TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ
----------- ----------
TIỂU LUẬN
LÍ LUẬN DẠY HỌC HIỆN ĐẠI
Đề tài
SỰ LO SỢ CỦA HỌC SINH
GVHD: PGS.TS. LÊ VĂN GIÁO
HVTH:Nguyễn Thị Kim Mai
Nguyễn Thanh Nga
NgyễnThị Thanh Hường
Đỗ Thị Thu Lộc
Lớp: LL &PPDH Vật lý- Khoá XVII
Huế, 2015
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................
NỘI DUNG................................................................................................................
1. Một số khái niệm..................................................................................................
1.1.Trạng thái tâm lý lo lắng...........................................................................
1.2.Trạng thái tâm lý lo sợ..............................................................................
1.3.Trạng thái tâm lý sợ hãi............................................................................
2. Các kiểu lo sợ........................................................................................................
3. Những nguyên nhân dẫn đến tâm lý lo lắng, lo sợ, sợ hãi.....................................
3.1. Nguyên nhân chủ quan..................................................................................
Trang4
NỘI DUNG
1. Một số khái niệm
Trạng thái tâm lí có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của học
sinh. Các trạng thái tâm lí như lo lắng, lo sợ, sợ hãi có những tác dụng khác nhau
đối với chất lượng học tập của các em. Vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên
cần thiết phải tìm hiểu về đặc điểm tâm lí này, nhằm có biện pháp hiệu quả hạn chế
ảnh hưởng tiêu cực và phát huy ảnh hưởng tích cực của chúng đến kết quả học tập
của học sinh.
1.1.Trạng thái tâm lý lo lắng
Theo từ điển Tiếng Việt thì lo lắng thể hiện khi con người “ở trong một
trạng thái rất không yên lòng và phải để hết tâm sức vào cho công việc”. Như vậy
lo lắng là sự bất an, không yên lòng muốn tìm cách giải quyết dẫn đến phản ứng
tích cực.
NHÓM 3
Trang5
1.2. Trạng thái tâm lý lo sợ
Xét về cấp độ nó ở mức độ cao hơn sự lo lắng. Về mặt tâm lý thì nó đã có sự
thay đổi về “chất”. Lo sợ đó là một trạng thái “lo lắng và có phần sợ hãi”. Xuất
hiện khi có sự đe doạ đến danh dự của bản thân, khi đó người mang tâm trạng này
vừa lo lắng, vừa sợ sệt dẫn đến phản ứng đối phó, tiêu cực.
1.3. Trạng thái tâm lý sợ hãi
Là một trạng thái tâm lý xuất hiện khi con người “ở trong trạng thái không
họp phụ huynh.
+ Sợ bạn bè chê mình học kém, sợ bạn
hỏi bài nhưng không trả lời được .....
+ Ngoài ra thì đối với người đồng bào
các em còn lo sợ về sự bất đồng ngôn
ngữ, sợ ba mẹ không cho đi học
AIDS, mại dâm, tình dục ....
+ Lo sợ có xích mích trong các mối
quan hệ bạn bè, quan hệ nam nữ, sợ bạn
bè nghĩ xấu về mình và không chơi với
mình...
+ Sợ thua bạn bè về mọi mặt như: ăn
mặc, tiền bạc.
+ Sợ mọi người biết gia cảnh của mình.
+ Sợ không có người yêu
+ Nỗi sợ hãi khi đi học vào mùa mưa lũ
đối với các em ở vùng cao vùng đồng
bào dân tộc ít người, những vùng hay bị
lũ lụt.
+ Lo sợ bị kỳ thị phân biệt sắc tộc, tôn
giáo, sợ không có tiền để đi học.
+ Sợ hãi bị kẻ gian lừa, bắt cóc
3. Những nguyên nhân dẫn đến tâm lý lo lắng, lo sợ, sợhãitrong quá trình dạy
học
Người ta nhận thấy rằng sự lo sợ xuất hiện do nhiều nguyên nhân khác nhau
nhưng trước hết và chủ yếu là do sự thiếu tự tin trước những đòi hỏi của thực tế.
Chẳng hạn trước những yêu cầu và đòi hỏi của cha mẹ, của thầy cô giáo, của nhà
trường.. mà bản thân các em không đáp ứng được các em thường sinh tâm lý lo sợ.
nhiều, học thêm, học hè...
Sự thay đổi trong gia đình (ly hôn, đau ốm, cái chết của một thành viên gia
đình, chuyển nhà...).
NHÓM 3
Trang8
Yêu đương lứa tuổi học sinh cũng dẫn đến hậu quả ảnh hưởng lớn đến học
tập
3.2.2.Nhà trường và giáo viên
Chương trình học quá nặng. Vì vậy các em cảm thấy đuối không theo kịp
chương trình. Cường độ học tập cao, khối lượng kiến thức cần phải học lớn. Nhiều
trường hợp học sinh bị căng thẳng kéo dài và những triệu chứng nôn ói khi tới
trường, đau bụng, mắc tiểu liên tục,…chính là “tiếng chuông báo động” rằng
chúng không thể chịu nổi cuộc sống này nữa. Nếu không được đưa đi khám bệnh,
giải tỏa tâm lý, những học sinh này sẽ có sự phát triển bất thường về mặt nhân cách
như nhu nhược, hiếu động, quậy phá, giao tiếp kém...
Bị bạo lực học đường, bị bắt nạt hay quấy rối. Gặp khó khăn trong mối quan hệ với
bạn bè và giáo viên. Nhiều giáo viên nhất là giáo viên có những cách cư xử quá
nghiêm khắc với học sinh làm cho học sinh cảm thấy sợ khi gặp thầy cô.Tình trạng
bạo lực trong trường học đã và đang diễn ra nóng bỏng trên khắp thế giới ở tất cả
những cấp học, lớp học khác nhau. Bạo lực học đường không chỉ xảy ra ở học sinh
nam mà còn cả ở học sinh nữ; không chỉ giữa học sinh với học sinh mà còn có bạo
lực giữa học sinh với giáo viên và giáo viên với học sinh.
Tại Việt Nam, số liệu được Bộ Giáo dục và đào tạo (GD- ĐT) đưa ra gần đây nhất,
trong một năm học, toàn quốc xảy ra gần 1.600 vụ việc học sinh đánh nhau ở trong
và ngoài trường học (khoảng 5 vụ/ngày). Cũng theo thống kê của Bộ GD-ĐT, cứ
khoảng trên 5.200 học sinh (HS) thì có một vụ đánh nhau; cứ hơn 11.000 HS thì có
một em bị buộc thôi học vì đánh nhau; cứ 9 trường thì có một trường có học sinh
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt lo lắng là một trạng thái tâm lý tích
cực, nó góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng công việc. Tuy nhiên, nếu lo
NHÓM 3
Trang10
lắng quá mức thì nhìn chung không tốt và khi đó nó sẽ chuyển sang trạng thái tâm
lý khác.
Trái lại, lo sợ và sợ hãi thì có các tác dụng tiêu cực sau:
+ Hạn chế hiệu quả và chất lượng công việc. Trong quá trình dạy học khi học
sinh có tâm lý lo sợ sẽ làm ảnh hưởng đến năng lực tiếp thu, năng lực nhận thức
của các em.
+ Ít sáng kiến và sự độc đáo
+ Sự lo sợ sẽ làm tê liệt năng lực thể hiện, năng lực sáng tạo, năng lực học tập của
học sinh, những học sinh hay lo sợ thường do dự và luôn bị ức chế. Thậm chí có
nhiều trường hợp bị rối loạn tâm lý.
+ Trạng thái hồi hộp, lo lắng, thiếu tự tin, bởi vì khi lo sợ thần kinh của trẻ
luôn ở trong trạng thái ức chế và do đó nhanh chóng dẫn đến tình trạng mệt mỏi,
làm cho năng lực tư duy sáng tạo và tính năng động trong quá trình học tập dần
dần bị tê liệt.
+ Học sinh rụt rè, thiếu năng động, thiếu sáng tạo, thiếu khả năng sáng tạo
trong khi xử lý các tình huống trong học tập và trong thực tế.
+ Luôn tìm cách đối phó, thụ động và luôn tìm cách lẩn tránh. Do đó, các em
không dám bộc lộ những hiểu biết, quan niệm, ý kiến của bản thân vì sợ thầy đánh
giá, bạn bè chê cười…
+Tuy nhiên tâm lý lo sợ trong những tình huống khó khăn cụ thể cũng có
những phản ứng kịp thời và đúng đắn giúp họ thực hiện tốt nhiệm vụ, thu được kết
quả như mong muốn. Lập luận này chỉ đúng với người có ý chí cao, trong trường
mật thiết với nhau.
- Tạo môi trường học tập tích cực. Xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích
cực”.
- Tạo không khí thoái mái trong các buổi học.
NHÓM 3
Trang12
- Giúp những học sinh nhút nhát kết bạn với những học sinh khác, khuyến khích
chúng tham gia câu lạc bộ hay các hoạt động ở trường.
- Kiềm chế bản thân, kiên trì, mềm mỏng.
- Thường xuyên trao đổi, gặp gỡ phụ huynh.
- Luôn công bằng trong khen thưởng và kỷ luật, tin tưởng vào học sinh, khen chê
đúng lúc đúng chỗ.
- Luôn gần gũi giúp đỡ các em đúng lúc, hãy trở thành người bạn, người anh,
người chị hoặc thậm chí có thể là cha, mẹ của chúng.
5.2.Đối với gia đình
Cần hiểu con cái nhiều hơn. Nói chuyện với trẻ về các tình huống chúng bị bắt nạt.
Thông báo cho giáo viên và cán bộ nhà trường về bất cứ sự quan tâm lo lắng nào.
Tạo không khí gia đình ấm cúng, hòa thuận, thương yêu đùm bọc lẫn nhau.
- Tạo môi trường học tập, lao động phù hợp.
- Quan tâm nhắc nhở, động viên kịp thời, đúng lúc.
- Không nên tạo áp lực về học tập và thi cử cho con cái.
- Động viên và khen thưởng kịp thời để động viên, khích lệ tinh thần.
- Khuyến khích con mình viết nhật ký về những lo lắng và suy nghĩ của mình. Tạo
điều kiện cho con mình phát triển năng lực riêng của mình như vẽ hoặc làm một
tác phẩm nghệ thuật nào đó. Hoặc những sở thích nhiều khi không giống ai cũng
được miễn là nó không ảnh hưởng đến việc học.
- Tìm kiếm nguồn trợ giúp thêm như: gia sư, trung tâm tư nhân…
Trang14
Trong quá trình dạy học nên đổi mới PP DH nhằm khơi dậy tính tích cực, chủ
động học tập, nghiên cứu của HS, giúp HS yêu thích các môn học.
Tập trung hơn nữa vào các dạng câu hỏi kiểm tra để cho học sinh làm quen
Giải thích và ôn tập lại những định nghĩa quan trọng trước khi thi
Giới hạn chương trình ôn thi
Cung cấp cho học sinh dàn ý đại cương rõ ràng hơn
Cung cấp nhiều câu hỏi trước kì thi và đưa cho học sinh những câu trả lời mẫu
Tìm hiểu, cập nhật những thông tin chính xác về đổi mới kì thi để hướng dẫn
học sinh ôn tập kịp thời.
Chia sẽ với học sinh bài học kinh nghiệm trong việc lập một thời gian biểu học
tập hợp lý, cách trình bày một bài thi viết, cách làm một bài thi trắc nghiệm, cách
kiểm soát thời gian khi làm bài, cách bình tĩnh,trấn an bản thân trước các tình
huống bất ngờ, và quan trọng hơn là gửi đến các em một thông điệp: "kết quả kì thi
kiến thức không phải là tất cả đối với cuộc sống của các em".
6.3. Kết luận
Sự lo sợ của học sinh trước các kỳ thi cần được nhìn nhận dưới góc độ tâm lý, bên
cạnh tiêu cực thì cũng có những ảnh hưởng tích cực đối với nỗi lo sợ của các em:
các em thấy rằng nó buộc các em phải nắm chắc môn học, cân bằng thời gian tốt
hơn, cẩn thận hơn và tập trung hơn. Tất nhiên có rất nhiều cách để giải thích vấn đề
phức tạp này, chẳng hạn như kiến thức trước của học sinh, sự nhanh nhạy và
thông minh của học sinh cũng ảnh hưởng tới sự thể hiện của các em.Và giáo viên
cần nhận thấy nhiệm vụ phải tìm hiểu thêm nữa về sự “lo sợ” này của học sinh.
NHÓM 3
Trang15