, tham quan, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý,
trình độ khoa học kỹ thuật sản xuất rau an toàn. Có các chính sách vay vốn, lãi
suất ưu đãi đối với người sản xuất rau an toàn tùy theo nhu cầu vay ngắn hạn
hay trung hạn để mua vật tư nông nghiệp, giống cây trồng, đầu tư mở rộng
diện tích, làm nhà lưới... Ngoài ra tăng cường liên doanh, liên kết với các tổ
chức để tạo vốn đầu tư cho sản xuất rau an toàn.
- Xúc tiến thương mại: quảng bá sản phẩm, mở hội nghị khách hàng
nhằm giới thiệu rau an toàn đến người tiêu dùng
- Tổ chức thực hiện: phối hợp liên kết “4 nhà” trong sản xuất rau an

14


toàn nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất rau an toàn.
- Cơ chế chính sách: Các cơ quan chức năng ban hành các tiêu chuẩn vệ
sinh đối với sản xuất rau an toàn, các quy định về điều kiện sản xuất, lưu
thông, kiểm tra và giám sát thực hiện. Các cấp, các ngành quan tâm tới việc
tuyên truyền, mở rộng thị trường, thường xuyên kiểm tra chất lượng rau an
toàn và có các chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất rau an toàn
theo hướng xanh, sạch và bền vững.

lượng rau tươi nhưng sản lượng trung bình của các loại rau Ấn Độ còn thấp
hơn so với các nước khác trên thế giới. Hiện tại ở Ấn Độ, nguyên liệu rau tươi
không đủ để cung cấp cho các nhà máy chế biến.
Các loại rau như : khoai tây, cà chua, hành, bắp cải và súp lơ có tổng
khối lượng chiếm khoảng 60% sản lượng rau của Ấn Độ. Rau tươi của Ấn Độ
hiện được trồng phổ biến trên đồng ruộng, trái ngược với các quốc gia phát
triển, hiện tại ở các quốc gia phát triển họ đang sử dụng kỹ thuật trồng rau
trong nhà, kỹ thuật này sẽ giúp cho sản lượng rau đạt kết quả cao hơn nhiều.
Ngành sản xuất rau tươi của Ấn Độ đang đề nghị chính phủ giúp đỡ nguồn
nguyên liệu trồng trọt có chất lượng tốt, giảm sử dụng hạt giống lai, nâng cao
trình độ quản lý và trình độ kỹ thuật để tăng sản lượng rau của Ấn Độ.
( />ID=20&LangID=1&tabID=2&NewsID=1770)
- Hàn Quốc
Tổng giá trị sản xuất rau ở Hàn Quốc đến năm 1992 khoảng 7 tỷ USD
với tổng diện tích gieo trồng rau là 356 nghìn ha. Từ năm 1970 đến 1992,
tổng diện tích đất trồng trọt giảm 10,6% nhưng riêng diện tích trồng rau vẫn
tăng 1,46 lần.

16


Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, khó khăn lớn nhất trong phát
triển rau là thiếu lao động nông thôn do đó tiền lương cho thuê lao động trong
tổng chi phí cao, giá rau hàng năm vẫn chưa giải quyết được. Do đó phải tập
trung nghiên cứu các vấn đề để tìm cách làm ổn định giá rau, làm thế nào để
nông dân giảm giá thành sản xuất, để đứng vững trước sự cạnh tranh khốc
kiệt của thị trường.
- Đài Loan
Sản xuất rau của Đài Loan tập trung ở phía Đông và Nam của đất nước.
Với tổng diện tích trồng rau là 188 nghìn ha, sản lượng đạt 2,8 triệu tấn với

châu Á cho thấy: phần lớn các nước châu Á có điều kiện phát triển sản xuất
rau quanh năm. Đa số các nước có diện tích gieo trồng hàng năm tăng, riêng
Đài Loan có xu hướng giảm, năng suất chưa cao 10 tấn/ha. Thị trường tiêu
thụ rau đa dạng, mỗi nước có một cách tổ chức sản xuất và phân phối sản
phẩm khác nhau. Nhu cầu tiêu dùng rau bình quân đầu người còn thấp. Các
nước đang phát triển gặp một số khó khăn trong sản xuất rau như: thiếu giống
tốt, tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón còn chưa đúng liều
lượng, kỹ thuật, người dân còn thiếu thông tin về thị trường, cơ sở hạ tầng
kém, đầu tư cho phát triển sản xuất rau còn hạn chế.
2.2.2 Kinh nghiệm sản xuất rau an toàn ở Việt Nam
Việt Nam là một nước đang phát triển, nên trong thời gian dài chúng ta
tập trung chủ yếu giải quyết vấn đề tăng năng suất, đảm bảo đủ nhu cầu lương
thực, thực phẩm. Tuy nhiên, hiện nay, mục tiêu của người tiêu dùng đang yêu
cầu ngày càng cao các nông sản phải có chất lượng tốt và an toàn vệ sinh thực
phẩm. Thực tế rau an toàn của Việt Nam chưa đáp ứng được các yêu cầu tiêu
chuẩn quốc tế, do đó chỉ mới tiêu thụ chủ yếu trong nước. Để giải quyết vấn
đề trên, năm 2008 Bộ đã ban hành Quy định thực hành sản xuất nông nghiệp
tốt (VietGAP) trong sản xuất rau, quả, chè an toàn; Quyết định số
84/2008/QĐ-BNN về Quy chế chứng nhận VietGAP; Quyết định số
99/2008/QĐ-BNN về quản lý và kinh doanh rau, quả và chè an toàn. Thủ
tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg về một số

18


chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn nhằm tạo
động lực thúc đẩy áp dụng VietGAP vào sản xuất.
Trong những năm gần đây, diện tích trồng rau an toàn của nước ta tăng
nhanh. Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm
2008, tổng diện tích rau của cả nước là 722 nghìn ha, năng suất trung bình đạt

Tổng
diện
tích
rau
(nghìn
ha)

Năng
suất
(tạ/ha
)

Sản
lượng
(nghìn
tấn)

Đến tháng 7 năm 2009
Diện
Số
tích đã
Diện
vùng
Diện
chưng
tích đã
sản
tích
nhận
quy

219,3
22
Hải Phòng
13,1 218,3
286,0
2.500
600
57,0
3
Vĩnh Phúc
8,5 169,1
143,7
1.500
20,0
Hải Dương
30,5 195,5
596,3
3.000
4.800
378,0
Bắc Ninh
10,3 177,9
183,2
800
2,0
13
Hưng Yên
12,1 185,5
224,5
196

thế giới biết đến. Hơn nữa nhu cầu của con người về thực phẩm an toàn vệ
sinh ngày càng cao, đây cũng là một trong những điều kiện thuận lợi để phát
triển sản xuất rau an toàn. Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp Việt Nam mở rộng
quan hệ với các nước trên thế giới, như vậy sẽ có nhiều dự án hỗ trợ nông dân
sản xuất rau an toàn. Để nông sản Việt Nam có thể xuất khẩu với sản lượng
cao và chất lượng tốt, Bộ nông nghiệp đã xây dựng quy trình nông nghiệp an
toàn (VietGAP) dựa vào bộ khung chung về tiêu chuẩn GAP.
Bên cạnh những cơ hội khi gia nhập WTO, nông nghiệp Việt Nam
cũng gặp không ít những thách thức. Đối với sản xuất rau an toàn Việt Nam
còn gặp nhiều khó khăn, thách thức như: diện tích canh tác nhỏ lẻ, quy trình
sản xuất và lưu thông chưa đồng bộ, chi phí đầu tư lớn nên giá thành sản xuất
cao dẫn đến khó khăn trong tiêu thụ rau. Nhiều vùng sản xuất rau an toàn rơi
vào vùng quy hoạch. Hơn nữa, mạng lưới tiêu thụ còn hạn hẹp. Chất lượng
rau an toàn khó kiểm soát do rau đưa ra thị trường tiêu thụ chưa có nhãn hiệu
và giấy chứng nhận của các cơ quan chức năng. Bên cạnh đó, người sản xuất
chưa kiểm soát được sâu bệnh nên chưa hạn chế được việc sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật. Các cấp chính quyền còn chưa thực sự quan tâm tới sản xuất rau

21


an toàn, một số đại phương thương hiệu còn mang tính phiếm diện chạy theo
số lượng, thành tích nên thiếu tính bền vững.
2.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan
a/ Đinh Đức Huấn, “Nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ rau sạch tại
trung tâm kỹ thuật rau hoa quả Hà Nội”, 2001
Qua điều tra khảo sát tình hình sản xuất và tiêu thụ rau sạch tại Trung
tâm kỹ thuật rau hoa quả Hà Nội, nghiên cứu phân tích một số yếu tố ảnh
hưởng đến quá trình sản xuất rau sạch, đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản
xuất và tiêu thụ rau sạch đòng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao

- Nhận định và đánh giá chung
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập số liệu trên địa bàn thành phố nhiều năm qua để phân tích về
số lượng nhằm dự báo được nhu cầu tiêu dùng rau thời kỳ tiếp theo.
- Trên cơ sở phân tích số liệu về chất lượng rau để thúc đẩy sản xuất
rau sạch, rau an toàn đến năm 2010.
- Điều tra, dự báo nhu cầu tiêu dùng rau để triển khai kế hoạch mở rộng
diện tích gieo trồng rau an toàn.
c/ Hồ Thanh Sơn, Bùi Thị Thái và Nguyễn Văn Tình, Báo cáo đánh giá hoạt
động sản xuất rau sạch tại huyện Tam Dương, Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh phúc,
2001
* Vấn đề nghiên cứu
- Đánh giá tính hiệu quả của dự án về hoạt động sản xuất rau sạch tại
huyện Tam Dương, Bình Xuyên
- Đánh giá sự ảnh hưởng của dự án đến sự phát triển của địa phương
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu (Thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp, điều
tra khảo sát)
- Phương pháp tổng hợp, phân tích thống kê kinh tế
* Kết quả nghiên cứu
- Lợi ích của dự án về mặt xã hội

23


- Tính xác đáng về mặt thị trường
- Tác động kinh tế kỹ thuật của hoạt động trồng rau sạch
- Hoạt động của các nhóm sản xuất rau sạch và các mối quan hệ về mặt
thị trường, thể chế.



25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status