Mục lục
Mở đầu............................................................................................2
Nội dung
I.Ngân hàng thơng mại và thị trờng chứng khoán..............3
1.Chức năng của NHTM..................................................................3
2.Nghiệp vụ của NHTM...................................................................4
II.Nghiệp vụ của NHTM trên TTCK..............................................8
1.Chức năng của thị trờng chứng khoán..........................................8
1.1 TTCK và đối tợng giao dịch của nó.....................................8
1.2 Chức năng của TTCK...........................................................9
2.Mối quan hệ giữa NH và TTCK................................................10
3.Các nghiệp vụ của NHTM trên TTCK........................................11
III.NHTM đối với sự ra đời và hoạt động của TTCK VN..........14
1.Tính tất yếu của việc hình thành và phát triển TTCK ở VN 14
2.Hoạt động của NHTM VN nhằm thúc đẩy sự hình thành và
phát triển TTCK.............................................................................17
3.Một số vấn đề còn tồn tại trong quá trình hoạt động TTCK VN19
4.Một số yêu cầu đối với NHTM VN hiện nay.................... .....25
kết luận......................................................................................31
Tài liệu tham khảo..............................................................32
1
Mở đầu
NHTM là những tổ chức tài chính, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài
chính tiền tệ, một lĩnh vực luôn diễn ra sự cạnh tranh mạnh mẽ không chỉ trong
cùng hệ thống mà còn cả đối với các tổ chức khác ngoài hệ thống. Điều này đã
khiến cho NHTM phải luôn tự cải tiến phơng thức và mở rộng phạm vi hoạt động
để có thể cạnh tranh với đối thủ của mình. Ngày nay một NHTM có khả năng cạnh
tranh cao không chỉ ở việc ngân hàng đó đa ra mức lãi suất cạnh tranh hấp dẫn mà
thanh toán.
Chức năng này là sự kế thừa và phát triển chức năng thủ quỹ của các doanh
nghiệp. Chức năng làm trung gian thanh toán gắn bó chặt chẽ và hữu cơ với chức
năng trung gian tín dụng: ngân hàng dùng số tiền gửi của ngời này để cho ngời
khác vay.
Với chức năng làm thủ quỹ của các doanh nghiệp, ngân hàng quản lý tiền gửi
của họ, thực hiện việc thu chi một cách tiện lợi, nhanh chóng, nhất là đối với những
khoản thanh toán có giá trị lớn. Thông qua hệ thống ngân hàng, mọi khoản thanh
toán giữa các chủ thể kinh tế tiết kiệm đợc nhiều chi phí, mọi quan hệ thanh toán đợc thực hiện thông qua các tài khoản của các chủ thể.
Trong khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lu thông
tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó ( sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh
toán.. ) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lu thông, đẩy nhanh tốc độ luân
độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lu thông hàng hoá. Ngày nay không chỉ làm
trung gian thanh toán truyền thống nh trớc, ngân hàng còn quản lý các phơng tiện
thanh toán.
b. Chức năng tạo tiền
Chức năng này đợc thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng và đầu t của
NHTM. Quá trình tạo tiền này đợc tiến hành với giả định rằng tất cả các Ngân hàng
Thơng mại đều có dự trữ vợt quá ER=0 và tiền mặt trong lu thông C=0
Đó là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu (R) tại một ngân hàng đầu tiên thành
khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần (D) khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng thanh
toán qua nhiều ngân hàng
3
D=1/rr*R
Trong đó rr là tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Nh vậy NHTM có vai trò rất quan trọng
trong việc đáp ứng những nhu cầu về vốn cho tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng,
nhằm mục đích duy trì và phát triển sản xuất xã hội.
c. Chức năng trung gian tài chính
4
Tài sản có
Các khoản dự trữ
Các khoản tiền cho vay
Các khoản đầu t
Các khoản tiền mặt trong quá trình
thu
5. Tiền gửi trong các ngân hàng khác
6. Sử dụng vốn khác
1.
2.
3.
4.
Tài sản nợ
1.Tiền gửi không kỳ hạn
2.Tiền gửi tiết kiệm
3.Tiền đi vay
+vay từ dân c
+ Vay của NHTM khác
+ Vay chiết khấu ở NHTƯ
4. Vốn tự có
5.Nguồn vốn khác
Các ngân hàng thu nhận vốn bằng cách phát hành (bán) những tài sản rồi vốn
này có thể đợc dùng để mua những tài sản có mang lại thu nhập.
a. Nghiệp vụ nợ:
gồm dự trữ bắt buộc và dự trữ vợt quá. Ngoài ra còn có tiền mặt trong quá trình thu,
tiền gửi của các NHTM khác.
+ Hoạt động cho vay: là việc NHTM nhờng quyền sử dụng vốn của mình cho ngời
khác trong một thời gian nhất định. Và kết thúc thời gian đó NHTM sẽ đợc hoàn trả
cả vốn và lãi.
Ta có thể phân loại các khoản cho vay của NHTM theo các tiêu thức khác nhau .
- Căn cứ vào thời gian, có: tín dụng ngắn hạn ( từ 12 tháng trở xuống ), tín dụng
trung hạn ( từ 1 đến 5 năm ) và tín dụng dài hạn ( từ 5 năm trở lên ).
- Căn cứ vào tài sản thế chấp, gồm: cho vay có tài sản thế chấp ( cho vay cầm
cố, cho vay chiết khấu và cho vay thế chấp ) và cho vay không có tài sản thế chấp
( cho vay tín chấp và cho vay bảo lãnh )
- Căn cứ vào quy mô của vốn vay, gồm: cho vay trong hạn mức, ngoài hạn mức
và cho vay quá ngạch
+ Đầu t: NHTM dùng nguồn vốn của mình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh
doanh với t cách là ngời góp vốn nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, nâng cao khả
năng thanh khoản, đa dang hoá các dịch vụ thanh toán nhằm phân tán rủi ro; thâm
nhập, thao túng nền kinh tế. Thông qua đó NHTM nắm đợc những thông tin hoàn
hảo, đồng thời củng cố va nâng cao đợc uy tín của mình.
+ Sử dụng vốn khác: đây là những khoản tiền không thờng xuyên ổn định .
c. Ngiệp vụ trung gian
NHTM cung cấp các dịch vụ cho khách hàng
- Thực hiện dịch vụ chuyển tiền cho khách hàng
- Thanh toán không dùng tiền mặt cho khách hàng dới các hình thức: uỷ nhiệm
thu, uỷ nhiệm chi, các loại séc, thẻ tín dụng....
- Thực hiện mua bán hộ tài sản( nh vàng bạc , đá quý) và bảo quản tài sản
- NHTM thực hiện việc thanh toán các chứng khoán
- NHTM tham gia tích cực vào việc định giá chứng khoán
6
Các chứng từ tài chính có nguồn gốc CK:
Kỳ phiếu là chứng chỉ của Nhà nớc phát hành với mục đích vay vốn của
các tổ chức kinh tế xã hội, các tầng lớp dân c để bù đắp thâm hụt NSNN. Trong vài
năm trở lại đây, kho bạc Nhà nớc phát hành kỳ phiếu rộng rãi trong cả nớc.
Các hợp đồng tơng lai là loại hợp đồng trong đó ngời bán cam kết giao
một số hàng hoá hay CK và ngời mua sẽ trả tiền khi nhận hàng hoá hay CK với giá
7
nhất định, tại một ngày nhất định trong tơng lai đợc xác định trớc ở hiện tại tại thời
điểm ký kết hợp đồng.
Các quyền lựa chọn là một kiểu hợp đồng trong đó một bên cho bên kia đợc mua hoặc bán một khối lợng CK nào đó với giá xác định trong một thời hạn
nhất định.
Giấy bảo đảm quyền mua cổ phiếu gồm chứng quyền và chứng khế.
Chứng quyền là quyền u đãi mà công ty cổ phần cho cổ đong đợc hởng dể mua cổ
phiếu mới tỷ lệ với số cổ phiếu mà họ đang nắm giữ. Chứng khế đợc phát hành với
một loại CK khác, cho phép ngời sở hữu nó đợc quyền mua cổ phiếu thờng theo giá
định trớc gọi là giá đặt mua trong thời hạn nhất định.
1.2 Chức năng của TTCK
a. Huy động vốn đầu t cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu t mua CK do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của
họ đựơc đa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản
xuất xă hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu t cho công ty, TTCK đã có những
tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thông qua
TTCK, chính phủ và chính quyền ở các địa phơng cũng huy động đợc các nguồn
vốn cho mục đích sử dụng và đầu t phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu
chung của xã hội
b.Cung cấp môi trờng đầu t cho công chứng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trờng đầu t lành mạnh với các cơ
ràng TTCK chỉ có thể phát triển vững chắc trên cơ sở một hệ thống NH phát triển
lành mạnh và ddợc kiểm soát tốt. Mối quan hệ giữa NH với TTCK đợc thể hiện trên
các mặt sau:
a) TTCK chỉ có thể ra đời và phát triển trên cơ sở hệ thống tiền tệ ổn định. Đặc
biệt là chỉ số lạm phát, tỷ giá và vấn đề lãi suất có ảnh hởng rất lớn đến giá cả CK.
Kinh nghiệm của Hong Kong cho thấy khi các nhà chức trách Hong Kong nâng lãi
suất lên 200-300% để duy trì tỉ giá đã ảnh hởng ngay đén TTCK làm cho giá CK bị
giảm ghê gớm vào ngày 23/10/1997.
b) TTCK có quan hệ chặt chẽ với hệ thống các thị trờng vốn ngắn hạn nh thị trờng vốn tín dụng, thị trờng hối đoái và thị trờng tiền tệ. Các thị trờng ngắn hạn này
là địa bàn hoạt động và quản lý của các NH. Mối quan hệ giữa TTCK và thị trờng
ngắn hạn là mối quan hệ giữa vốn ngắn hạn và vốn dài hạn. Rõ ràng thị trờng ngắn
hạn hoạt động ổn định và không ngừng phát triển sẽ là tiền đề quan trọng cho sự
phát triển của TTCK. Bởi vậy bất kỳ chính sách tiền tệ nào của NHTƯ sẽ tác động
đến thị trờng ngắn hạn và có ảnh hởng đến thi trờng vốn dài hạn.
c) Các NHTM là những tổ chức đóng vai trò tích cực trong hoạt động kinh
doanh CK dới hình thức trực tiếp hay gián tiếp tuỳ theo từng nớc. Bởi vậy hệ thống
các NHTM hoạt động lành mạnh và đợc NHTƯ kiểm soát và giám sát chặt chẽ sẽ
có ảnh hởng lớn đến tính lành mạnh của TTCK.
d) Hoạt động giao dịch mua bán trên thị trờng tài chính cuối cùng đi đến việc
thanh toán chuyển giao chứng khoán và tiền tệ. Quá trình thanh toán chỉ có thể
thực hiện đợc thông qua hệ thống thanh toán của NHTM và cả NHNN.
3. Các nghiệp vụ của NHTM trên TTCK
NHTM có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển TTCK cả
đối với thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp. Bởi vì, NHTM vốn là yếu tố quan
9
trọng nhất trên thị trờng tài chính, nó giữ vai trò trung gian huy động và cung ứng
toàn bộ vốn cho nền kinh tế.
NHTM với khả năng chuyên môn và quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp
biệt nh số phát hành khá lớn, các NHTM có thể cùng nhau chia sẻ việc dự định số
phát hành này nhằm giảm thiểu rủi ro. Bên cạnh đó, NHTM còn thực hiện chiết
khấu các loại CK cho khách hành. Nhờ đó nâng cao tính thanh khoản của hàng hoá
10
CK, hấp dẫn các cá nhân và tổ chức sẵn sàng mua KC trên thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp.
3.2. NHTM là ngời môi giới có nhiều u thế nhất trên TTCK
Ngời môi giới là thành viên quan trọng của TTCK. Xuất phát từ chức năng làm
thủ quỹ cho các doanh nghiệp, các NHTM luôn là ngời am hiểu tờng tận, nắm đợc
thông tin đầy đủ chính xác về các công ty phát hành CK. Hơn nữa, NHTM có đội
ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng có nghiệp vụ chuyên môn liên quan chặt chẽ với
nghiệp vụ KC, có sẵn những phơng tiện vật chất kỹ thuật cần thiết và phù hợp với
ngời môi giới.
Với u thế đó NHTM giúp khách hàng lựa chọn đợc những cơ hội đâu t có lợi,
tiết kiệm đợc chi phí giao dịch, xác định đợc thời điểm mua CK tốt nhất. Nh thế nó
mang lại lợi ích cho cả ngời mua và ngời bán CK, thúc đẩy TTCK hoạt động sôi
động hơn, hiệu quả hơn.
3.3. NHTM cung cấp dịch vụ lu trữ và quản lý chứng khoán
Dịch vụ này đợc thực hiện theo hai cách : ngân hàng có thể giữ các CK đợc sử
dụng nh vật thế chấp cho khoản vay của khách hàng. Hay những cá nhân tổ chức có
thể nhờ ngân hàng quản lý sinh lời tài sản của họ và giao các chứng khoán cho
ngân hàng quản lý .
Ngân hàng có thể bảo quản những CK này dới nhiều hình thức khác nhau.
Đồng thời, khách hàng cũng có thể yêu cầu NHTM thực hiện những dịch vụ liên
quan đến CK nh thu hồi vốn các CK đáo hạn, thu lãi cổ tức và ghi có vào tài khoản
của họ ...
Vai trò này xuất phát từ chức năng trung gian tài chính của NHTM . Cũng nh
vai trò của ngời môi giới, việc thực hiện vai trò này đem lại cho NHTM nguồn thu
đáng kể đồng thời giúp cho ngời mua bán CK giảm khoản chi phí, thời gian, tăng
hàng có thể bị mất vốn hoặc thu hồi vốn không đầy đủ, có khách hàng không có ý
thức trả nợ, hoặc không có khả năng trả nợ...). Chính vì vậy, với mục đích phân tán
rủi ro ngân hàng có thể dùng vốn của mình để đầu t CK ở những công ty có triển
vọng thu lợi nhuận cao. Vì ngân hàng có đợc những thông tin chính xác về tình
hình làm ăn của công ty, kết hợp với sự phân tích và tài phán đoán về triển vọng của
công ty trong tơng lai sẽ giúp cho ngân hàng có đợc sự lựa chọn đúng đắn mua CK
cho chính mình.
II. NHTM với sự ra đời và hoạt động của TTCK việt nam
1. Tính tất yếu của việc hình thành và phát triển TTCK ở Việt Nam
Sau hơn 10 năm đổi mới nền kinh tế nớc ta đã có sự thay đổi căn bản, từ nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế của nhà nớc. Nền kinh tế đã đạt đợc những thành tựu nhất định,
đời sống nhân dân từng bớc đợc cải thiện .
Hiện nay, chúng ta đang tập trung mọi nguồn lực để thực hiện công cuộc công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Nhu cầu vốn lúc này rất lớn và cấp bách. Nhng
vấn đề đặt ra là có thể huy động vốn từ những nguồn nào?
Có thể trông chờ vào vốn vay từ nớc ngoài ( vốn ODA, vốn vay thơng mại ...)
vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài ( FDI ). Nhng huy động vốn từ những nguồn này
còn nhiều hạn chế nh phụ thuộc nặng nề vào kinh tế thế giới và gánh nặng nợ nớc
ngoài, sử dụng vốn FDI cũng chỉ hớng vào một số lĩnh vực và hạng mục công trình.
Do đó để chủ động tạo ra nhiều vốn đầu t thì vẫn phải từ nội bộ nền kinh tế là chủ
yếu. Nhng không trông chờ nhiều từ nguồn ngân sách nhà nớc vì ngân sách nhà nớc thờng xuyên bị thâm hụt. Việc phát hành công trái không thành công do lãi suất
thấp, do dân chúng cha quen. Phát hành trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình
12
( nh đờng dây 500KV) và trái phiếu của các ngân hàng quốc doanh tuy lãi suất cao
nhng bị hạn chế bởi khả năng luân chuyển. Do đó ngời dân vẫn còn ngần ngại
trong đầu t. Hơn nữa hệ thống ngân hàng tuy đã đợc đổi mới nhng tính độc quyền
còn cao, cạnh tranh kém, dịch vụ nghèo nàn cha thực hiện hết các chức năng của
13
Chúng ta đang từng bớc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật: đã ban
hành luật công ty, Luật doanh nghiệp t nhân, Luật đầu t nớc ngoài có bổ sung, hoàn
thiện, bớc đầu đã có sức hấp dẫn và thu hút đầu t trong và ngoài nớc.
Từ 1988, nhất là từ khi hai pháp lệnh ngân hàng ra đời năm 1990, hệ thống
ngân hàng Việt Nam đã có sự thay đổi về chất, từ hệ thống ngân hàng một cấp
thành hệ thống ngân hàng hai cấp với mạng lới rộng khắp. Các NHTM bao gồm
NHTM quốc doanh, Ngân hàng t nhân, ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh.
Ngoài ra còn có mạng lới các quỹ tín dụng đợc tổ chức ở cấp xã, phờng. Thị trờng
liên ngân hàng ra đời làm tăng khả năng huy động vốn, tăng khả năng cạnh tranh
của các NHTM. Các NHTM phải tự chủ tài chính, phát triển các nghiệp vụ kinh
doanh và ngày càng có nhiều kinh nghiệm hoạt động và kinh doanh tiền tệ trong
nền kinh tế thị trờng. Bên cạnh đó các NHTM cũng đã phát hành một số loại kỳ
phiếu ngân hàng với các kỳ hạn và lãi suất khác nhau tức là đã tạo ra hàng hoá cho
thị trờng chứng khoán.
Cùng với các NHTM, hệ thống kho bạc nhà nớc cũng đã đợc củng cố về
mạng lới và nghiệp vụ. Những năm gần đây, kho bạc nhà nớc đã tiến hành phát
hành nhiều đợt tín phiếu kho bạc. Nhờ những kinh nghiệm thu đợc, kho bạc sẽ là
ngời phát hành một khối lợng lớn công trái - một bộ phận quan trọng trong thị truờng trái phiếu.
Cũng do đổi mới, nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
với sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các loại hình kinh doanh. Điều đó cho
phép giải phóng mọi năng lực sản xuất kinh doanh, huy động tối đa và có hiệu quả
nguồn lực cho công cuộc xây dựng đất nớc. Nhiều công ty cổ phần và liên doanh
đã ra đời với việc đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá DNNN. Điều này cho phép tạo
ra ngày càng nhiều hàng hoá cho TTCK ( cổ phiếu và trái phiếu công ty ).
Nh vậy , xuất phát từ kinh nghiệm của các nớc có nền kinh tế thị trờng phát
triển và nhu cầu thực tiễn ở nớc ta, việc hình thành TTCK không những thúc đẩy
là cơ quan quản lý Nhà nớc đối với các NHTM, NHNN có vai trò quan trọng đối
với sự ra đời của các công ty chứng khoán, thể hiện trớc hết ở việc ban hành các
điều kiện thành lập các công ty chứng khoán của NHTM. Điều kiện đầu tiên là số
vốn điều lệ tính đến ngày nộp hồ sơ xin phép thành lập công ty chứng khoán của
NHTM, với điều kiện này có rất nhiều NHTM trong tổng số >50 NHTM có đủ điều
kiện. Điều kiện thứ hai rất quan trọng là tỷ lệ nợ quá hạn trung bình phải dới 5%
tổng d nợ. Điều kiện thứ ba là tỷ lệ an toàn vốn đạt trên 5% hoặc lãi trớc thuế trên
vốn điều lệ từ 20% trở lên. Cho đến nay, UBCKNN đã chính thức cấp giấy phép
cho ba công ty chứng khoán thuộc NHTM trên tổng số sáu công ty đó là: Công ty
chứng khoán NHĐT&PT Việt Nam ( vốn điều lệ là 55 tỷ đồng ), đợc phép thực
hiện cả năm nghiệp vụ: Môi giới, t doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục
đầu t, t vấn đầu t. Công ty chứng khoán NHTM CP A Châu ( vốn điều lệ 43 tỷ
đồng), và NHTM cổ phần Quân đội thành lập công ty chứng khoán TNHH Thăng
Long có vốn điều lệ là 9 tỷ đồng, đợc thực hiện các loại hình: Môi giới, quản lý
danh mục đầu t, t vấn đầu t. Đồng thời, theo kế hoạch triển khai của UBCKNN, các
NHTM quốc doanh khác đợc phép thành lập các công ty chứng khoán trực thuộc ,
các NHTM cổ phần sẽ thành lập công ty chứng khoán nếu có đủ điều kiện. Nh vậy
tuy không phải là những công ty chứng khoán duy nhất, song các công ty chứng
khoán do NHTM thành lập là ngời tiên phong trên TTCK non trẻ của Việt Nam.
Điều này xuất phát từ nhiều u thế vợt trội của các NHTM so với các doanh nghiệp
15
khác về vốn, mạng lới chị nhánh và khách hàng, đội ngũ nhân viên đợc đào tạo quy
củ, trình độ quản trị điều hành, cơ sở vật chất kỹ thuật tơng đối đầy đủ, thanh toán
cập nhật...Trong thời gian tới, với những đổi mới vững chắc nh hiện nay sẽ có nhiều
NHTM tham gia vào TTCK.
Bên cạnh đó, các NHTM đã tích cực đào tạo đội ngũ nhân viên yêu nghề, giỏi
về nghiệp vụ chứng khoán, không ngừng nâng cấp mua sắm nhiều trang thiết bị
hiện đại sẵn sàng tham gia hoạt động trên TTCK.
kinh tế, những ngời tham gia tích cực, chủ yếu vào sự hình thành và phát triển
TTCK thì hầu nh mới tiếp cận TTCK về mặt lý thuyết chứ cha có kinh nghiệm
thực tiễn nên gặp rất nhiều khó khăn. Do đó yêu cầu đặt ra hiện nay là phải có kế
hoạch đào tạo, phổ biến kiến thức về TTCK cho dân chúngvà đặc biệt là nâng cao
trình độ các cán bộ, nhân viên tham gia trực tiếp vào hoạt động TTCK.
Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng tuy đã có những bớc tiến căn bản
nhng cha sẵn sàng tham gia vào TTCK. Các NHTM Việt Nam hiện nay hầu hết chỉ
thực hiện các nghiệp vụ truyền thống (chủ yếu là huy động vốn và cho vay) công
nghệ ngân hàng yếu kém, lạc hậu dịch vụ nghèo nàn. Đội ngũ cán bộ cha hoàn toàn
thích nghi với cơ chế thị trờng, cha có đủ năng lực và trình độ tham gia vào TTCK.
Sự yếu kém về kinh nghiệm và trình độ của hệ thống ngân hàng thể hiện rất rõ qua
các đợt phát hành trái phiếu của NHTM vừa qua. Hầu hết mới chỉ dừng lại ở mục
tiêu huy động vốn mà không tính tới khả năng kinh doanh của những ngời đầu t
ngay trong các đợt phát hành đó. Hơn nữa các NHTM cha có sự phối hợp cần thiết
trong việc làm đại lý phát hành cho nhau nên chi phí phát hành rất tốn kém. Với
thực trạng hiện nay, các NHTM cần phải đổi mới nhiều mới có thể tham gia vào
TTCK và phát huy vai trò tích cực của nó đối với TTCK.
Một khó khăn nữa đề cập ở đây là hàng hoá cho TTCK. Số lợng các công ty
cổ phần của ta còn quá ít. Thêm vào đó hiệu suất kinh doanh kém, hàng hoá kém
sức cạnh tranh nên ứ đọng nhiều. Tiến trình cổ phần hoá các DNNN diễn ra rất
chậm do nhận thức của công chúng, do nhận thức tâm lý của những ngời lãnh đạo
DNNN, do công tác đánh giá tài sản gặp nhiều khó khăn và sự vắng bóng của một
TTCK thực sự. Không những số lợng công ty ít ỏi mà việc bán cổ phiếu của công ty
cũng chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp cha rộng rãi cho toàn dân chúng. Khả năng lu
thông bán lại các cổ phiếu đó cha có. Thêm vào đó, chúng ta cha có phơng pháp
xác định chất lợng công ty nên sự hiểu biết khả năng cung cấp thông tin về các
công ty là hạn chế. Vì thế không tạo đợc cơ sở, sự tin tởng không hấp dẫn công
chúng mua bán cổ phiếu.
NHTM cổ phần. Đầu năm 1999, NHNN đã đệ trình chính phủ kế hoạch cơ cấu và
lành mạnh hệ thông NHTM cổ phần, trong đó xác định rõ 10 ngân hàng thuậc loại
yếu và không có khả năng trả nợ. Trên cơ sở đó, NHNN đã từng bớc tiến hành sắp
xếp mạng lới tổ chức của hệ thống này. Đến nay có 5 ngân hàng bị rút giấy phép
hoạt động, trong đó có một ngân hàng đợc mua lại và 2 ngân hàng đợc sát nhập với
các NHTM cổ phần khác.
Vấn đề con ngời trong các NHTM hiện nay cũng tồn tại nhiều bất cập Hầu hết
cán bộ nhân viên nghiên cứu đã đợc đào tạo nhng cha thể đáp ứng nhu cầu phát
triển ngày càng cao cuả hệ thống ngân hàng ngày càng hiện đại và cạnh tranh gay
gắt. Một số nguyên nhân đó là, công tác đào tạo, bồi dỡng bố trí cán bộ còn nhiều
thiếu sót nên khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thị trờng cha cao, trình độ
nghiệp vụ còn thấp, một bộ phận cán bộ và viên chức ngân hàng thoái hoá, biến
chất, chế độ chính sách nhà nớc...
Thêm vào đó trong một thời gian dài, công tác thanh tra kiểm tra, giám sát hoạt
động ngân hàng không đợc coi trọng đúng mức, chất lợng hiệu quả kém, thiếu
nghiêm minh trong xử lý các vụ vi phạm, điều này đã tạo kẽ hở dẫn đến những vụ
vi phạm nghiêm trọng làm ảnh hởng xấu đến hoạt động của các NHTM nói riêng
và hệ thống tài chính nói chung.
18
b. Hoạt động kinh doanh tiền tệ
Nhìn chung, năng lực điều hành kinh doanh trong cơ chế thị trờng của các
NHTM còn nhiều bất cập, nặng nề nghiệp vụ truyền thống, các nghiệp vụ mới
chậm đợc áp dụng nên số lợng ít ỏi và chất lợng cha cao.
Thêm vào đó là sự can thiệp hành chính còn nhiều vào các hoạt động kinh
doanh tiền tệ của các NHTM, mức độ độc quyền cao ( các NHTM quốc doanh luôn
chiếm trên 75% tỷ phần trong cả hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay.
Những điều này dẫn tới tình trạng hiệu quả kinh doanh kém và có xu hớng giảm
sút. Các chỉ tiêu về tỷ lệ nghiệp vụ và khả năng sinh lời của phần lớn các ngân hàng
nhân chính là do các NHTM yếu kém trong việc thu thập thông tin , phân loại đánh
giá lựa chọn khách hàng, công tác giám sát yếu kém, vi phạm nguyên tắc tín dụng.
Cụ thể: các NHTM tập trung cho vay đối với các doanh nghiệp nhà nớc( do có nhà
nớc bảo đảm). Điều này tởng nh an toàn nhng lại không an toàn vì trên thực tế có
hơn 60% doanh nghiệp nhà nuức làm ăn thua lỗ hoặc cầm chừng. Các NHTM cùng
cho vay ồ ạt, thiếu lựa chọn , giám sát đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Nhiều doanh nghiệp khu vực này sử dụng vốn sai mục đích nh buôn lậu trốn thuế...
hoặc đầu t không hiệu quả (chẳng hạn đầu t vào bất dộng sản...) dẫn tới thua lỗ
nặng nề mất khả năng thanh toán và quỵt nợ. Tỷ lệ nợ xấu ngày càng gia tăng nên
gây rất nhiều khó khăn cho các NHTM ( làm mất đi tính ổn định lành mạnh, hiệu
quả trong hoạt động của NHTM. Bên cạnh đó vẫn tồn tại khoảng cách lớn giữa vốn
trung và dài hạn (khoảng 20% tổng nguồn vốn) và tín dụng trung - dài hạn( 40% d
nợ tín dụng). Điều này đòi hỏi phát triển TTCK để đáp ứng nhu cầu vốn trung - dài
hạn cho nền kinh tế.
NHTM từng bớc đa dạng hoá và nâng cao chất lợng các hoạt động trung gian,
dịch vụ ngân hàng. Biểu hiện là các hình thức bảo lãnh , chuyển tiền thanh toán
không dùng tiền mặt đang đợc mở rộng dần và thực hiện một số dịch vụ trung gian
đang trong quá trình giải ngân, thu nợ.
Bảo lãnh của các NHTM đang trở thành dịch vụ phổ biến ở nớc ta. Doanh số
của các NHTM tăng lên hàng năm qua các loại nh bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực
hiện hợp đồng, bảo lãnh mở L/C trả chậm... Với chất lợc ngày càng cao. Dịch vụ
bảo lãnh vừa làm tăng khả năng tìm kiếm đầu t cho các doanh nghiệp vừa nâng cao
năng lực giám sát thực hện hợp đồng của NHTM, nâng cao uy tín của NHTM. Nhng vẫn còn một số tồn tại: thủ tục bảo lãnh cha thực sự thuận tiện, thiếu chi tiết,
hành lang pháp lý cho bảo lãnh cha đủ, quỹ bảo lãnh còn quá nhỏ bé.
Nghiệp vụ chuyển tiền đã đợc thực hiện từ khi còn là hệ thống ngân hàng một
cấp, nhng thời gian chuyển tiền rất chậm do cha đợc trang bị công nghệ hiện đại.
Hiện nay dịch vụ chuyển tiền ngày càng mở rộng với thời gian chuyển tiền ngày
một rút ngắn ( thờng là 2 ngày, cá biệt từ 3 dến 5 giờ) thu hút số lợng khách hàng
chính phủ, kỳ phiếu ngân hàng từ năm 1994.
Tuy nhiên, cho đến nay các NHTM Việt Nam vẫn cha có dịch vụ uỷ thác, dịch
vụ mua bán và quản lý hỗ trợ tài sản dịch vụ trung gian tài chính dới dạng t vấn,
cung cấp thông tin cho khách hàng.
Tóm lại, hoạt động của các NHTM nói riêng và cả hệ thống ngân hàng nói
chung từ khi đổi mới đã có nhiều cải tiến và đạt đợc những thành tựu nhất định góp
phần phát triển kinh tế xã hội. Song hệ thống ngân hàng vẫn cha đợc lành mạnh
vững chắc an toàn. Đặc biệt hoạt động của các NHTM còn nhiều bất cập. Nh thế
thì nó cha thể đáp ứng đợc nhu cầu đòi hỏi của công cuộc đổi mới đất nớc.
Nh vậy, vấn đề đặt ra là phải từng bớc thay đổi hệ thống NH, cải tiến các hoạt
động của nó để đáp ứng với sự phát triển của TTCK.
4. Một số yêu cầu đối với NHTM Việt Nam hiện nay
Với những u thế của mình trên TTCK, để hoạt động có hiệu quả, cần phải có
một số thay đổi trong hệ thống NHTM:
Thứ nhất, về cơ cấu tổ chức.
21
- Mỗi NHTM phải từng bớc hợp lý hoá cơ cấu tổ chức: đảm bảo tính độc lập
về chức năng của mỗi bộ phận đồng thời đảm bảo tính phối kết hợp đồng bộ nhịp
nhàng, tập trung quản lý.
-Đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng mọi mặt của
đội ngũ cán bộ viên chức ngân hàng, xem đây là một khâu then chốt trong tiến
trình đổi mới. Đặc biệt phải có một đội ngũ chuyên gia chứng khoán am hiểu sâu
về TTCK, một đội ngũ nhân viên tinh thông nghiệp vụ chứng khoán. Đi đôi với
nâng cao trình độ là nâng cao ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, lòng nhiệt
tình của đội ngũ cán bộ, sử dụng ngời hợp lý - phân công đúng ngời đúng việc, thởng phạt rõ ràng.
-Các NHTM cũng phải hết sức chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm
toán nội bộ, từng bớc hiện đại hoá, tin học hoá trong mọi hoạt động ( trang bị mạng
đồng thời phân tích tài chính của khách hàng để có biện pháp cụ thể: với trờng hợp
có thể tiếp tục kinh doanh thì duy trì quan hệ tín dụng để thu hồi vốn dần dần, với
trờng hợp không thể tiếp tục kinh doanh thì tiến hành thanh lý tài sản thế chấp còn
những trờng hợp trốn nợ, chây lỳ cần phối hợp với các cơ quan chức năng để thu
hồi nợ
+ Tiếp tục cung ứng vốn cho nền kinh tế, tích cực tìm các dự án khả thi,
có khả năng thu hồi vốn để cho vay với những sự trợ giúp nhất định và không phân
biệt thành phần kinh tế. Tuy nhiên để ngăn chặn, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro,
lệch lạc trong hoạt động tín dụng, các NHTM cần tăng khả năng phân tích, đánh
giá lựa chọn khách hàng, tăng khả năng thẩm định dự án đầu t, phân tích tài chính
để xây dựng hạn mức tín dụng, phân bổ tín dụng hợp lý, tăng cờng công tác kiểm
tra giám sát để đảm bảo an toàn vốn đầu t. Việc tăng cờng thâm nhập vào nền kinh
tế nh góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần với tỷ lệ đủ để
tham gia điều hành cũng là môt giải pháp không những tạo đầu ra cho nguồn vốn
của ngân hàng mà còn làm tăng khả năng phân tích tài chính các doanh nghiệp cho
NHTM. Đồng thờì các NHTM phải kiểm tra phát hiện và phối hợp với các cơ quan
chính quyền, cơ quan pháp luật xử lý có hiệu quả, kịp thời những trờng hợp khách
hàng sử dụng vốn sai mục đích, vi phạm pháp luật.
- Nâng cao chất lợng và đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng.
+ Cải tiến thủ tục bảo lãnh sao cho đơn giản nhng vẫn đảm bảo an toàn
và từng bớc đa dạng hoá hình thức bảo lãnh: ngoài các hoạt động bảo lãnh truyền
thống cần triển khai hoạt động bảo lãnh liên doanh, chứng khoán.
+ Phát triển và nâng cấp mạng thanh toán SWIFT và mạng thanh toán
thẻ. Trang thiết bị, xử lý công nghệ phục vụ cho thanh toán cần đợc đồng bộ và liên
hệ chặt chẽ giữa các NHTM với NHNN nhằm giúp cho việc thanh toán, chuyển
tiền nhanh hơn. Các NHTM cũng cần đơn giản hơn thủ tục phát hành séc, mở rộng
phạm vi thanh toán séc ra ngoài địa bàn tỉnh và các hệ thống ngân hàng bằng cách
mở tài khoản lẫn nhau để trực tiếp thanh toán bù trừ.
+ Tham gia t vấn, cung cấp thông tin về tài chính ngân hàng, đầu t,
công nghệ cho khách hàng
- Nhờ hiệu quả hoạt động kinh doanh tiền tệ, đặc biệt là huy động vốn
NHTM có thể có đợc nguồn vốn dồi dào, có đủ uy tín kinh nghiệm để thực hiện
nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán. NHTM cần phải phân tích đánh giá,
lựa chọn công ty để bảo lãnh và lựa chọn hình thức bảo lãnh cho phù hợp. Khi đó ,
NHTM có thể t vấn cho các công ty cách thức phát hành, thời điểm phát hành, hình
thức cổ phiếu, lợi suất cổ phiếu...NHTM cũng có thể thực hiện phân phối chứng
khoán, có thể mua lợng chứng khoán đầu tiên trên thị trờng.
- NHTM thực hiện bảo quản và quản lý, thanh toán các CK NHTM phải
kiểm tra toàn bộ nội dung, hình thức của từng loại CK đợc mang tới bảo quản, lựa
chọn phơng thức bảo quản phù hợp:
+ Bảo quản đặc biệt: tức là xếp các loại chứng khoán của một khách hàng
thành tập riêng
+ Bảo quản tập trung: tức là xếp chứng khoán của tất cả các khách hành
theo từng loại chứng khoán. Phơng thức này đơn giản hơn giảm đợc chi phí.
- Các NHTM quản lý chứng khoán thông qua việc thu lợi tức chứng khoán,
chuyển đổi sang loại chứng khoán khác hay thay mặt khách hàng tham dự đại hội
24
cổ đông khi khách hàng yêu cầu... NHTM đảm bảo an toàn, quyền lợi cho khách
hàng.
Để thúc đẩy sự hình thành và phát triển công ty chứng khoán của NH, các giải
pháp cần thực hiện là:
Thứ nhất, ổn định môi trờng kinh tế. Tăng trởng cao và ổn định, lạm phát ở
mức độ vừa phải, lãi suất phải ở mức để các doanh nghiệp tăng cờng đầu t, mục
đích để tạo điều kiện hình thành TTCK, tạo niềm tin cho ngời đầu t và đó cũng
chính là môi trờng thuận lợi thành lập công ty CK
Thứ hai , có những chính sách kinh tế vĩ mô tạo cung và cầu cho TTCK, tạo
thói quen đầu t CK không chỉ trong các doanh nghiệp mà cả công chúng. Đặc biệt,
cần thúc đẩy các doanh nghiệp trong danh sách cổ phần hoá, tránh tình trạng năm